Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Ba, 25 tháng 2, 2014

Chuyên đề tháng 3-2014 tại các giáo xứ

THÔNG BÁO
Kính thưa quý vị và các bạn,
Năm “Tân Phúc-Âm-hóa đời sống gia đình” là một năm mang đến niềm hy vọng đổi mới đời sống tâm linh cho các gia đình. Muốn được như vậy, mỗi người chúng ta đều phải siêng năng học hỏi và sống Lời Chúa trong năm hồng ân này.
Đáp lại lời mời gọi của các vị Chủ chăn kính yêu theo Thư Chung của Hội đồng Giám mục Việt Nam 2013, và mong muốn góp phần thăng tiến ơn gọi gia đình dưới ánh sáng Tin Mừng, Ban Mục vụ Gia đình Tổng Giáo phận Sài Gòn xin trân trọng giới thiệu Chuyên đề tháng 3 tại các giáo xứ như sau:

1. Giáo xứ Nam Hòa: Đề tài: “KHOAN DUNG: CHÌA KHÓA HẠNH PHÚC GIA ĐÌNH”
Diễn giả: Lm. Luy Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng ban Mục vụ Gia Đình TGP Sài Gòn vàThầy Giuse Phạm Quang Thùy, Cv đào tạo nguồn nhân lực và kỹ năng sống.
Thời gian: 19g30 – 21g30, thứ Hai ngày 03.03.2014
Địa điểm: Nhà thờ Nam Hòa Số 219/20 Đất Thánh, Q. Tân Bình, Tp.HCM
2. Giáo xứ Xóm Thuốc: Đề tài: VƯỢT QUA NHỮNG KHOẢNH KHẮC YẾU LÒNG TRONG HÔN NHÂN”
Diễn giả: Lm. Luy Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng ban Mục vụ Gia Đình TGP Sài Gòn vàThầy Phanxicô Nguyễn Ngọc Phát, Cv đào tạo nguồn nhân lực và kỹ năng sống.
Thời gian: 19g20 -21g tối thứ Sáu ngày 07.03.2014
Địa điểm: Số 213 Quang Trung, P. 10, Q. Gò Vấp, Tp.HCM 
3. Giáo xứ Phú Trung: Đề tài: LÀM SAO QUẢN LÝ INTERNET CHO TRẺ TRONG GIA ĐÌNH?”
Diễn giả: Thầy Giuse Nguyễn Văn Quýnh, Giáo lý viên Dự tòng và Hôn Nhân
Thời gian: 9g00 - 10g45 sáng Chúa nhật ngày 09.03.2014
Địa điểm:  1434 Lạc Long Quân, Phường 11, Quận Tân Bình, Tp. HCM
4. Giáo xứ Tân Hương: Đề tài: “CÁC BẠN TRẺ CHUẨN BỊ SỐNG ƠN GỌI HÔN NHÂN”
Diễn giả: Thầy Giuse Nguyễn Văn Quýnh, Giáo lý viên Dự tòng và Hôn Nhân
Thời gian: 19g30 – 21g00, thứ Tư ngày 12.03.2014
Địa điểm:  Số 162 Tân Hương, P. Tân Quý, Q. Tân Phú, Tp.HCM
5. Giáo xứ Tân Chí Linh: Đề tài: “GIA ĐÌNH ĂN GÌ ĐỂ TRƯỜNG SINH?”
Diễn giả: Lm. Luy Nguyễn Anh Tuấn, Trưởng ban Mục vụ Gia Đình TGP Sài Gòn.
Thời gian: 19g30 – 21g00, tối thứ Sáu ngày 21.03. 2014
Địa điểm:  Số 6/25 Phạm Văn Hai, Q. Tân Bình, Tp.HCM

Nguồn: http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20140225/25033

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Thế giới truyền thông xã hội lần thứ 48

Truyền thông phục vụ một nền văn hoá gặp gỡ đích thực
Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô nhân Ngày Thế giới truyền thông xã hội lần thứ 48


(Chúa nhật, 01-06-2014)



Anh chị em thân mến,

Ngày nay chúng ta đang sống trong một thế giới ngày càng trở nên “nhỏ bé hơn” và vì thế, là nơi dường như tất cả chúng ta dễ gần gũi nhau hơn. Những phát triển về giao thông và công nghệ truyền thông đang làm cho chúng ta xích lại gần nhau và gắn kết với nhau hơn, ngay cả sự toàn cầu hóa cũng khiến chúng ta càng thêm tương thuộc lẫn nhau. Nhưng trong gia đình nhân loại vẫn còn những chia rẽ, có khi rất trầm trọng. Trên bình diện toàn cầu chúng ta thấy có một khoảng cách gây gương mù giữa sự sa hoa của người giàu và cảnh cơ cực của người nghèo. Nhiều khi chúng ta chỉ cần dạo qua những con đường trong một thành phố cũng thấy được cảnh tương phản giữa những người sống ở đường phố với ánh đèn rực rỡ trong các cửa hàng. Chúng ta đã trở nên quá quen thuộc với những cảnh tượng ấy đến mức chúng chẳng còn làm cho chúng ta áy náy nữa. Thế giới chúng ta đang gánh chịu nhiều hình thức loại trừ, gạt ra bên lề và nghèo khổ, chưa kể đến những cuộc xung đột phát sinh từ các nguyên nhân kinh tế, chính trị, ý thức hệ cộng lại, và đáng buồn thay, có cả nguyên nhân tôn giáo nữa.

Trong thế giới này, các phương tiện truyền thông có thể giúp chúng ta cảm thấy gần gũi nhau hơn, tạo nên cảm thức về một gia đình nhân loại hiệp nhất, thúc đẩy tình liên đới và nghiêm túc dấn thân xây dựng một cuộc sống xứng đáng hơn cho mọi người. Việc truyền thông tốt đẹp giúp chúng ta gần nhau hơn, biết rõ nhau hơn, và cuối cùng, hiệp nhất với nhau hơn. Những bức tường ngăn cách chúng ta chỉ có thể bị phá vỡ nếu chúng ta sẵn sàng lắng nghe nhau và học hỏi lẫn nhau. Chúng ta cần giải quyết những khác biệt qua những hình thức đối thoại, giúp chúng ta thêm cảm thông và tôn trọng nhau. Một nền văn hóa gặp gỡ đòi hỏi chúng ta phải sẵn sàng không những cho đi, nhưng còn nhận lãnh nữa. Các phương tiện truyền thông có thể giúp chúng ta rất nhiều trong lĩnh vực này, đặc biệt là ngày nay, khi các mạng truyền thông giữa con người đạt được những tiến bộ chưa từng thấy. Đặc biệt, internet cho chúng ta vô số cơ hội gặp gỡ và liên đới với nhau. Đây là điều thực sự tốt lành, là quà tặng của Thiên Chúa.

