Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Năm, 4 tháng 5, 2017

Phá thai với lương tâm người mẹ


Với thông kê gần đây nhất, Việt Nam là 1 trong 3 nước có tỷ lệ nạo phá thai cao nhất thế giới, trong đó 20% là ở tuổi vị thành niên. Trong hơn 180.000 ca phá thai năm 2015 thì có hơn 5.500 ca là trẻ vị thành niên. 

Tuy nhiên, đây là những con số được thống kê từ hệ thống y tế công, chưa kể con số ở các cơ sở y tế tư nhân bởi nhiều người với tâm lý e ngại nên không dám đến các cơ sở y tế công để nạo hút thai mà lựa chọn các cơ sở y tế tư nhân. Vì thế, theo các chuyên gia, con số thực tế về nạo phá thai ở trẻ vị thành niên Việt Nam sẽ lớn hơn rất nhiều. Đây không còn là tệ nạn xã hội nữa nhưng là quốc nạn.

Mặc dù, các nhà chuyên môn đã đưa ra những hậu quả thực sự nghiêm trọng nhưng tình hình không hề suy giảm. Phá thai sẽ để lại nhiều hậu quả nặng nề về sức khỏe cũng như tâm lý, thậm chí có thể dẫn đến tử vong. Nhiều biến chứng nguy hiểm có thể gặp khi nạo phá thai như: nhiễm trùng, băng huyết, sót nhau, sót thai, rong kinh, sẹo ở tử cung, thủng tử cung, chửa ngoài dạ con, sẩy thai hoặc đẻ non, vô sinh, ám ảnh về tâm lý…Khi phá thai thành công chúng ta đã chính thức khép lại cánh cửa sự sống của một con người thật sự. Tội ác đó chính là thứ cắn rứt lương tâm của nhiều người. Có người không chịu nổi cú shock đã dẫn đến bệnh tâm thần, có người do những ám ảnh của các thủ thuật phá thai làm họ trở nên điên loạn… cho dù như thế nào những hậu quả về tâm lý luôn bám theo những người đã từng phá thai.

Có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng này: yếu tố ngoại tại (môi trường xã hội, học đường, gia đình…) và yếu tố nội tại (do chính đương sự). Trong bài viết này chúng ta chỉ đề cập đến yếu tố nội tại. Có thể nói, đây mới thực là yếu tố mang tính quyết định.

Truyện kể rằng: một thiếu phụ tay ẵm một thiếu nhi bước vào phòng mạch bác sĩ gia đình.

— Thưa bác sĩ, xin bác sĩ vui lòng giải quyết giúp khó khăn này: đứa nhỏ đây mới chưa đầy một tuổi, và tôi lại mang thai nữa rồi. Chắc bác sĩ cũng biết là tôi không muốn có con tuổi gần nhau như vậy. Tôi không đủ sức chịu đựng được.

— Thế thì bà muốn tôi giúp gì đây?

— Bất cứ điều gì có thể cất được cái của nợ này.

Sau một hồi suy nghĩ, người thầy thuốc trả lời:

— Tôi có một cách giải quyết tốt hơn để giúp bà. Nếu bà không chịu có hai đứa con sinh gần nhau như vậy, tốt nhất là giết đứa con bà đang ẵm trong tay, vì đối với tôi giết đứa trong bụng bà hay giết đứa trong tay bà thì cũng như nhau. Vả lại, nếu giết đứa trong bụng bà thì lại còn nguy hiểm cho bà nữa.

Vừa nói xong, vị bác sĩ đưa tay lên kệ dụng cụ, nắm một cây dao nhỏ, và bảo người thiếu phụ đặt đứa nhỏ lên vế bà, đưa đầu ra phía ông ta. Lúc đó người thiếu phụ tái xanh mặt, nhảy tung khỏi ghế và thét lên: “ĐỒ SÁT NHÂN!”

Chỉ với một vài lời nói, vị bác sĩ đã thuyết phục được người thiếu phụ trẻ hiểu ra rằng việc ông ta đề nghị giết đứa con một tuổi của bà thì cũng chẳng tệ hại hơn lời thỉnh cầu giết đứa bé chưa sinh trong bụng bà. Đàng nào cũng là GIẾT NGƯỜI. Chỉ có một khác biệt là tuổi của hai đứa bé mà thôi.

Có lẽ, lời nguyền rủa: “Đồ sát nhân” của người mẹ đáng thương kia, phải được vang lên nơi chính cõi lòng của bà. Lúc ấy, bà sẽ ngộ ra rằng mình đã có âm mưu giết người và người đó chính là con của mình. Bà có thể nhân danh vì ổn định kinh tế gia đình hay một đứa dễ nuôi dạy hơn…Dù bất cứ lý do nào, chúng ta phải khẳng định rằng phá thai là một vụ giết người tuyệt đối không lời phân giải. Thánh Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã lên án nặng nề rằng: “Trong tất cả tội ác mà con người có thể thực hiện chống lại sự sống, sự phá thai do cố ý gây ra biểu thị những đặc trưng làm cho nó đặc biệt nghiêm trọng và đáng kết tội. Công đồng Vatican II đã định nghĩa nó như “một tội ác ghê tởm” (Tin Mừng Sự Sống số 53). Nó là một tội ác ghê tởm không chỉ do việc người giết người, hay hơn nữa, là mẹ giết con, mà là cái chết của chính người mẹ như thánh Têrêsa thành Calcutta đã nói: có hai cái chết trong một vụ phá thai: cái chết của thai nhi và cái chết của lương tâm người mẹ. Ý thức tầm quan trọng của vấn đề này, chúng ta cần xác tín lại giá trị của sự sống theo lập trường của Giáo Hội.

Vị Giáo Hoàng vĩ đại này đã khẳng định trong thông điệp Tin Mừng Sự Sống, số 53 rằng: “Sự sống của con người là thánh thiêng bởi vì ngay từ nguồn gốc, nó bao hàm ‘hành động sáng tạo của Thiên Chúa’ và mãi mãi nằm trong một mối quan hệ đặc biệt với Đấng Tạo Hoá… Duy chỉ Thiên Chúa là Chủ sự sống từ khi nó bắt đầu cho đến lúc nó kết thúc: không ai, trong bất cứ trường hợp nào, có thể đòi cho mình quyền trực tiếp huỷ diệt một con người vô tội”. Quả thật, vì tính thánh thiêng của sự sống, chúng ta không có quyền định đoạt về sự sống còn của người khác, đương nhiên bao gồm cả các thai nhi (theo cách nói của vị Giáo Hoàng này, nó liên quan đến tính bất khả xâm phạm của sự sống); đến ngay chính sự sống bản thân, con người cũng chỉ là người quản lý, nghĩa là duy trì và phát triển sự sống chứ không được tự sát.

Cũng liên quan đến ‘hành động sáng tạo của Thiên Chúa’ như tiền đề nêu trên, chúng ta có thể rút ra một kinh nghiệm thực tiễn trong phạm vi gia đình, người cha và người mẹ được kêu gọi hợp tác để truyền sinh. Đó là cách thức con người sống vai trò đồng sáng tạo với Thiên Chúa. Một khi qui tắc này không được tôn trọng, phẩm giá của con người sẽ bị xúc phạm và tổn thương. Đó là hệ quả của phong trào sống thử mà phần lớn giới trẻ ngày nay chạy theo. Thật vậy, họ nghĩ rằng khi yêu nhau thật sự thì không còn khoảng cách và sự trao dâng trong đời sống tình dục là cách thể hiện tình yêu cụ thể nhất. Nhưng lập trường của Giáo Hội nhìn nhận rằng: tình dục ngoài hôn nhân là một thứ tội.