Nói như thế không phải là không có những vấn đề. Vận tốc thông tin mau lẹ vượt quá khả năng suy tư và phán đoán của chúng ta, và điều này không giúp chúng ta thể hiện mình một cách quân bình và đúng đắn hơn. Việc bày tỏ những ý kiến khác nhau có thể được coi là hữu ích, nhưng cũng có thể khiến người ta cố thủ đằng sau những nguồn thông tin chỉ khẳng định cho những mong muốn và tư tưởng, hoặc những quyền lợi chính trị và kinh tế của riêng mình. Thế giới truyền thông có thể giúp chúng ta hoặc thêm kiến thức, hoặc lạc hướng. Ước muốn kết nối bằng kỹ thuật số có thể đưa đến hậu quả làm cô lập chúng ta với người thân cận, những người gần gũi chúng ta nhất. Chúng ta cũng đừng quên có những người, vì nhiều lý do, không được tiếp cận các phương tiện truyền thông xã hội, họ có nguy cơ bị bỏ lại đàng sau.

Những bất lợi ấy là những điều có thực, nhưng chúng không biện minh cho việc loại bỏ các phương tiện truyền thông xã hội; đúng hơn, chúng nhắc nhở chúng ta rằng truyền thông, xét cho cùng, là một thành tựu về mặt con người hơn là về kỹ thuật. Vậy trong môi trường kỹ thuật số, đâu là điều giúp chúng ta lớn lên trong tình người và hiểu biết lẫn nhau? Chẳng hạn, chúng ta cần phục hồi ý nghĩa nào đó của sự khoan thai và điềm tĩnh. Điều này đòi phải có thời gian và khả năng thinh lặng để lắng nghe. Chúng ta cũng cần phải kiên nhẫn nếu chúng ta muốn hiểu được người khác biệt với mình. Người ta chỉ bộc lộ hoàn toàn, không chỉ những khi họ được đối xử cách bao dung, nhưng còn là khi biết mình được đón nhận thực sự. Nếu chúng ta thực sự quan tâm lắng nghe người khác, chúng ta sẽ học được cách nhìn thế giới với đôi mắt khác và quý chuộng kinh nghiệm phong phú của con người như được biểu lộ trong các nền văn hóa và truyền thống khác nhau. Chúng ta cũng học quý chuộng hơn nữa những giá trị quan trọng lấy cảm hứng từ Kitô giáo, chẳng hạn nhân sinh quan về con người, bản chất của hôn nhân và gia đình, sự phân biệt giữa các lĩnh vực tôn giáo và chính trị, các nguyên tắc liên đới và bổ trợ, và nhiều giá trị khác.

Như vậy truyền thông có thể phục vụ một nền văn hóa gặp gỡ đích thực như thế nào? Và đối với chúng ta là môn đệ của Chúa, gặp gỡ người khác theo ánh sáng Tin Mừng nghĩa là gì? Làm thế nào chúng ta có thể lại gần với nhau mặc dù chúng ta có những giới hạn và tội lỗi? Những câu hỏi này có thể tóm gọn trong điều mà có lần một thầy thông luật –tức là một người truyền thông– hỏi Chúa Giêsu: “Ai là người thân cận của tôi?” (Lc 10,29). Câu hỏi này giúp chúng ta hiểu truyền thông theo nghĩa “tình thân cận”. Chúng ta có thể diễn dịch câu hỏi đó theo cách này: Làm thế nào để trở thành “người thân cận” khi sử dụng các phương tiện truyền thông xã hội và khi sống trong môi trường mới do nền kỹ thuật số tạo nên? Tôi tìm được câu trả lời trong dụ ngôn người Samaritanô nhân lành – cũng là một dụ ngôn về truyền thông. Thực vậy, ai truyền thông thì trở nên người thân cận. Người Samaritanô nhân lành không chỉ trở nên người thân cận, nhưng còn nhận trách nhiệm chăm sóc người mà ông gặp thấy dở sống dở chết bên vệ đường. Chúa Giêsu đã đảo ngược quan điểm của chúng ta: không phải tôi nhìn người khác như người đồng loại của tôi, mà là khả năng tôi trở nên giống như người khác. Truyền thông có nghĩa là nhìn nhận rằng chúng ta đều là con người, là con cái Thiên Chúa. Tôi thích định nghĩa khả năng truyền thông ấy là “tình thân cận”.

Nếu như truyền thông chủ yếu nhắm đến việc khuyến khích chủ nghĩa tiêu thụ hoặc thao túng người khác, khi ấy chúng ta đang đối mặt với một hình thức tấn công hung bạo, như người ở trong dụ ngôn bị bọn cướp đánh và bỏ mặc bên đường. Thầy Lêvi và vị Tư tế không coi người ấy là người thân cận, mà như một kẻ xa lạ cần phải tránh xa. Thời ấy, có những quy luật về sự thanh sạch theo nghi lễ đã quy định cách cư xử của họ. Ngày nay có một mối nguy cơ là một số phương tiện truyền thông cũng quy định cách xử sự của chúng ta đến độ chúng ta không còn nhận ra người thân cận thực sự của mình nữa.

Chỉ lướt qua các xa lộ kỹ thuật số –hay đơn giản chỉ “nối mạng”– là không đủ: các kết nối còn cần phải đi vào gặp gỡ đích thực. Chúng ta không thể sống tách biệt, co cụm vào mình. Chúng ta cần yêu và được yêu. Chúng ta cần đến lòng nhân hậu. Các chiến lược truyền thông chẳng bảo đảm cho chân thiện mỹ trong truyền thông. Thế giới truyền thông cũng phải quan tâm đến con người, cũng được mời gọi thể hiện lòng nhân hậu. Thế giới kỹ thuật số có thể là nơi đầy tình người, không phải là một mạng lưới giây nhợ, nhưng là một mạng lưới những con người. Tính trung lập của các phương tiện truyền thông chỉ là vẻ bề ngoài; chỉ những ai truyền thông với tất cả con người của mình thì mới có thể trở nên một điểm tham chiếu thực sự cho người khác. Nền tảng cho tính đáng tin của một người truyền thông là sự dấn thân cá nhân của người ấy. Vì thế, nhờ internet chứng tá Kitô giáo có thể đến với các vùng ngoại vi của cuộc sống.

Như tôi vẫn thường lặp đi lặp lại, nếu phải chọn giữa một Giáo hội bầm giập vì đi ra đường phố và một Giáo hội tự thu mình lại, chắc chắn tôi sẽ chọn Giáo hội trước. Các “đường phố” ở đây là thế giới nơi con người đang sống, nơi chúng ta có thể đến với họ, vừa thiết thực vừa thân thương. Xa lộ kỹ thuật số là một trong những con đường ấy, con đường đầy rẫy những người bị thương, những người đang tìm kiếm ơn cứu độ hay niềm hy vọng. Nhờ internet, sứ điệp Kitô giáo có thể đi đến “tận cùng trái đất” (Cv 1,8). Mở rộng những cánh cửa nhà thờ cũng có nghĩa là mở những cánh cửa ấy trong môi trường kỹ thuật số, để cho mọi người bước vào, dù họ ở trong bất kỳ hoàn cảnh sống nào, và để cho Tin Mừng bước ra gặp gỡ mọi người. Chúng ta được mời gọi chứng tỏ rằng Giáo hội là nhà của mọi người. Chúng ta có khả năng thông truyền hình ảnh một Giáo hội như thế hay không? Truyền thông là phương tiện diễn tả ơn gọi truyền giáo của toàn thể Giáo hội; ngày nay các mạng xã hội là một phương thức để sống lời mời gọi tái khám phá vẻ đẹp của đức tin, vẻ đẹp của cuộc gặp gỡ Chúa Kitô. Trong lĩnh vực truyền thông cũng vậy, chúng ta cần có một Giáo hội mang lại hơi ấm và lay động các tâm hồn.

Chứng tá Kitô giáo hiệu quả không phải là dùng các sứ điệp tôn giáo dội bom người khác, nhưng là mong muốn tự hiến cho tha nhân “qua việc lấy sự kiên nhẫn và lòng tôn trọng tham dự vào những vấn nạn và hoài nghi của họ trên con đường kiếm tìm chân lý và ý nghĩa đời người” (Bênêđictô XVI, Sứ điệp nhân Ngày Thế giới truyền thông xã hội lần thứ 47, 2013). Chỉ cần nhắc lại câu chuyện hai môn đệ trên đường Emmaus. Chúng ta phải có khả năng đối thoại với con người ngày nay, để hiểu những ước vọng, hoài nghi và hy vọng của họ và trao tặng họ Tin Mừng là chính Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa làm người, đã chịu chết và sống lại để giải thoát chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết. Chúng ta được thách đố trở nên những người có chiều sâu, quan tâm đến những gì diễn ra xung quanh mình và tỉnh thức về tinh thần. Đối thoại có nghĩa là tin rằng “tha nhân” có điều gì đó tốt đẹp đáng nói, đồng thời nhường chỗ cho quan điểm và đề nghị của họ. Đối thoại không có nghĩa là từ bỏ những ý tưởng và truyền thống của mình, nhưng là bỏ đi thái độ cho rằng chỉ có ý tưởng và truyền thống của mình mới là có giá trị và tuyệt đối.

Ước gì hình ảnh người Samaritanô nhân lành lấy dầu và rượu chăm sóc các vết thương của người bị nạn thành kim chỉ nam cho chúng ta. Ước gì sự truyền thông của chúng ta là dầu thơm xoa dịu đau khổ và là rượu ngon mang lại hân hoan cho các tâm hồn. Ước gì ánh sáng chúng ta đem đến cho người khác không phải là nhờ mỹ phẩm hay những hiệu ứng đặc biệt, nhưng do chúng ta trở thành “người thân cận” đầy tình yêu và lòng xót thương với người mang thương tích bị bỏ lại bên vệ đường. Chúng ta hãy mạnh dạn trở thành những công dân của thế giới kỹ thuật số. Giáo hội cần quan tâm đến và hiện diện trong thế giới truyền thông, để đối thoại với con người ngày nay và giúp họ gặp gỡ Chúa Kitô. Giáo hội phải là một Giáo hội ở với mọi người, có thể đồng hành với mọi người. Cuộc cách mạng diễn ra trong các phương tiện truyền thông xã hội và công nghệ thông tin là một thách đố lớn lao và đầy thú vị; mong sao chúng ta đáp ứng thách đố ấy bằng nghị lực mới mẻ và đầy sáng tạo khi tìm cách thông truyền vẻ đẹp của Thiên Chúa cho tha nhân.

Vatican, ngày 24 tháng 1 năm 2014,
lễ thánh Phanxicô Salêsiô
Phanxicô


 Đức Thành chuyển dịch từ bản Anh ngữ của vatican.va)
 ĐGH Phanxicô
Nguồn: http://www.hdgmvietnam.org/su-diep-cua-duc-thanh-cha-phanxico-nhan-ngay-the-gioi-truyen-thong-xa-hoi-lan-thu-48/5830.114.3.aspx

Chuyện rất ngắn về gia đình: Bệnh và lười

Lời BBT:

Tác giả Trịnh Tây Ninh, hiện đang ở Canada, có một loạt chuyện ngắn với tiêu đề "Chuyện rất ngắn về gia đình". Được sự đồng ý của tác giả, chúng tôi sẽ trích đăng lên Blog để cùng chia sẻ với bà con. BBT xin chân thành cám ơn tác giả. 


Bệnh và lười

man crying.jpg


Cũng như các bà vợ khác ở hải ngoại, vợ tui kỳ này làm biếng quá. Đi làm về là nằm trên giường xem phim bộ, chẳng chịu nấu ăn, dọn dẹp nhà cửa gì ráo. Tôi có la, nó ấp úng trả lời:

-Em thấy mệt quá, chẳng làm gì được cả. Nằm nhưng không ngủ được nên mới bật máy xem phim, chứ không cố ý xem phim.

Con vợ tui chơi chữ ghê, xem mà không xem, nó biện hộ kiểu này ai nghe cho được!

Tui định bụng hôm nay về mà bếp núc lạnh tanh, sẽ đập tan cái TV ra cho biết mặt. Về nhà, quả nhiên cơm canh không có, đứa con nhỏ hoảng hốt:

-Ba ơi, anh Hai đưa má vào bệnh viện rồi, má bị xỉu phải cấp cứu.

Tui vội vã vào nhà thương. Người ta đã chẩn bệnh xong. Vợ tui có lẽ bị ung thư xương. Hèn chi mấy tuần nay nó đau nhức, than thở mà tui nghĩ nó giả bộ nên không thèm nghe, cũng chẳng đưa đi bác sĩ.

Bệnh ung thư phát mạnh quá, sau vài tuần, bác sĩ cho biết nó không còn ở với tui được bao lâu nữa. Ung thư ngực thì cắt vú, ung thư xương không biết cắt ở đâu! Phổi vợ tui cũng có vấn đề, vì bao năm qua phải hửi mùi thuốc lá tui hút. Tui không dám nói với nó tui đã nghĩ xấu và giận nó không chịu nấu cơm, dọn dẹp. Cô vợ đầu ấp tay gối bao nhiêu năm mà nó đau đớn, bịnh nặng tui cũng không biết. Vậy mà nó vẫn cố gắng đi làm kiếm tiền, chỉ khi về mới nằm liệt ra thôi. Tui hối hận quá chừng, trốn vào nhà vệ sinh của bệnh viện khóc rấm rứt. Thằng Tây đen nhìn tui ái ngại, hỏi tui có OK không. Tui không biết than thở cùng ai, nên dù tiếng Anh dở ẹt, cũng sổ một tràng. Nó có vẻ thông cảm nhưng chỉ phán được một tiếng “sorry” rồi đi ra.

Tui trở vào phòng thăm vợ. Mới mấy tuần mà nó ốm nhom xanh lè, tay chân dây rợ, kim chích chằng chịt. Nó thì thầm:

-Ở đây buồn và ồn quá, em muốn về nhà. Em sẽ nấu món giả cày mà anh thích đó.

Tui vỗ về:

-Em ráng lo nghỉ ngơi, đừng bận tâm.