Ngoài ra, việc phá thai bị coi là cuộc phá bỏ hình ảnh Thiên Chúa nơi người nữ. Quả thật, như việc Đức Phanxicô đã phát biểu trong buổi nói chuyện với các nhà phụ khoa Công giáo ngày 20/9/2013: “Một đứa trẻ không được sinh ra, nhưng bị kết án phá thai một cách bất công, đều mang khuôn mặt của Chúa, là Đấng đã cảm nghiệm bị thế gian từ khước ngay cả trước khi sinh ra cũng như khi mới sinh ra”. Hơn nữa, một khi loại bỏ bào thai cũng là hình ảnh của Thiên Chúa, cách nào đó họ đã khước từ chính Thiên Chúa hiện diện trong cuộc đời của họ. Có thể nói, chính khi xác định lại giá trị của sự sống trong tương quan với Thiên Chúa, chủ tể sự sống mà con người giảm đi phần nào những việc làm gây tội ác khiến vương hại đến lương tâm và nguy hại đến linh hồn.

Tóm lại, khi đối diện với quốc nạn này, mỗi người chúng ta không thể tránh phần trách nhiệm. Nếu là người nữ, họ phải đối diện với mọi áp lực từ trong ra ngoài và những xác tín về giá trị của sự sống, trong lúc giằng co nội tâm, họ cần một lời động viên, một bàn tay nâng đỡ…không ai được dửng dưng khi đứng trước nền văn hóa sự chết này. Mỗi người cần khởi đi từ việc giáo dục lương tâm trong ánh sáng đức tin để tâm hồn chúng ta mỗi ngày nhạy bén hơn với những dấu chỉ thời đại mà đề ra những giải pháp tức thời và dài hạn giúp mỗi người khao khát xây dựng nền văn minh tình thương. Trong đó, những thai nhi đã bị loại bỏ ra khỏi lòng mẹ được một nơi an táng xứng đáng với một nhân phẩm và hình ảnh của Thiên Chúa, và những người mẹ đang mang thai được tạo mọi điều kiện thuận lợi khả dĩ giúp các bé chào đời trong vòng tay yêu thương của người thân và mọi người.

EYMARD An Mai Đỗ O.Cist.

(Bài viết được tác giả gửi đến dongten.net)
Nguồn: http://dongten.net/noidung/68959

Một đôi vợ chồng nhận nuôi 6 anh chị em để các em được ở với nhau


Chăm sóc 5 đứa con cũng đã chiếm hết thời gian, nhưng nuôi thêm 6 đứa con nuôi thì đòi hỏi phải làm việc nhiều hơn, nhưng cũng hy vọng có nhiều tình yêu thương hơn. Dù sao, nó cũng cần lòng can đảm và đó là điều mà đôi vợ chồng Christopher và Christina Sanders ở Ohio đã làm.

Ông bà Christopher và Christina biết thế nào là niềm vui của một gia đình: sự liên kết với nhau khi chia sẻ những kinh nghiệm và những mục đích của gia đình và tình yêu thương dành cho nhau. Do đó, ông bà đã quyết định nhận 6 anh em một nhà làm con nuôi, để các em được ở bên nhau và không bị đau buồn khi phải xa cách nhau.

Năm 2014, ông bà nhận nuôi: Caleb, Coby, Christian, Caylee, Carson và Chloe. Nhìn vào bức ảnh gia đình, niềm vui và tình yêu hiện rõ trên khuôn mặt của họ.

Cậu bé Christian 14 tuổi cám ơn cha mẹ “mới” đã thay đổi cuộc đời của cậu. Caleb, 13 tuổi thì nói: “Tôi sẽ không biết tôi ở đâu bây giờ nếu như không gặp gia đình ông bà Sanders. Trước đây chúng tôi đã có một cuộc sống khó khăn.” Caylee, 12 tuổi nói thêm: “Tôi vui mừng rằng tôi ở đây vì mọi sự thật tuyệt vời.”

Caitlin, cô con gái ruột của ông bà Sanders nói về sự gắn kêt với cô em Chloe: “Em là người em ngọt ngào nhất và tôi yêu em rất nhiều.”.

Ông Christopher nói: “Chúng tôi tất cả đều như nhau trước mặt Chúa, vì vậy màu da của bất cứ ai không bao giờ có ảnh hưởng gì đến điều này.” (Aleteia 03/05/2017)

Hồng Thủy
Nguồn: http://vi.radiovaticana.va/news/2017/05/03/m%E1%BB%99t_%C4%91%C3%B4i_v%E1%BB%A3_ch%E1%BB%93ng_nh%E1%BA%ADn_nu%C3%B4i_6_anh_ch%E1%BB%8B_em_%C4%91%E1%BB%83_c%C3%A1c_em_%C4%91%C6%B0%E1%BB%A3c_%E1%BB%9F_v%E1%BB%9Bi_nhau/1309746

Giáo họ Nà Cáp Lạng Sơn mừng kính Thánh Giuse Công nhân quan thầy


Vào hồi 10 giờ sáng thứ Hai, ngày 01 tháng 5 năm 2017, Giáo họ Nà Cáp thuộc Giáo xứ Thanh Sơn (Giáo hạt Cao Bằng) đã long trọng cử hành Thánh lễ mừng kính Thánh Giu-se Công Nhân là quan thầy của Giáo họ.


Khuôn viên nhà nguyện tạm của Giáo họ Nà Cáp hôm nay có sự hiện diện của đông đảo mọi thành phần Dân Chúa, quý Hội đồng mục vụ các xứ họ trong Giáo phận, quý tu sỹ nam nữ, chủng sinh, ứng sinh và quý khách. Đại diện chính quyền các cấp của Tỉnh, Thành phố Cao Bằng và phường, khối sở tại cũng tới chúc mừng Giáo họ và tham dự Thánh lễ.

Giáo họ Nà Cáp đến nay có trên 500 nhân danh với gần 100 hộ gia đình Công Giáo, đa phần anh chị em giáo dân từ miền xuôi lên lập nghiệp. Bà con đã quy tụ thành cộng đoàn từ nhiều năm nay, cùng nâng đỡ nhau trong đời sống đức tin và giúp nhau trong công việc thường nhật của cuộc sống mưu sinh. Bà con giáo dân đã vượt qua đường đất xa xôi, đến định cư nơi vùng núi Cao Bằng này như một miền đất hứa. Công việc chính của anh chị em Nà Cáp hôm nay có thể nói chính là biến những mảnh đất khô cằn thành những vười rau xanh tươi, cung cấp rau, củ, quả cho miền Cao Bằng. Bà con cũng rất nhiệt tình trong các công việc của giáo xứ, hiệp thông chặt chẽ trong các sinh hoạt của giáo xứ. 

Vào ngày 21 tháng 12 năm 2015, Đức Cha Giu-se Đặng Đức Ngân khi đó đang là Giám mục Giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng, đã chính thức cử hành Thánh lễ tạ ơn và công bố thiết lập Giáo họ Nà Cáp, trực thuộc Giáo xứ Thanh Sơn. Đây là niềm vui lớn lao cho toàn thể bà con. Giờ đây, bà con trong Giáo họ tiếp tục hướng tới việc xây dựng ngôi thánh đường làm trái tim đức tin và nơi sinh hoạt chung.

Thánh lễ quan thầy của Giáo họ Nà Cáp năm nay được cử hành do Cha Tổng Đại diện Giuse Trần Đức Hạnh, cũng là cha xứ Thanh Sơn, chủ sự. Đồng tế với ngài có 12 cha trong Giáo phận, cha Gioan Lê Quang Vinh (SDB) từ Giáo xứ Ngạn Sơn đã chia sẻ Tin mừng trong Thánh lễ.