Tui ráng nấu mấy món ngon đem vào nhà thương, nhưng nó không ăn được nữa. Tui lại khóc. Lạ ghê, trước giờ tui rất oai phong, la mắng vợ con mỗi ngày, uy quyền lắm mà bây giờ mít ướt quá sức …

Trịnh Tây Ninh

Thứ Hai, 24 tháng 2, 2014

Biểu đồ WYD – Từ Giới trẻ thế giới tới Mục vụ giới trẻ tại địa phương


Trước khi rời khỏi Brazil, Đức giáo hoàng Phanxicô gặp gỡ khoảng 15.000 tình nguyện viên tại Trung tâm Hội nghị Pavilion ở Rio de Janerio để bày tỏ lòng biết ơn của ngài về công việc của họ. Có đến hơn 60.000 tình nguyện viên đã làm việc trong hai năm qua chuẩn bị cho Ngày Giới trẻ Thế giới năm 2013. Tìm một biểu đồ biểu thị mối tương quan giữa các tình nguyện viên với 3,7 triệu tham dự viên, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm quý giá để định hướng chương trình mục vụ tại địa phương, cách riêng cho mục vụ giới trẻ. Khi lượng giá, ta không chỉ nói đến những cảm xúc cá nhân mà còn có cái nhìn khách quan và khoa học hơn đối với việc đón nhận hoa trái của Ngày Giới trẻ Thế giới. Bản thân người trẻ dễ thấy mình ở vị trí nào cách tâm của biểu đồ WYD? (World Youth Day: Ngày Giới trẻ Thế giới).
I/ BIỂU ĐỒ WYD – BIỂU ĐỒ NHÓM TRẺ
Nếu biểu thị 3,7 triệu người tham dự thánh lễ bế mạc bằng một vòng tròn gọi là C5, thì nhóm tình nguyện viên sẽ là một vòng tròn đồng tâm nhỏ hơn, vòng C1, và được coi là con tim của đại hội. Thuật ngữ lãnh đạo và quản lý nhân sự gọi nhóm này là đội ngũ nòng cốt (Core) tương ứng với vòng C1 - Nhóm C1.
Chắc chắn trong số 3,7 triệu người sẽ có rất nhiều bạn trẻ có mặt tại bãi biển Copacabana chỉ muốn được ngồi bên biển rộng, nằm dưới trăng cao, hoặc vui đùa trên cát trắng… Nhóm này được gọi là người trẻ cộng đồng, người của đám đông (Crowd) tương ứng với vòng C5 - Nhóm C5.
Giữa C1 và C5 có thể có các vòng tròn đồng tâm C2, C3, C4. Theo thứ tự từ tâm ra biên ta có thể biểu thị mức độ gắn kết với Giáo hội của các nhóm giảm dần từ trong ra ngoài:
C1 > C2 > C3 > C4 > C5
Biểu đồ WYD – biểu đồ các nhóm trẻ được biểu thị như sau:
 
C1: Core, nhóm nòng cốt
C2: Committed, nhóm cộng tác
C3: Community, nhóm đoàn thể
C4: Congregation, nhóm hội họp
C5: Crowd, nhóm đông
II/ TÂN PHÚC ÂM HÓA TRONG THẾ GIỚI NGƯỜI TRẺ
Sứ điệp của Thượng Hội đồng Giám mục về Tân Phúc âm hóa nói rằng: “… việc Tân Phúc Âm hóa này trong thế giới của các bạn trẻ là điều đặc biệt hứa hẹn, như nhiều kinh nghiệm cho thấy, một số hữu hình hơn, như những Ngày Giới trẻ Thế giới,…”. Từ biểu đồ WYD ta thấy phong cách loan báo Tin Mừng của Ngày Giới trẻ Thế giới:
– Có thể chỉ nhằm mục đích du lịch, thế nhưng đang khi ngắm biển, người trẻ C5/nhóm đông sẽ thấy những hình ảnh sống động của Giáo hội trên lễ đài, họ chợt nhận ra những ý nghĩa nghệ thuật của các diễn nguyện, họ thấy Chúa hiện diện trên các chặng đàng Thánh Giá dọc theo 4km bờ biển. Sau Ngày Giới trẻ Thế giới sẽ có những bạn trẻ mới biết Chúa, có những người trẻ xa Giáo hội nay được gắn kết gần gũi hơn trong các sinh hoạt, lớp giáo lý, hội họp, đoàn thể… và dần trở thành những tác nhân của nền văn minh tình thương. Sau khi rời khỏi Copacabana có người vẫn trở về cách sống cũ, mọi sự lạị đâu vào đấy. Vẫn có hy vọng vì ít ra đã có một tuần “không như cũ”, hạt giống đã được gieo đợi ngày nảy mầm.
– Với hơn 267 địa điểm dạy giáo lý về đức tin, Ngày Giới trẻ Thế giới tại Rio de Janeiro là cơ hội cho những bạn trẻ C4 khám phá ý nghĩa của niềm tin. Từ việc thích giao lưu kết bạn, người trẻ trở nên thân thiết trong tình bạn Giêsu. Việc lồng ghép nội dung giáo lý vào các sinh hoạt tạo nên “sân chơi giáo lý”, giúp người trẻ ngày càng gắn bó với Giáo hội và sẵn sàng dấn thân loan báo Tin mừng.
– Bạn trẻ C3 trong những đoàn thể sẽ có cơ hội gặp gỡ để sống linh đạo của đoàn thể mình trong tầm vóc quốc tế. Đây là dịp các đoàn thể có kế hoạch tài trợ cho các đoàn viên tham gia các chương trình gặp gỡ và huấn luyện riêng. Qua việc tiếp xúc với các đoàn thể khác, người trẻ vừa nhận ra đặc sủng của đoàn thể mình, vừa cảm nhận sự phong phú của Giáo hội như một vườn hoa muôn sắc. Từ đó người trẻ được thúc đẩy nỗ lực xây dựng Giáo hội trong tinh thần hiệp nhất.
– Qua những hoạt động xã hội kèm theo Ngày Giới trẻ Thế giới, có nhiều công trình phúc lợi được giới thiệu, nhiều dự án bác ái với những chứng từ được chia sẻ. Điều này khích lệ người trẻ nhóm C2 là những người đã trưởng thành về đời sống đức tin và sẵn có tinh thần hy sinh phục vụ người khác. Khi nhận ra chiều kích loan báo Tin mừng ngang qua các hoạt động xã hội, họ sẽ ý thức hơn về việc làm chứng cho Chúa trong việc phục vụ cộng đồng.
– Người trẻ nhóm nòng cốt là những người được đào tạo để hướng dẫn người khác. Họ có thể dấn thân với trách nhiệm cao hơn trong những sự kiện đa dạng diễn ra vào những ngày Giới trẻ Thế giới. Họ có thể đứng đầu một nhóm, chịu trách nhiệm điều hành mọi sinh hoạt của nhóm, có cơ hội tham gia sâu hơn trong cơ cấu của ban tổ chức các cấp, mở rộng tầm nhìn qua những kinh nghiệm làm việc chung mang tính quốc tế. Thành phần của nhóm nòng cốt có thể là những vị đặc trách giới trẻ, là linh mục, tu sĩ, giáo lý viên, linh hoạt viên… được tiếp tục đào luyện sau những ngày hội, được nâng cao tính chuyên nghiệp, được rèn luyện tinh thần hy sinh để trở thành những nhà lãnh đạo như lòng Chúa mong muốn.

III/ XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ LÃNH ĐẠO
1/ Dựa vào biểu đồ WYD, ta thấy vai trò của nhóm nòng cốt trong việc định hướng mục vụ.
– Cần khẩn trương thành lập nhóm trẻ nòng cốt tại giáo xứ. Nhóm này được đào tạo thường xuyên để ngày càng bén rễ sâu trong tình Chúa, phát triển khả năng lãnh đạo, rèn luyện nhân cách sẵn sàng dấn thân phục vụ .
– Nhóm nòng cốt sẽ cộng tác đắc lực với cha xứ và các vị hữu trách để phát triển Giáo hội địa phương, kéo người trẻ của nhóm đông về với Giáo hội. Người trẻ có cách thế nói về Chúa Giêsu cho người trẻ qua những phương tiện mà người trẻ có ưu thế: facebook, twitter,…
– Dễ dàng đào tạo nhóm nòng cốt ngay tại giáo xứ. Nhóm nòng cốt ít người nên ít tốn kém về tài chánh, dễ sắp xếp thời gian, dễ hiểu nhau để làm việc chung, gắn bó với nhau và với cha xứ.
– Nhóm nòng cốt có thể là những thành viên đang học và làm việc ở khắp nơi, nhưng vẫn liên kết với nhau lo cho giáo xứ quê hương của họ. Thậm chí mỗi khi cha xứ có nhu cầu, nhóm nòng cốt về quê với sự cộng tác của bạn bè nơi người trẻ sinh sống.
2/ Dựa vào biểu đồ WYD, quý linh mục đặc trách mục vụ giới trẻ dễ tìm được gợi ý để triển khai kế hoạch mục vụ:
– Bắt đầu từ nhóm nòng cốt là cánh tay nối dài của linh mục vì linh mục giỏi không phải là người làm hết mọi việc, mà là người biết mời gọi người khác cùng làm việc với mình.
– Tiến trình loan báo Tin Mừng là đưa người từ C5 -> C4 -> C3 -> C2 -> C1. Nhờ phân định như thế ta sẽ đỡ chán nản, từng bước thực hiện cách tự tin và vui vẻ đón nhận hoa trước, trái sau.
– Khi thay đổi nhân sự đặc trách mục vụ giới trẻ, tại địa phương vẫn có nhóm nòng cốt duy trì và thực hiện kế hoạch mục vụ cho đến khi ổn định nhân sự mới.
– Các sự kiện được tổ chức là cơ hội để vị đặc trách phát hiện nhân sự mới đáp ứng nhu cầu mục vụ, là cơ hội để người trẻ làm tông đồ cho người trẻ.
– Ngày Giới trẻ tại giáo xứ, giáo hạt, giáo phận, quốc gia… là khởi đầu cho người trẻ gặp Giáo hội, thêm hiểu biết và gia tăng mức độ yêu mến Giáo hội. Sự kiện không dừng lại ở những hoạt động sôi nổi bên ngoài, mà ngày càng đưa người trẻ tiến sâu vào hành trình thiêng liêng qua những khóa đào tạo, những tuần linh thao, những chuyến công tác xã hội, những buổi gặp gỡ kết nối tình thân…
Kinh nghiệm của Ngày Giới trẻ Thế giới giúp chúng ta kiên trì đầu tư cho việc tổ chức Ngày Giới trẻ tại giáo xứ, giáo hạt, giáo phận… với tâm tình của Thượng Hội đồng Giám mục về Tân Phúc Âm hóa là: “Chúng tôi biết ơn các bạn trẻ về phần chủ động trong công cuộc Phúc Âm hóa, cách riêng đối với chính giới trẻ”.


Lm Gioan Lê Quang Việt
Nguồn: http://www.hdgmvietnam.org/bieu-do-wyd-%E2%80%93-tu-gioi-tre-the-gioi-toi-muc-vu-gioi-tre-tai-dia-phuong/5297.24.16.aspx

Mật hội hồng y và giải nghi học



Tại mật hội bất thường các Hồng Y vừa qua, người ta chú ý tới vai trò của Đức Hồng Y Walter Kasper và bài diễn văn mở đầu của ngài. Ngày 20 tháng Hai, khi đưa tin về mật hội này, Đài Phát Thanh Vatican đã tường trình như sau: “Bài trình bày mở đầu của Đức Hồng Y Kasper, một bài trình bày sẽ không được công bố vì được nhằm để các tham dự viên sử dụng mà thôi bên trong ngữ cảnh của cuộc họp, đã chiếm hầu hết buổi sáng nay, ngoại trừ 10 phút sau cùng để một số vị nhận định. Tuy nhiên, chiều nay và sáng mai sẽ được dành để nhận định và thảo luận”.

Tín lý và thương xót

Bản tin nói thêm: “Bản trình bày của vị chủ tịch hưu trí của Hội Đồng Giáo Hoàng về Cổ Vũ Hợp Nhất Kitô Giáo ‘hòa hợp’ với lời Đức Giáo Hoàng Phanxicô phát biểu vào hôm nay. Tập chú của bài diễn văn gắn bó khăng khít với tập chú của Đức Thánh Cha: một cách thực tiễn và sâu sắc, nó sẵn sàng đối diện với tất cả những gì là tươi đẹp liên quan tới gia đình mà không tránh né các vấn đề của nó. Tuy nhiên, vấn đề đã được tiếp cận từ một quan điểm hết sức tích cực: tái khám phá và công bố Tin Mừng về gia đình theo kế hoạch Thiên Chúa, với tất cả mọi nét đẹp của nó, vì sự thật cũng thuyết phục nhờ cái đẹp. Một điểm chính yếu nữa trong bài diễn văn của Đức HY Kasper là ý niệm coi gia đình như tiểu Giáo Hội tại gia, và ý tưởng theo đó trong gia đình, Giáo Hội gặp được thực tại và nhờ thế thiết lập được đường đi tới tương lai; gia đình có thể là con đường ưu tuyển dẫn tới việc phúc âm hóa. Đức Hồng Y Kasper nói tới ‘Giáo Hội tại gia’ này theo nghĩa rộng, không những nhắc tới gia đình hạch nhân mà thôi, mà còn mở rộng ra cả các cộng đoàn, các nhóm tại giáo xứ nữa v.v…

Về quan điểm chính thức, Cha Lombardi gợi ý rằng tài liệu của Đức HY Kasper không cho rằng mình đề cập tới mọi chủ đề liên quan tới gia đình, cũng như không cố gắng chặn đầu Thượng Hội Đồng sắp tới, nhưng đúng hơn là một hình thức “mở cửa”. Phần dẫn nhập của nó dành cho việc tái khám phá Tin Mừng về gia đình, khởi đi từ gia đình trong trật tự tạo dựng, tức viễn kiến về gia đình trong Sách Sáng Thế và trong kế hoạch Thiên Chúa. Phần thứ hai tập chú vào cấu trúc tội lỗi bên trong gia đình: các vấn đề, các căng thẳng giữa người đàn ông và người đàn bà, thân xác và tinh thần, sự tha hóa của đau khổ nơi người đàn bà và nơi người mẹ, v.v… Sau cùng, nó thăm dò vấn đề gia đình trong trật tự cứu chuộc Kitô Giáo, bằng cách nhắc tới các bản văn lấy từ Tin Mừng và Tân Ước liên quan tới gia đình, như Thư gửi tín hữu Êphêsô. Nó cũng xem sét hôn nhân như Bí Tích, và ơn thánh hóa của nó.