Cộng đoàn cũng lắng nghe thư chúc mừng lễ quan thầy Giáo họ Nà Cáp của Đức Cha Giuse Châu Ngọc Tri – Giám mục Giáo phận Lạng Sơn Cao Bằng. Vì bận công tác mục vụ của Ủy ban Gia đình thuộc HĐGM.Việt Nam, ngài không thể hiện diện và chủ sự Thánh lễ hôm nay, nhưng ngài bày tỏ sự gần gũi mục tử thân tình và lời chúc mừng tới toàn thể Giáo họ. Ngài cũng động viên bà con trong họ tiếp tục noi gương thánh Giuse, sống xứng đáng với ơn Chúa, cộng tác xây dựng Giáo Hội và cầu chúc Giáo họ sớm có được ngôi thánh đường.

Trước Thánh lễ, cộng đoàn cùng tiến hoa kính Đức Mẹ, trong tâm tình của ngày khai mạc tháng Hoa. Đội hoa của Gia trưởng, Hiền mẫu trong giáo xứ Thanh Sơn và giáo họ Nà Cáp đã dâng lên Đức Mẹ những bản hoa thật sốt sắng, ý nghĩa và đầy mầu sắc, cùng những lời ca hát lên thật tâm tình.

Sau đó, cuộc cung nghinh Đức Mẹ và Thánh Giuse được cử hành trọng thể với sự tham dự của toàn thể quý Cha, quý tu sỹ và cộng đoàn.

Thánh lễ được cử hành trong bầu khí Phụng vụ trang trọng và sốt sắng. Cha Tổng Đại diện chủ sự mời gọi toàn thể Cộng đoàn hiệp ý ca mừng ân sủng của Thiên Chúa được thể hiện nơi cuộc đời đầy gương mẫu của Thánh cả Giuse. Ngài cùng cộng đoàn hiện diện hân hoan chúc mừng Giáo họ Nà Cáp trong ngày lễ quan thầy hôm nay. 

Tâm tình của ngày lễ được tiếp tục nhấn mạnh trong bài chia sẻ của cha Gioan. Ngài quảng diễn với cộng đoàn về những mầu nhiệm và ân sủng mà Thiên Chúa đã thực hiện nơi cuộc đời thánh Giuse, nhất là gương mẫu đời sống cần lao của ngài. Ngài mời gọi cộng đoàn, nhất là dân họ Nà Cáp hãy chiêm ngắm và noi theo mẫu gương Thánh Cả để không ngừng thăng tiến đời sống đức tin, vững niềm cậy trông vào Chúa, mau mắn thực hiện thánh ý Chúa và cộng tác với Chúa để xây dựng thế giới, xây dựng gia đình và Giáo Hội.

Thánh lễ kết thúc lúc 11 giờ sau lời cảm ơn của đại diện Giáo họ và phép lành của cha chủ sự. Cộng đoàn hiện diện cùng chia sẻ niềm vui ngày lễ quan thầy với Giáo họ Nà Cáp trong bữa ăn thân mật.

BTT.GPLSCB
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/222329.htm

Giáo phận Hưng Hóa nỗ lực phục vụ người H’mông vùng sâu xa

Giáo phận Hưng Hóa nỗ lực phục vụ người H’mông vùng sâu xa thumbnail

Người Công giáo H’mông tại các bản miền núi xa xôi ở tây bắc Việt Nam hiếm khi có linh mục tới thăm và dâng Thánh lễ cho họ. Nhưng mới đây, họ ngạc nhiên vì không chỉ có hai linh mục mà còn có cả giám mục tới thăm họ.

Đức giám mục phụ tá Anphong Nguyễn Hữu Long của giáo phận Hưng Hóa và hai linh mục đã đến đó dâng các Thánh lễ Phục sinh cho người Công giáo H’mông tại bảy bản làng trong huyện Phù Yên của tỉnh Sơn La.

Tại mỗi nơi, các ngài giải tội, rửa tội cho nhiều người. Dân chúng đứng hoặc ngồi dự lễ trong nhà hoặc những chỗ đất trống.

Các ngài còn tặng tràng chuỗi, thuốc men và bánh mì cho họ ăn lấy sức mà về nhà trong khi trẻ em được nhận bong bóng và kẹo.

Huyện này có khoảng 1.000 người H’mông theo Công giáo, hầu hết đến đây lập nghiệp từ các tỉnh xung quanh từ nhiều thập niên trước. Họ sống tại các ngôi làng xa xôi thiếu điện đường trường trạm.

Chuyến thăm mục vụ này là chuyến thứ ba mà Đức cha Long thự hiện tới vùng này từ tháng Tám năm ngoái. Trong các chuyến thăm trước, ngài bị nhà chức trách cản trở dâng lễ ở đó.

“Ứu tiên hàng đầu của chúng tôi là truyền giáo cho các nhóm dân tộc thiểu số, nhất là người H’mông. Họ bị thiệt thòi quá nhiều do năm bảy chục năm không được hưởng sự chăm sóc mục vụ, vì thế phải ‘đền bù’ nhiều cho họ”, Đức cha Long cho biết.

Giáo phận Hưng Hóa gồm chín tỉnh và một phần Hà Nội và là giáo phận lớn nhất Việt Nam về mặt diện tích. Trong địa bàn giáo phận có hơn 30 dân tộc chung sống mà chỉ mới có một ít người H’mông, Mường, Thái, Dao, Tày được biết Chúa. Có gần 20.000 tín hữu H’mông sống trong các vùng núi xa xôi của giáo phận.

Vị giám chức cho biết các thừa sai hải ngoại đã truyền đạo Công giáo cho người H’mông ở Sa Pa vào những năm 1850 và lập giáo xứ Sa Pa năm 1902. Do lối sống du canh du cư, các tín hữu H’mông đã đến sinh sống và lập nên nhiều giáo điểm tại các nơi khác.

Từ khi Cha Idiart Alhor Jean, nhà thừa sai hải ngoại cuối cùng ở Sa Pa, bị cộng sản giết ngày 18-5-1948, người H’mông phải tản cư tránh chiến tranh. Họ đến những nơi mới không có nhà thờ, linh mục chăm sóc, và tự giữ đạo, dạy giáo lý, rửa tội cho nhau cho đến khi giáo xứ Sa Pa được tái lập năm 1995.

Đức cha Long, người thường xuyên thăm mục vụ các cộng đồng Công giáo ở vùng sâu xa, cho biết giáo phận cố gắng hỗ trợ họ bằng cách đối thoại với chính quyền để công nhận họ, gửi linh mục, tu sĩ tới và xây dựng các nơi thờ tự và cơ sở mục vụ.

Đức cha Long, được tấn phong giám mục năm 2013, nói rằng chính quyền đã công nhận một số cộng đoàn Công giáo kể cả các cộng đoàn người H’mông tại các tỉnh mà trước đây bị xem là trắng tôn giáo. “Năm 2015, chính quyền Lai Châu mới công nhận một giáo điểm. Năm 2016, chính quyền Điện Biên cho thành lập giáo xứ Điện Biên” – Đức cha Long nói và thêm rằng cả hai tỉnh có gần 5.000 tín hữu.

Ngài cho biết chính quyền Sơn La đến nay vẫn chưa công nhận các cộng đoàn Công giáo trong tỉnh với khoảng 6.000 tín hữu.

Tuy nhiên, ngài nói, tại mỗi tỉnh đều có nhiều cộng đoàn sinh hoạt không chính thức, và hai cha được gửi đến cho mỗi tỉnh để làm mục vụ cho bà con Công giáo Kinh và H’mông.