Đức Hồng Y cũng nhắc tới vấn đề những người ly dị tái hôn, khảo sát chủ đề này một cách sâu sắc, có xếp sắp, và tinh tế (nuanced). Ngài nhắc lại rằng trong phạm vi này, điều cần là phải kết hợp việc chăm sóc mục vụ bằng bộ đôi không thể tách biệt nhau là đức tin và lời lẽ của Chúa Giêsu, và việc hiểu lòng Chúa thương xót. Đức Hồng Y nhắc tới công trình của Đức GH hưu trí Bênêđíctô XVI về vấn đề này, khi tự hỏi, vượt ra ngoài việc chặt chẽ hay lỏng lẻo, phải chăng bí tích thống hối có thể hiến cho ra một cách để thỏa hiệp (accommodating) các hoàn cảnh khó khăn. Ngài cũng nhắc lại bài diễn văn của Đức GH Phanxicô trước các giáo phẩm của Tòa Tối Cao Rôma vào đầu năm nay, trong đó, ngài nói tới sự thành hiệu của hôn nhân, khi quả quyết rằng các chiều kích luập pháp và mục vụ không hề chống đối nhau.

Cha Lombardi kết luận bằng các nhấn mạnh rằng Đức Hồng Y dành tầm quan trọng lớn lao cho “luật tiệm tiến” (law of gradualness), hay đúng hơn, việc tiến tới các hình thức mới trong việc thăm dò sâu xa mầu nhiệm cứu chuộc của Chúa Kitô, và hiều biết luật của Tin Mừng về sự thật”.

Làm thần học trong lúc qùy gối

Trong diễn từ khai mạc Mật Hội, Đức Phanxicô đã cám ơn Đức HY Kasper “về sự đóng góp giá trị” sắp diễn ra của ngài. Vào ngày thứ hai của Mật Hội, sau khi đọc các nhận định của Đức Hồng Y, ngài lại cám ơn Đức Hồng Y một lần nữa, và cho hay bài trình bày của Đức Hồng Y cho thấy một nền “thần học sâu sắc, thanh thản” phản ảnh “sensus ecclesiae (cảm thức Giáo Hội)… (tức) tình yêu đối với Mẹ Giáo Hội” vốn chứa đựng trong giáo huấn không của ai khác mà là của chính vị cha già linh đạo của Đức Phanxicô là đấng sáng lập Dòng Tên, Thánh Inhã thành Loyola. Theo Đức Phanxicô, có thể gọi công trình của Đức HY Kasper là “làm thần học trong lúc qùy gối”.

Quả là những lời khen nồng nàn dành cho một vị Hồng Y hưu trí. Theo Rocco Palmo, đây không hẳn là lần đầu tiên Đức Phanxicô công khai lên tiếng ca ngợi vị Hồng Y người Đức này. Ngay hôm 17 tháng Ba, 2013, nhân lúc đọc kinh truyền tin lần đầu tiên với 300,000 tín hữu trong tư cách Giáo Hoàng, Đức Phanxicô đã ca ngợi Đức HY Kasper là nhà thần học tinh tường (on the ball theologian). Ngài bảo: “Trong những ngày này, tôi có dịp đọc một cuốn sách của một vị Hồng Y, Đức Hồng Y Kasper, một thần học gia tinh tường, một thần học gia sáng giá, nói về lòng thương xót. Theo tôi, cuốn sách này là cuốn sách tốt thực sự… thực sự tốt… Đức Hồng Y Kasper nói rằng cảm nhận được lòng thương xót, thì từ ngữ này sẽ thay đổi mọi sự… nó thay đổi cả thế giới. Chỉ một chút xót thương thôi cũng làm thế giới bớt lạnh lùng và công chính hơn. Ta cần hiểu thấu lòng thương xót của Chúa, người Cha hay thương xót hết sức nhẫn nại này… Tiên tri Isaia nói rằng dù tội lỗi ta có thắm đỏ bao nhiêu, tình thương của Chúa cũng làm cho chúng trắng như tuyết. Lòng thương xót đẹp đẽ xiết bao!”.

Và cũng cái lòng thương xót ấy được Đức HY Kasper nhắc đi nhắc lại trong mật hội Hồng Y lần này. Không hiểu nó sẽ đóng vai trò gì trong việc lên khuôn cho chính sách mục vụ sắp tới đối với vấn đề hết sức gai góc hiện nay là việc rước lễ của các người Công Giáo ly dị tái hôn.

Bàn cãi sôi động

Theo Cha Lombardi, bài diễn văn của Đức HY Kasper đã khiến mật hội Hồng Y bàn cãi hết sức sôi động. Tính đến trưa ngày 21 tháng Hai, đã có 43 vị Hồng Y lên tiếng và còn nhiều vị khác lên tiếng vào buổi chiều cùng ngày. Nhiều vị khác đã góp ý bằng giấy tờ. Tất cả sẽ được đúc kết cho thượng hội đồng ngoại thường hồi tháng Mười về gia đình.

Cũng theo Cha Lombardi, trong số các chủ đề được các vị Hồng Y xem sét có ý niệm gia đình theo viễn tượng nhân học Kitô Giáo và giá trị của nó trong ngữ cảnh nền văn hóa bị tục hóa, một nền văn hóa đang đưa ra một quan niệm khác hẳn về gia đình, tính dục và con người, những điểm mà phương thức Kitô Giáo của ta đôi lúc gặp khó khăn.

Cuộc tranh luận hiển nhiên là nóng bỏng. Chính vì thế, Cha Lombardi phải nhấn mạnh rằng “Cuộc suy tư không diễn ra trong bầu khí kiện cáo, mà là trong bầu khí thực tiễn, xem sét mọi khó khăn đang thách thức Kitô Giáo trong một nền văn hóa có khuynh hướng đi theo hướng khác”. Cha cũng cho hay, nền thần học thân xác của Đức Gioan Phaolô II đã được trích dẫn nhiều lần cũng như thông điệp “Familiaris consortio” và Sách Giáo Lý Của Giáo Hội Công Giáo. Ngoài ra, Mật Nghị cũng đặc biệt bàn tới việc chuẩn bị hôn nhân và nền linh đạo hôn nhân và gia đình. Các ngài xem sét cả vấn đề ly dị tái hôn theo viễn tượng giáo luật nhằm cải tiến và đơn giản hóa thủ tục tuyên bố vô hiệu. Còn về việc rước lễ của những người này, các cuộc tranh luận đã diễn ra một cách sâu rộng và chi tiết, nhưng chưa đem lại một quyết định hay một công bố nào cụ thể. Cha cho hay: “về vấn đề này, không có căng thẳng cũng như lo âu nào, nhưng đúng hơn có một cách tiếp cận tích cực mang đặc tính biện phân và cùng nhau tìm kiếm cách tốt nhất để phối hợp việc trung thành với lời dạy của Chúa Giêsu và lòng Chúa thương xót cũng như lưu ý tới các hoàn cảnh chuyên biệt, luôn với một nhạy cảm lớn lao.

Cha Lombardi nhấn mạnh rằng ta không nên chờ mong một hướng đi duy nhất từ Mật Hội, mà đúng hơn chỉ là một dẫn nhập đầy khích lệ đưa ta vào Thượng Hội Đồng, là định chế sẽ xem sét vấn đề bằng một viễn kiến sâu rộng, có khả năng thăng tiến cách đáp trả mục vụ của Giáo Hội đối với hy vọng tận tâm can của rất nhiều người trong phạm vi này.

Giải nghi học

Chính Đức Phanxicô cũng nhìn nhận tính phức tạp của vấn đề. Ngài nói với Mật Hội rằng: “Các suy tư của ta luôn phải chú ý tới vẻ đẹp của gia đình và hôn nhân, vẻ cao cả của thực tại nhân bản này, một thực tại hết sức đơn giản nhưng cũng hết sức phong phú, bao gồm cả hân hoan và hy vọng, lẫn tranh đấu và đau khổ, giống như trọn cuộc sống ta. Ta sẽ tìm cách đào sâu nền thần học về gia đình và biện phân các thực hành mục vụ mà tình thế hiện nay đang đòi hỏi. Mong sao ta làm việc này một cách đầy suy nghĩ và không rơi vào lối “giải nghi học” (casuistry), vì lối này nhất thiết giảm thiểu phẩm tính công việc của ta… Ta được kêu gọi làm cho kế hoạch diệu kỳ của Thiên Chúa dành cho gia đình được người ta biết đến và giúp các cặp vợ chồng cảm nghiệm được kế hoạch đó cách hân hoan trong đời họ, cũng như đồng hành với họ giữa muôn vàn khó khăn bằng một việc săn sóc mục vụ vừa vững vàng, can đảm vừa đầy tình yêu thương”.

Muốn hiểu quan điểm của Đức Phanxicô về giải nghi học, ta phải nghe bài giảng của ngài trong thánh lễ buổi sáng tại Nhà Thánh Mácta trước khi tới Mật Hội. Trong bài giảng này, ngài nhắc lại các trình thuật trong Tin Mừng: về “tất cả những người tiếp cận Chúa Giêsu để trình bày với ngài các trường hợp điển hình như: trả thuế cho Xêda có hợp lề luật chăng?” hay trường hợp người góa phụ “khốn khổ, theo lề luật phải cưới cả bẩy người em của chồng để có đứa con cho chồng”.

Đức Phanxicô bảo “Đó chính là giải nghi học. Giải nghi học chính là nơi tìm tới của tất cả những ai tin mình có đức tin, mà thực ra chỉ biết nội dung của đức tin mà thôi. Do đó, khi ta gặp một Kitô hữu lên tiếng hỏi ‘có được phép làm điều này hay không, hay liệu Giáo Hội có làm điều này hay không’ thì có nghĩa ‘họ không có đức tin, hay đức tin của họ quá yếu’”.

Trái lại, ngay trong Tin Mừng, có những người “không biết tín lý nhưng có một đức tin vĩ đại”. Ngài nhấn mạnh thêm: “Theo lý thuyết, ta có thể đọc Kinh Tin Kính, dù không tin, và rất nhiều người làm như thế, kể cả ma qủy. Vì ma qủy biết rõ điều gì được đọc trong Kinh Tin Kính và biết rằng đó là Chân Lý”.

Ngài cho biết thêm, người rơi vào giải nghi học là rơi vào cạm bẫy ý thức hệ, “biết tín lý, nhưng không có đức tin, giống ma qủy. Chỉ khác một điều ma qủy thì run sợ còn những người này thì không run sợ, họ sống rất an nhiên tự tại”.

Đối với Đức Phanxicô, có hai thực tại trái ngược nhau: một đàng có những người có tín lý và hiểu biết sự việc, và đàng khác có những người có đức tin. Giữa họ có sự chắc chắn này: ‘đức tin luôn dẫn tới chứng tá. Đức tin là cuộc gặp gỡ với Chúa Giêsu Kitô, với Thiên Chúa’. Và cuộc gặp gỡ này ‘dẫn tới chứng tá’, như Tông Đồ Giacôbê đã nhấn mạnh trong Thư của ngài, rằng ‘đức tin không việc làm, đức tin không thực sự làm cho bạn can dự và không dẫn bạn tới việc làm chứng, không phải là đức tin. Nó chỉ là lời nói xuông, không hơn không kém lời nói xuông”.

Tóm lại, đức tin là cuộc gặp gỡ với Chúa Kitô, Đấng xót thương. Con đường xót thương này chắc chắn là con đường của Thượng Hội Đồng Ngoại Thường tháng Mười, 2014, và của Thượng Hội Đồng 2015 về gia đình.

Sau Mật Hội này, là cuộc họp của Hội Đồng Thượng Hội Đồng gồm 15 thành viên để soạn thảo Tài Liệu Làm Việc (instrumentum laboris), có thể được công bố vào dịp Phục Sinh. Chỉ tới lúc đó, ta mới thấy điều gì được đưa vào nghị trình Tháng Mười, điều gì không.

Phụ tá của Hans Kung

Theo Rocco Palmo, trong khi chờ đợi, điều khiến nhiều người lo âu là Đức HY Kasper vốn là phụ tá của Hans Kung, có lúc đã không cùng một ý nghĩ với Đức Bênêđíctô XVI tương lai, trong các vấn đề như tính tối thượng của Giáo Hội hoàn vũ hay Giáo Hội địa phương và trong vấn đề vốn khiến Đức Phanxicô mời gọi ta suy niệm thêm về cuộc sống gia đình: vị thế của những người Công Giáo ly dị tái hôn, nhất là việc rước lễ của họ.

Về việc “nhất định từ khước” không cho những người này rước lễ, năm 2001, Đức HY Kasper viết rằng: “không vị giám mục nào được im lặng hay đứng bàng quan khi chạm trán với hoàn cảnh này”. Năm 2005, ngài từ khước, không chấp nhận quyết định của thượng hội đồng giám mục về vấn đề này, cho rằng kết luận của thượng hội đồng nhằm duy trì thói quen không cho người ly dị tái hôn rước lễ “không phải là kết quả sau cùng”.

Gần đây nhất, tức ngày 20 tháng Mười Hai, bất chấp tuyên bố minh nhiên của Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, Đức HY Kasper vẫn cho rằng sẽ có thay đổi trong đường lối hiện nay của Tòa Thánh, nhờ thế, những người Công Giáo ly dị tái hôn sẽ được rước lễ. Nói với tờ báo Đức Die Zeit, ngài cho rằng “các Kitô hữu muốn sống bằng đức tin với Giáo Hội, chịu thừa nhận mình lầm lẫn khi phá bỏ cuộc hôn nhân đầu, một việc họ ân hận, đối với họ, nên có cách để họ trở lại tham dự đầy đủ vào đời sống Kitô hữu và đời sống Giáo Hội”. Ngài cho rằng “điều có thể đối với Thiên Chúa, tức tha thứ, phải giúp để thực hiện được việc này trong Giáo Hội”.