Cha Giuse Nguyễn Trọng Dưỡng, trưởng hạt Nghĩa Lộ, cho biết nhờ sự can thiệp của Đức cha Long với chính quyền mà quyền tự do tôn giáo được cải thiện chút ít tại các vùng sâu xa. “Có sáu linh mục đã được bổ nhiệm tới các bản người H’mông vùng sâu xa trong giáo hạt trong hai năm qua. Chúng tôi sẽ gửi thêm hai linh mục nữa đến cho họ trong thời gian tới” – ngài nói.

Cha Dưỡng cho biết ngài đã thăm được các cộng đồng H’mông ở huyện Mù Căng Chải của tỉnh Yên Bái sau khi Đức cha Long tới thăm họ lần đầu tháng Tám năm ngoái. Chính quyền địa phương cản trở giáo dân thực hành đạo, đe dọa đuổi việc họ, lấy lại ruộng đất hoặc cắt trợ cấp xã hội.

Cha Dưỡng cho biết các linh mục xây sửa các nhà thờ, tặng chuông, ảnh tượng và sách Công giáo cho các xứ đạo và xây các con đường nối các bản với nhà thờ.

Giáo phận với 116 giáo xứ và 600 giáo họ và giáo điểm đã xây sửa hàng chục nhà thờ, nhà nguyện, nhà xứ và các cơ sở khác mỗi năm. Các cơ sở cũ đã xuống cấp và nhiều nơi không có nhà thờ.

Cha Giuse Vũ Quốc Hội, phục vụ giáo xứ Giàng La Pán có 2,200 giáo dân H’mông từ năm 2014, cho biết ngài có thể cử hành phụng vụ bằng tiếng H’mông và hội nhập vào đời sống của bản làng.

Cha Hội, cha xứ đầu tiên, cho biết hầu hết giáo dân sống trong nghèo khổ, mù chữ và có từ 5-14 đứa con mỗi gia đình. Ngài cố gắng củng cố đức tin cho họ, dạy chữ và giúp họ từ bỏ những hủ tục như tảo hôn.

Ông Giuse Hờ A Trang, thành viên hội đồng giáo xứ, cho biết “Bà con vui mừng lắm vì hàng ngày có thánh lễ ở nhà thờ. Trẻ em được học giáo lý, người trẻ bước vào hôn nhân được học giáo lý. Chúa thương chúng tôi nhiều lắm”.

Ông Trang cho biết trước đây các linh mục đến thăm họ vào dịp lễ Giáng sinh và Phục sinh. Tuy nhiên, thời gian còn lại trong năm thì các cặp hôn nhân không có lễ cưới trong nhà thờ và người già, bệnh sắp chết không được xức dầu, lễ an táng.

Trong các chuyến thăm cộng đồng H’mông ờ tỉnh Yên Bái hồi tháng Hai, Đức cha Long khuyến khích họ ở nhà siêng năng cầu nguyện cho công cuộc truyền giáo vì “Thiên Chúa yêu thương các con nhiều như những người khác”.

Ngài cho biết giải quyết chuyện thiếu linh mục là vấn đề đối với giáo phận chỉ có 114 linh mục phục vụ 240.000 tín hữu. Trung bình mỗi linh mục chăm sóc mục vụ cho 2.000-3.000 tín hữu trong địa bàn của vài huyện.

“Để có thể đáp ứng nhu cầu mục vụ cấp bách trước mắt, chúng tôi kêu gọi các giáo phận hỗ trợ bằng cách cho mượn vài linh mục mỗi giáo phận. Nhưng đến nay chỉ mới được một linh mục đến làm việc” – ngài nói.

Nguồn: http://vietnam.ucanews.com/2017/05/03/giao-phan-hung-hoa-no-luc-phuc-vu-nguoi-hmong-vung-sau-xa/

Thứ Ba, 2 tháng 5, 2017

Diễn từ của Đức Phanxicô với Thượng Phụ Chính Thống Coptic, Giáo Hoàng Tawadros II


Buổi chiều ngày 28 tháng Tư, trong chuyến viếng thăm Ai Cập của ngài, Đức Phanxicô đã hội kiến với Thượng Phụ Tawadros II của Tòa Thượng Phụ Chính Thống Coptic, người mà ngài từng tiếp kiến ngay sau khi lên ngôi giáo hoàng năm 2013. Nhân dịp này, ngài đã đọc một diễn từ và sau đây là bản dịch nguyên văn bài diễn từ của ngài, dựa vào bản tiếng Anh của Tòa Thánh:

"Chúa đã sống lại, Người thật sự đã sống lại! [Al Massih kam, bilhakika kam!]" 

Thưa Đức Thượng Phụ,

Người anh em thân mến,

Đại lễ Phục Sinh long trọng, trung tâm của đời sống Kitô hữu, mà năm nay chúng ta được diễm phúc cử hành trong cùng một ngày, vừa mới chỉ qua đi. Do đó, chúng ta đã cùng nhau loan báo sứ điệp Phục sinh và, theo một nghĩa nào đó, đã làm sống lại kinh nghiệm của các môn đệ đầu tiên, những người đã cùng nhau "vui mừng khi thấy Chúa" ngày đó (Ga 20:20). Ngày nay, niềm vui vượt qua này càng trở nên quý giá hơn nhờ hồng ân chúng ta được cùng nhau thờ phượng Đấng Phục Sinh trong cầu nguyện và trao đổi một lần nữa, nhân danh Người, nụ hôn và vòng ôm bình an thánh thiện. Vì điều này, tôi rất biết ơn: khi đến đây như một người hành hương, tôi chắc chắn nhận được sự chúc phúc của một người anh em đang chờ đợi tôi. Tôi háo hức chờ mong cuộc gặp mặt mới mẻ này, vì tôi nhớ lại một cách sống động chuyến viếng thăm mà Đức Thượng Phụ thực hiện tại Rôma không lâu sau cuộc bầu cử của tôi, vào ngày 10 tháng 5 năm 2013. Ngày đó đã hạnh phúc trở thành một dịp để cử hành Ngày Hữu Nghị hàng năm giữa người Copts và người Công Giáo.

Khi chúng ta vui mừng tiến bước trên cuộc hành trình đại kết của chúng ta, tôi muốn đặc biệt nhớ lại cột mốc quan trọng trong mối liên hệ giữa Tòa Phêrô và Tòa Máccô là Tuyên ngôn chung mà những vị tiền nhiệm của chúng ta đã ký hơn 40 năm trước, vào ngày 10 tháng 5 năm 1973. Sau "nhiều thế kỷ của một lịch sử khó khăn" được đánh dấu bởi sự gia tăng "các khác biệt thần học, được nuôi dưỡng và mở rộng bởi các nhân tố phi thần học", và sự mất tin tưởng nhau ngày càng gia tăng, ngày hôm đó, với sự trợ giúp của Chúa, chúng ta đã có thể cùng nhau nhìn nhận rằng Chúa Kitô là "Thiên Chúa hoàn toàn về phương diện thần tính của Người và hoàn toàn về phương diện nhân tính của Người "(Tuyên bố chung của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI và Đức Giáo Hoàng Shenouda III, 10/5/1973). Tuy nhiên, cũng quan trọng và kịp thời không kém là những lời ngay trước tuyên bố này, trong đó, chúng ta nhìn nhận Chúa Giêsu Ky Tô là "Chúa, là Thiên Chúa, là Cứu Chúa và là Vua của chúng ta". Với những lời này, Tòa Máccô và Tòa Phêrô đã tuyên bố quyền chúa tể của Chúa Giêsu: chúng ta cùng nhau tuyên xưng rằng chúng ta thuộc về Chúa Giêsu và Người là của chúng ta tất cả.

Hơn nữa, chúng ta nhận ra rằng, vì chúng ta thuộc về Người, chúng ta không thể còn nghĩ rằng mỗi người có thể đi theo con đường riêng của mình, vì điều này sẽ phản bội thánh ý của Người là các môn đồ của Người "tất cả nên một. .. để thế giới có thể tin" (Ga 17: 21). Trước mặt Thiên Chúa, Đấng muốn chúng ta trở nên "một hoàn toàn" (câu 23), chúng ta không còn có thể núp đằng sau, viện cớ các diễn giải khác nhau, càng không phải là lịch sử và truyền thống hàng thế kỷ vốn làm chúng ta ra xa cách lẫn nhau. Theo các lời lẽ của Đức Gioan Phaolô II, "không nên để mất thời gian về vấn đề này! Sự hiệp thông của chúng ta trong một Chúa Giêsu Kitô duy nhất, trong một Chúa Thánh Thần duy nhất và trong một phép rửa duy nhất đã nói lên một thực tế sâu sắc và nền tảng "(Diễn Văn tại Cuộc Gặp Gỡ Đại Kết, 25 tháng 2 năm 2000).

Do đó, không những có một đại kết bằng cử chỉ, lời nói và dấn thân, mà còn có sự hiệp thông hữu hiệu phát triển hàng ngày trong mối liên hệ sống động với Chúa Giêsu, bắt nguồn từ đức tin mà chúng ta tuyên xưng và thực sự đặt căn bản trên phép rửa của chúng ta và việc chúng ta được biến thành "Sáng thế mới" (xem 2Cr 5:17) ở trong Người. Tóm một lời, có “một Chúa duy nhất, một đức tin duy nhất, một phép rửa duy nhất"(Êphêsô 4: 5). Do đó, chúng ta không ngừng lên đường một lần nữa, để đẩy nhanh cái ngày từng chờ đợi từ lâu này khi chúng ta sẽ được hiệp thông trọn vẹn và hữu hình chung quanh bàn thờ của Chúa.

Trong cuộc hành trình hào hứng này, một cuộc hành trình, giống như chính cuộc sống, không luôn luôn dễ dàng và thẳng tuột, nhưng trên đó Chúa khuyên chúng ta kiên trì, chúng ta không cô đơn. Chúng ta được đồng hành cùng muôn vàn các thánh và các vị tử đạo, những vị nhờ đã hoàn toàn là một, đang thúc đẩy chúng ta dưới đây trở thành hình ảnh sống động của "Giêrusalem trên trời" (Gl 4:26). Trong số các vị, chắc chắn Thánh Phêrô và Thánh Máccô đặc biệt vui mừng khi chúng ta gặp nhau hôm nay. Tuyệt vời thay là dây nối kết các vị. Chúng ta chỉ cần nghĩ tới sự kiện Thánh Máccô đặt ở giữa Sách Tin Mừng của ngài lời tuyên xưng đức tin của Thánh Phêrô "Thầy là Đấng Kitô". Đó là câu trả lời cho câu hỏi cấp bách hơn bao giờ hết của Chúa Giêsu: "Nhưng các con nói Thầy là ai?" (Mc 8:29). Cả ngày nay nữa, nhiều người không thể trả lời được câu hỏi này; thậm chí rất ít người có thể nêu nó ra, và nhất là, rất ít người có thể trả lời nó với niềm vui được biết Chúa Giêsu, với cùng niềm vui này chúng ta được ân sủng cùng nhau tuyên xưng Người.

Cùng nhau, chúng ta được mời gọi làm chứng cho Người, mang đức tin của chúng ta đến với thế giới, nhất là trong cách nó được dự tính mang đi: bằng cách sống nó, để sự hiện diện của Chúa Giêsu có thể được truyền đạt bằng cuộc sống và nói thứ ngôn ngữ của tình yêu nhưng không và cụ thể. Là những người Chính Thống Coptic và Công Giáo, chúng ta luôn có thể cùng tham dự vào việc nói thứ ngôn ngữ chung này của đức ái: trước khi đảm nhiệm một công việc bác ái nào, tốt nhất chúng ta nên tự hỏi xem liệu chúng ta có thể làm việc này cùng với các anh chị em của chúng ta đang chia sẻ đức tin của chúng ta vào Chúa Giêsu hay không. Như vậy, bằng cách xây dựng sự hiệp thông trong tính cụ thể của việc làm chứng tá sống hàng ngày, Thánh Thần chắc chắn sẽ mở ra các con đường đầy quan phòng và bất ngờ dẫn tới sự hợp nhất.

Chính với tinh thần tông truyền có tính xây dựng này mà Đức Thượng Phụ tiếp tục cho thấy sự lưu tâm chân chính và huynh đệ đối với Giáo Hội Công Giáo Coptic. Tôi rất biết ơn về sự gần gũi này, một sự gần gũi đã tìm được biểu thức đáng khen nơi Hội Đồng Toàn Quốc Các Giáo Hội Kitô Giáo, mà ngài đã thiết lập để các người tin vào Chúa Giêsu có thể làm việc với nhau một cách chặt chẽ hơn nữa vì lợi ích của toàn thể xã hội Ai Cập. Tôi cũng đánh giá cao lòng hiếu khách hào phóng dành cho cuộc họp thứ mười ba của Ủy ban Liên Hợp Thần Học Quốc Tế giữa Giáo Hội Công Giáo và các Giáo Hội Chính Thống Phương Đông, diễn ra ở đây vào năm ngoái theo lời mời của ngài. Sẽ là một dấu hiệu hứa hẹn khi cuộc họp tiếp theo diễn ra ở Rôma năm nay, như thể muốn nói lên tính liên tục đặc biệt giữa Tòa Máccô và Tòa Phêrô. 

Trong Thánh Kinh, Thánh Phêrô, cách nào đó, dường như để đáp lại tình âu yếm của Thánh Máccô nên đã gọi ngài là "con trai tôi" (1Pr 5:13). Nhưng hoạt động soạn tác Tin Mừng và hoạt động tông đồ của ngài cũng liên kết trong tình huynh đệ với Thánh Phaolô, vị mà trước khi chết vì đạo ở Rôma, đã nhắc đến tính hữu dụng của Thánh Máccô trong thừa tác vụ của ngài (xem 2Tm 2:11) và thường nói về ngài luôn (xem Plm 24, Cl 4:10). Tình bác ái huynh đệ và tình hiệp thông trong sứ mệnh: đó là những sứ điệp mà Lời của Thiên Chúa và nguồn gốc riêng của chúng ta đã để lại cho chúng ta. Chúng là những hạt giống Tin Mừng mà chúng ta hân hoan cùng nhau tưới tắm và, với sự giúp đỡ của Thiên Chúa, cùng nhau làm cho lớn lên (xem 1 Cr 3: 6-7).

Sự tiến bộ có tính sâu sắc hóa trong cuộc hành trình đại kết của chúng ta cũng được nâng đỡ, một cách huyền nhiệm và khá có liên quan, bởi một đại kết chân chính bằng máu. Thánh Gioan nói với chúng ta rằng Chúa Giêsu đến "bằng nước và máu" (I Ga 5: 6); Như thế, bất cứ ai tin vào Người đều đã "thắng thế giới" (1Ga 5: 5). Với nước và máu: bằng cách sống một cuộc sống mới trong phép rửa chung của chúng ta, một cuộc sống yêu thương, luôn luôn và cho mọi người, thậm chí đến cả hy sinh mạng sống mình. Biết bao vị tử đạo ở vùng đất này, từ những thế kỷ đầu tiên của Kitô giáo, đã sống đức tin của họ một cách anh hùng cho đến cùng, đổ máu mình hơn là chối bỏ Chúa và đầu hàng các rù quyến của sự ác, hoặc đầu hàng cơn cám dỗ muốn lấy ác trả ác! Sách Tử Đạo của Giáo Hội Coptic mang nhiều chứng tá hùng hồn cho điều này. Ngay trong những ngày gần đây, bi thảm thay, máu vô tội của các Kitô hữu không ai bảo vệ đã bị tàn nhẫn đổ ra: máu vô tội của họ kết hợp chúng ta. Người anh em rất yêu dấu, Giê-ru-sa-lem ở trên trời là một như thế nào, thì sách tử đạo của chúng ta cũng là một như thế; Những đau khổ của ngài cũng là những đau khổ của chúng tôi. Được củng cố bởi chứng tá này, chúng ta hãy cố gắng chống lại bạo lực bằng cách rao giảng và gieo rắc lòng tốt, cổ vũ và duy trì sự hợp nhất, cầu xin sao cho mọi hy sinh này có thể mở đường cho một tương lai hiệp thông trọn vẹn giữa chúng ta và bình an cho mọi người.

Lịch sử đầy ấn tượng về sự thánh thiêng của mảnh đất này được nổi bật không những nhờ sự hy sinh của các vị tử đạo. Không bao lâu sau cuộc bách hại thuở xưa kết thúc, một hình thức sống mới và vô vị kỷ đã nảy sinh như một hồng phúc của Chúa: phong trào đơn tu bắt nguồn từ sa mạc. Nhờ thế, các dấu hiệu vĩ đại mà Thiên Chúa đã từng làm ở Ai Cập và ở Biển Đỏ (xem Tv 106: 21-22) đã được tiếp nối bằng phép lạ của cuộc sống mới biến sa mạc bừng nở ơn thánh thiện. Với lòng tôn kính gia sản chung này, tôi tới đây như một người hành hương đến mảnh đất mà chính Chúa đã thích tới thăm. Vì ở đây, trong vinh quang của Người, Người đã ngự xuống trên núi Sinai (xem Ga 24:16), và ở đây, trong sự khiêm tốn của Người, Người đã tìm được nơi trú ẩn như một đứa trẻ (xem Mt 2:14). Thưa Đức Thượng Phụ, người anh em rất thân mến, hôm nay, xin cùng một Chúa ban cho chúng ta ơn cùng nhau lên đường như những người hành hương của hiệp thông và sứ giả của hòa bình. Trong hành trình này, xin Đức Trinh Nữ Maria cầm tay chúng ta, người là đấng đã mang Chúa Giêsu đến đây, và là đấng mà truyền thống thần học Ai Cập vĩ đại ngày xưa đã tung hô là Theotokos, Mẹ Thiên Chúa. Trong tước hiệu này, nhân tính và thần tính được kết hợp, vì trong Mẹ của Người, Thiên Chúa mãi mãi trở thành người. Xin Đức Trinh Nữ Diễm Phúc, đấng luôn dẫn dắt chúng ta đến với Chúa Giêsu, bản giao hưởng hoàn hảo của thần linh và nhân linh, một lần nữa đem một chút thiên đàng xuống trần gian.

Vũ Văn An
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/221310.htm

Lời giới thiệu Tập san Mục Đồng

LỜI GIỚI THIỆU TẬP SAN MỤC ĐỒNG
Giáo phận Qui Nhơn đang tiến gần đến Năm Thánh sẽ khai mạc vào ngày 26 tháng 07 năm 2017 và bế mạc vào ngày 26 tháng 07 năm 2018, kỷ niệm 400 năm hạt giống Tin Mừng lần đầu tiên được gieo vào lòng đất giáo phận tại Nước Mặn vào tháng 07 năm 1618, do các thừa sai Dòng Tên. Vào thời kỳ ấy, Nước Mặn vừa là trung tâm truyền giáo, vừa là cái nôi của chữ quốc ngữ, và kể từ đó văn chương công giáo bằng quốc ngữ đã trở thành một trong những phương tiện hữu hiệu để rao giảng Tin Mừng trên quê hương Việt Nam.
Để chuẩn bị cho biến cố trọng đại này, trong thập niên qua Tủ sách Nước Mặn của giáo phận Qui Nhơn đã hình thành và tính đến nay có 32 đầu sách đã được phát hành. Ban Văn Hóa của giáo phận cũng đã tổ chức các chương trình đào tạo tài năng văn thơ cho giới trẻ, để giới trẻ công giáo tiếp nối sự nghiệp của các bậc cha anh trong việc vận dụng khả năng truyền đạt của tiếng Việt vào công cuộc truyền bá Tin Mừng. Các chương trình này hằng năm đã thu hút sự tham gia nhiệt tình của nhiều cây bút trẻ, không những trong giáo phận Qui Nhơn, mà còn trong cả nước. Nhiều giải thưởng đã được trao tặng để khẳng định tài năng và nhiều tác phẩm đã được ấn hành để gửi đến các độc giả gần xa như một món quà chia sẻ.
Giờ đây, đứng trước thềm Năm Thánh giáo phận, Ban Văn Hóa muốn mở ra một sân chơi mới cho các bạn trẻ thích văn thơ qua Tuyển tập Văn thơ Công giáo MỤC ĐỒNG sẽ được phát hành vào mỗi mùa trong năm, với sự tham gia đóng góp của các tác giả trẻ trong cả nước. Cũng như các mục tử trên cánh đồng Bêlem ngày xưa, sau khi gặp gỡ Hài nhi Giêsu đã trở về, "vừa đi vừa tôn vinh ca tụng Thiên Chúa, vì mọi điều họ đã được mắt thấy tai nghe" (Lc 2,20), các bạn trẻ tham gia Tuyển tập Văn thơ Công giáo Mục Đồng hôm nay cũng sẽ dùng ngọn bút của mình, để hân hoan kể lại cho mọi người về Đức Giêsu mà họ gặp gỡ trong cánh đồng cuộc sống.
Để Tuyển tập Văn thơ Công giáo Mục Đồng này trở thành một sân chơi mới ngày càng mở rộng và thêm chất lượng, tôi tha thiết mời gọi các bạn trẻ tham gia đóng góp các tác phẩm tâm đắc của mình. Tôi cũng trân trọng giới thiệu Tuyển tập này với quí độc giả xa gần, ước mong được quí độc giả nhiệt tình đón nhận, ủng hộ và khuyến khích.
Qui Nhơn, Tết Đinh Dậu 2017
+ Matthêô Nguyễn Văn Khôi
Giám mục Giáo phận Qui Nhơn
Nguồn: http://www.tapsanmucdong.net/2017/05/loi-gioi-thieu-tap-san-muc-ong.html
Tải về Tập san số 1 bản pdf:

Facebook, bóng tối và ánh sáng

WGPSG/NSTM -- Vào Ngày Thế giới Truyền thông xã hội lần thứ 47 (năm 2013), ĐTC Bênêđictô XVI đã gửi đi một sứ điệp mang tựa đề: “Mạng xã hội, cửa vào Sự thật và Đức tin, những không gian mới cho việc loan báo Tin Mừng.” ĐTC muốn mọi người ghi nhận khả năng hết sức lớn lao của mạng xã hội, và người ta cần dùng nó như cánh cửa để đi vào mà tìm kiếm Sự thật và Đức tin, cũng như tận dụng nó như những không gian mới cho việc loan báo Tin Mừng.
Nếu người ta không sử dụng nó với những mục đích tốt lành như thế, mạng xã hội - thay vì mang lại ích lợi cho con người - sẽ lại trở thành cơ nguy rất lớn cho họ. Ta có thể thấy rõ những nguy cơ này nơi những con người nghiện một trong những mạng xã hội phổ biến nhất hiện nay là facebook.
Hà Anh, tác giả của bài viết “Nghiện facebook – căn bệnh không của riêng ai” đã kể lại một trường hợp tiêu biểu có thực như sau:
“Boconganh là nick được nhiều người biết đến trên facebook. Bất cứ status nào của boconganh đều được các friend like, comments sôi nổi. Cô nàng gần như không còn có thói quen gặp gỡ bạn bè ngoài đời, kể cả những người bạn chơi với nhau trước đây.
Đến một ngày, boconganh bệnh phải nhập viện. Cô vẫn cập nhật tình hình lên facebook và nhận được rất nhiều sự quan tâm từ những comments thăm hỏi. Tuyệt nhiên trong số gần 5000 friend đó, không ai có ý tưởng sẽ đến thăm cô, sẽ nắm lấy bàn tay gầy rộc đi của cô, hay bón cho cô từng muỗng cháo.
Boconganh đắng lòng nhận ra những mối quan hệ bao lâu nay của mình chỉ là ảo. Cô xót xa post thêm một status: “Nếu mình chết đi, bạn bè vẫn ngồi ôm khư khư cái máy tính, hay điện thoại để cập nhật trạng thái. Có đứa còn phải vất vả đi chụp lại những comment tình cảm để chứng minh tình bạn gắn bó lâu năm với dân cư facebook.
Rồi thì những kỷ niệm lớn nhỏ, vui buồn đều lần lượt được liệt kê ra, lôi lên. Họ không rời được cái máy vì còn phải “canh” xem những ai like, rồi trả lời comments. Bận tối mắt tối mũi, thời gian đâu nữa mà đến thắp nhang cho mình. Hoặc có những đứa tranh thủ đến thắp nhang cho mình, vẫn lén trang điểm một chút cho ăn ảnh để nhờ đứa bạn chụp giúp tấm hình. Vài phút sau là “quăng” lên facebook. Lại tất tả về, ngồi vô máy tính comments, like…”.
Dòng status của boconganh làm không khí facebook nặng nề thê thảm. Nghĩ mà vừa thương lại vừa trách boconganh bởi cô đã tự làm khó bản thân mình, làm khó friend trên facebook. Hơn ai hết, cô phải biết những mối quan hệ đó chưa đủ gần gũi để có thể chạm vào tay nhau ở ngoài đời. Còn những mối quan hệ bạn bè trước đây đã bị cô lãng quên đến mức nhạt nhòa đi.
Và một điều quan trọng hơn cả mà cô không biết hay cố tình không biết, tín đồ facebook không có thói quen thể hiện sự quan tâm, yêu thương ở bên ngoài.”
Những bài viết về lợi ích cũng như nguy hại của facebook đầy dẫy trên báo chí cũng như internet. Ví dụ, trong bài Nghị luận xã hội facebook, tác giả Phnglan nhận định “Ta có thể tìm thấy gần như mọi lĩnh vực của đời sống trong FB. Ngoài vai trò là một trang mạng mang tính giải trí hấp dẫn, nơi giao lưu, chia sẻ của bạn bè, người thân, FB còn là một công cụ hữu hiệu trong việc truyền tải những thông điệp, thông tin đến hàng triệu người trên khắp hành tinh. Nó gần giống như một cuốn nhật kí sinh động ghi lại những cảm xúc, ấn tượng, tình cảm, sẻ chia trong cuộc đời thường nhật…” Tuy nhiên: “Với một tốc độ truyền tải như vũ bão, In-tơ-net nói chung, FB nói riêng, hàm chứa nhiều thông tin không được kiểm chứng, sai sự thật, thậm chí độc hại… Đặc biệt, với nhiều hấp dẫn và tiện ích như vậy, FB dễ gây nghiện với giới trẻ.”
Từ những nhận định này, Phnglan hô hào: “Hãy tập trung cao độ vào học tập, hãy cháy lên để mà toả sáng. Và hãy nhớ, đừng mê FB mà quên đọc sách, đừng mải nói chuyện với người trên mạng mà quên giao tiếp với người thân, đừng “phây” đến phờ phạc, phí phạm đời mình vào những điều vô nghĩa.”
Trên facebook, nhiều người đã vô tình biến mình thành kẻ khủng bố người khác và khủng bố chính mình, khi giải bày những tâm sự u tối, thể hiện những bất bình, đưa lên những tấm hình bất ngờ “chộp” được, để rồi sau đó đã phải ân hận cách muộn màng rằng: vì sao mình lại quá thiếu suy nghĩ khi đưa lên những tâm sự, những tấm hình tai hại như thế cho muôn vàn người xem!
Một trường hợp đặc biệt mới xẩy ra: Có trang facebook đã mạo danh thành viên tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng (IS) để đe doạ, kích động khủng bố. Cả 3 người thực hiện trang này được xác định đều là học sinh và ở độ tuổi 13, 14 (Tuổi Trẻ ngày 2-12-2015).
Khi đọc tin này, tác giả Sơn Nữ Duyên Sa đã viết trên blog của mình:
“Khi đọc đến đây, tôi cảm thấy lo ngại nhiều cho các em. Các em còn quá nhỏ để hiểu ra việc các em làm nguy hại đến bản thân, gia đình và cộng đồng xã hội như thế nào. Chuyện dại dột của các em thì mọi người đã biết rồi, không cần bàn đến. Đọc các bình luận dưới bản tin thì thấy hầu hết đều lên án 3 em này. Tuy nhiên, tôi nghĩ cũng cần nhìn lại việc quản lý của cha mẹ và những người có trách nhiệm trên các em. Không thể cấm các em xử dụng mạng xã hội, nhất là Facebook vì đó là môi trường để các em tiếp cận với thế giới, học hỏi, giao lưu. Điều cần làm đó là hướng dẫn, kiểm tra và đồng hành với các em để giúp các em biết chọn lựa tốt xấu, đúng sai, cái gì nên bỏ qua, điều gì nên like, hình ảnh nào nên đưa lên, hình ảnh nào không nên đăng.
Làm công tác truyền thông trong Giáo phận, tôi đã được học, được thực tập và sau đó, hướng dẫn các học viên cách dùng mạng xã hội để loan báo Tin Mừng. Và khi phụ trách giáo lý tại giáo xứ Giuse Thợ, tôi cũng đề nghị các em huynh trưởng TNTT tạo tài khoản Facebook để mỗi ngày đưa lên một câu Lời Chúa và chia sẻ một ít tư tưởng liên quan giữa cuộc sống và Lời Chúa, đưa những hình ảnh thật đẹp về các hoạt động của xứ đoàn cho thế giới mạng nhận ra gương mặt Chúa Giêsu đang đồng hành với các em. Các em đã làm việc này rất tốt và khá đều đặn.
Trên Facebook, tôi kết bạn với các em từ lớp Rước Lễ đến lớp Sống Đạo và cả các Huynh trưởng TNTT để quan tâm và hướng dẫn các em hoạt động tốt trên thế giới ảo (ảo, nhưng lại rất thật, rất sống động…). Tôi chia sẻ, bình luận và nhắc nhở các em. Tôi cảm thấy mình cũng phần nào thành công trong việc này khi thấy các em xóa dần những câu nói "bẩn", những hình ảnh không đẹp, giúp các em ý thức hơn để tránh "nghiện Facebook" mà bỏ học, sống khép kín, thụ động trong gia đình, trường học…
Ngày lễ Thánh Phanxicô Xaviê, tôi suy nghĩ đến Lời Chúa: “Các con hãy đi khắp thế gian, rao giảng Tin Mừng cho mọi thụ tạo. Ai tin và chịu phép Rửa, thì sẽ được cứu độ; ai không tin, sẽ bị luận phạt".  Hôm nay lệnh truyền đó đã được Đức Thánh Cha Phanxicô nói với Giáo Hội: “Hãy đi ra khỏi chính mình” để thực hiện việc loan báo Tin Mừng cho thế giới... Các bạn trẻ thân mến, các con đừng nên sợ hãi trong việc đi ra khỏi chính con người của các con để thực hiện cuộc lên đường! Tin Mừng chính là Lời giải phóng, sẽ biến đổi và làm cho đời sống của các con trở nên tốt đẹp hơn!”
Tôi ra khỏi chính mình hằng ngày khi tôi ra khỏi cái ươn lười thụ động của mình để hăng hái chu toàn trách nhiệm được giao, đồng thời tránh gây ảnh hưởng xấu đến bản thân, gia đình, cộng đoàn và những người khác. Tôi ra khỏi chính mình khi tôi biết tha thứ, yêu thương cảm thông với người đau yếu về tinh thần cũng như thể xác. Tôi ra khỏi chính mình khi tôi biết dùng mạng xã hội để chia sẻ Lời Chúa, và gửi những lời yêu thương đến mọi người ở thế giới mạng như lời mời gọi của sứ điệp Ngày Thế giới Truyền Thông xã hội lần thứ 47: “Mạng xã hội, cửa vào Sự thật và Đức tin, những không gian mới cho việc loan báo Tin Mừng.”
Các Khoá Mục vụ Truyền Thông Tổng Quan (MVTTTQ) rất quan tâm giúp các học viên sống linh đạo truyền thông và trở thành những người loan báo Tin Mừng thời hiện đại nhờ mạng xã hội. Đây là một trong những câu hỏi quan trọng được đặt ra cho họ: 
“Trong thời đại bùng nổ truyền thông hiện đại, có vô số những việc cần làm khi muốn dấn thân truyền thông. Nhưng công việc truyền thông Tin Mừng nào có thể được coi là chính yếu và tương đối dễ làm, dễ sinh nhiều hoa trái nhất trong thời đại này?”
Câu trả lời được gợi ý như sau:
“Một trong những công việc truyền thông Tin Mừng có thể được coi là chính yếu và tương đối dễ làm, dễ sinh nhiều hoa trái nhất trong thời đại này chính là đọc Lời Chúa mỗi ngày và đưa Lời Chúa lên Mạng xã hội (Nhật tác). Đây là công việc truyền thông đơn giản nhất có thể làm được mỗi ngày, nhưng cũng là công việc cốt yếu có khả năng Phúc âm hóa bản thân và loan báo Tin Mừng khá hữu hiệu trong xã hội hiện đại. “
Các học viên của các khoá MVTTTQ được hướng dẫn để thực hiện Nhật tác (đưa Lời Chúa lên mạng xã hội) trước hết trên blog của mình:
-       Khởi sự, họ chép đoạn Tin Mừng của Phụng vụ ngày hôm đó vào trang blog của mình.
-       Bên trên đoạn Tin Mừng này, họ đưa vào một câu chuyện hay một sự kiện nóng bỏng liên quan đến bài Tin Mừng để làm cho bài chia sẻ Tin Mừng trở nên hấp dẫn và thiết thực. Muốn tìm được câu chuyện thích hợp, họ chỉ cần tìm một “từ khoá” (key word) của bài Tin Mừng trong ngày, rồi đưa “từ khoá” này vào ô tìm kiến của Google để có thể tìm thấy ngay một câu chuyện hoặc một sự kiện liên quan đến “từ khoá” ấy.
-       Bên dưới câu chuyện, họ viết một câu dẫn ý từ câu chuyện đến đoạn Tin Mừng, kèm theo một lời cầu nguyện.
-       Họ tiếp tục tìm trên Google một hình ảnh liên quan đến “từ khoá” và đưa hình ảnh này lên trên cùng của bài suy niệm.
-       Sau hết, họ chọn cho bài suy niệm này một tựa đề có sức lôi cuốn người xem.
Khi đã quen, 5 giai đoạn trên đây sẽ được thực hiện rất nhanh chóng. Tuy nhiên nếu trong người mệt nhọc, chỉ cần làm một hay hai giai đoạn cũng được. Lúc nào khoẻ và rảnh rỗi hơn, sẽ làm bổ túc thêm. Điều quan trọng là cần làm đều đặn.
Sau khi làm xong một bài suy niệm đơn giản và rất nhanh gọn như thế, các học viên chỉ cần click vào những biểu tượng facebook, twitter… bên dưới bài blog, là nội dung của bài blog này sẽ nhảy ngay vào facebook, twitter… để chia sẻ Tin Mừng với bao nhiêu người đang hội ngộ với nhau trên thế giới mạng internet.
Đây là việc làm thật thú vị và mang lại nhiều ích lợi, nên đã có những thành viên truyền thông thực hiện rất đều đặn; có những người không bỏ làm ngày nào (ví dụ blog Hướng Về Trời). Bài hát “Truyền Thông Trong Đêm” diễn tả niềm hăng say làm Nhật Tác của họ:
ĐK: Ánh sáng soi dẫn cuộc đời là Lời của Ngài mà con vẫn  suy gẫm đêm đêm, để cứ đêm xuống con đưa vào mạng xã hội: Lời Ngài, dù một câu cũng vừa.
1.    Vừa lòng con yêu Chúa, vừa lòng Chúa thương con, vừa lòng đây: bao anh em đang trên mạng thao thức. (ĐK)
2.    Vừa để tim con thấm Lời của Chúa trong con, để đời con luôn hân hoan đi theo Lời của Chúa. (ĐK)
3.    Vừa để con chia sẻ cùng bạn hữu năm châu, thường gặp nhau trên không gian thế giới phẳng internet. (ĐK)
4.    Vừa để con né tránh hình ảnh xấu vô luân từng làm hư bao con tim khi thăm mạng internet. (ĐK)
5.    Vừa để con yêu mến, tìm gặp gỡ tha nhân ở gần con, chung quanh con, trong gia đình, trong cuộc sống. (ĐK)
Việc truyền thông Tin Mừng trên mạng xã hội trong đêm (hoặc mỗi sáng sớm) và đọc Lời Chúa mỗi tối sẽ giúp cho Lời Chúa đi vào giấc ngủ an bình. Từ đó, Lời Chúa sẽ xuất hiện trong trí của họ ngay khi thức dậy vào sáng sớm hôm sau. Họ sẽ cảm thấy chính Chúa dịu dàng đánh thức họ dậy, nói lời yêu thương với họ để họ thưởng thức tình yêu của Ngài ngay từ đầu ngày. Họ sẽ cùng với Ngài truyền thông tình thương và niềm vui của Chúa trong suốt một một ngày mới…
Nếu thực hiện đều đặn ‘nhật tác’, sau một hoặc hai năm, các thành viên truyền thông có thể tổng hợp và biên tập các ‘nhật tác’ của mình để in ra thành một cuốn sách suy niệm Lời Chúa hằng ngày rất sống động.
Và như thế, mạng xã hội bao gồm facebook cũng sẽ gắn liền với Văn hóa Đọc trong nỗ lực loan báo Tin Mừng trong thời hiện đại. 
Linh Hữu
Nguồn: http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20170502/38497