Người ta cho rằng chủ trương của Đức HY Kasper phản ảnh chủ trương của đa số các giám mục Đức. Ta còn nhớ hồi tháng Mười năm ngoái, Tổng Giáo Phận Freiburg từng công bố một tài liệu trình bày các kế hoạch nhằm cho phép người Công Giáo ly dị tái hôn rước lễ, nếu họ đoan hứa sẽ nhận “trách nhiệm luân lý mới” với người phối ngẫu sau. Để trả lời, Đức TGM Gerhard Müller, bộ trưởng Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin, đã viết một bài trên tờ L’Osservatore Romano quả quyết rằng việc không cho phép những người ly dị tái hôn không được rước lễ đến nay vẫn còn được duy trì. Ngài yêu cầu các giám mục Đức rút lại tài liệu vừa nói. Các giám mục Đức không thoả mãn yêu cầu này bằng cách cho thấy: trong cuộc họp vào tháng Mười Một, họ đã bỏ phiếu chấp nhận tài liệu này và tài liệu này sẽ được thông qua vào dịp họp thường niên, tháng Ba, 2014.

Nhận định việc trên, Sandro Magister cho rằng tại Đức, phần lớn tài trợ của Giáo Hội phát sinh từ Thuế Nhà Thờ, theo đó, người chịu thuế cho biết mình thuộc Giáo Hội nào để chính phủ trích một phần thuế họ đóng để tài trợ cho Giáo Hội của họ. Việc Giáo Hội Công Giáo không chịu nhúc nhích gì trong việc cho phép người ly dị tái hôn rước lễ đang làm nguồn tài trợ thuế này giảm đi đáng kể vì những người này thay đổi Giáo Hội của họ trên tờ khai thuế. Nguồn tài trợ này, năm 2011, lên tới 5 tỷ Euro.

Chính vì thế, các giám mục Đức luôn than thở việc mất tín hữu và đổ lỗi cho Giáo Hội đã không chịu thay đổi giáo huấn về ly dị. Tuy nhiên, báo chí thế tục Đức thì cho rằng: nguyên nhân chính gây ra tình thế mất tín hữu là do tai tiếng các giáo sĩ lạm dụng tính dục.

Xu hướng Đức nói trên quả là đáng lo ngại. Tuy nhiên, nhìn vào việc cử nhiệm của Đức Phanxicô dành cho Thượng Hội Đồng sắp tới, bầu trời không hẳn bi thảm như nhiều người nghĩ. Bộ ba thay phiên nhau chủ tọa THĐ sẽ là các Đức HY André Vingt-Trois của Paris, Luis Antonio Tagle của Manila và Raymundo Damasceno Assis của Aparecida, cựu chủ tịch CELAM và là đồng minh gần gũi của nguyên TGM Bergoglio. Hơn nữa, tháng Mười năm ngoái, Đức Phanxicô còn cử nhiệm giáo chủ Hung Gia Lợi, Đức HY Peter Erdö của Budapest, một vị vốn được coi là bảo thủ, làm Tổng Tường Trình Viên của THĐ 2014, và Bruno Forte, vị giám mục thần học gia Ý, làm Tổng Thư Ký.

Vẫn chưa hết, THĐ 2014 vẫn chưa là giai đoạn chót vì THĐ 2015, một cuộc họp lớn hơn, trong đó, có cả các đại biểu không thụ phong, mới có tính quyết định.

Vũ Văn An
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/121735.htm

Chủ Nhật, 23 tháng 2, 2014

Phá thai và Giáo huấn Xã hội Công giáo


Giáo Hội Công Giáo Hội đủ điều kiện để lên tiếng một cách có thẩm quyền về vấn đề phá thai.


Điều này, như Đức Gioan Phaolô 2 đã dạy rõ, là ưu tiên số một của Tư Tưởng Xã Hội Công Giáo ngày nay — và tất yếu phải được diễn tả không phải chỉ như tư tưởng xã hội, mà còn bằng hành động xã hội nữa. Xin giới thiệu bài viết của Linh mục Thomas D. Williams, Khoa trưởng Thần Học và giáo sư môn Học Thuyết Xã Hội Công Giáo tại Đại Học Nữ Vương các Thánh Tông Đồ tại Roma.

Khi lần đầu tiên cầm trên tay cuốn Tóm Lược Học Thuyết Xã Hội Công Giáo nhiều tháng trước khi sách được phát hành rộng rãi năm 2004, tôi cảm thấy một sự ngạc nhiên thích thú khi đọc đoạn văn đề cập cụ thể và kết án thẳng thừng nạn phá thai trong ngữ cảnh bàn về các quyền con người và cả ở đề tài gia đình là cung thánh của Sự Sống. Sự kiện bất nhất là chủ đề phá thai thường được xem là nằm ngoài môn Học thuyết Xã hội Công Giáo được giảng dạy tại hầu hết các Chủng Viện và các Đại Học Công Giáo.

Điều này phần lớn do các thông điệp xã hội, khởi đầu với thông điệp thời danh Rerum Novarum (Tân Sự) năm 1891 của Đức Giáo Hoàng Lêô XIII, tương đối ít đề cập đến vấn đề phá thai. Trong toàn bộ chín thông điệp xã hội, từ “phá thai” xuất hiện chỉ bốn lần, không lần nào vấn đề được đề cập rốt ráo.

Một phần, sự im lặng này là do chỉ tương đối gần đây thôi, phá thai mới xuất hiện như vấn đề luân lý trên diện rộng. Với sự phát triển khả năng giết người cũng như cứu người của y khoa, con số ca phá thai đã lên đến mức báo động trong bốn thập niên qua. Do đó, lần đầu tiên phá thai được đề cập đến trong một thông điệp xã hội là vào năm 1971 với Tông Thư Octogesima Adveniens (Năm thứ tám mươi) của Đức Giáo Hoàng Phaolô VI. Ở đây Đức Phaolô nhắc đến việc phá thai trong ngữ cảnh các giải pháp Malthus cho vấn đề thất nghiệp (số 18).

Một phần khác nữa, sự im lặng phản ánh sự hiểu biết phổ biến phá thai như vấn đề đạo đức y khoa hơn là vấn đề công bằng xã hội, lĩnh vực chính của tư tưởng xã hội Công Giáo. Chính Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là người thực tế đã xoay chiều tình huống, mạnh mẽ đưa vấn đề phá thai vào trong Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo.


Trong Thông Điệp Evangelium Vitae (Phúc Âm Sự Sống) năm 1995 ngài đề cập đến vấn đề một cách toàn diện, đặt vấn đề vào trong nội dung công bằng xã hội. Khi bắt đầu thảo luận về tính trầm trọng của những cuộc tấn công chống lại Sự Sống ngày nay, đặc biệt là việc phá thai, Đức Gioan Phaolô rõ ràng gợi ta nhớ đến thông điệp Rerum Novarum và ngài đã so sánh các vấn đề Sự Sống ngày nay với vấn đề công nhân thời Đức Lêô:

Cách đây một thế kỷ chính các công nhân mới là giai cấp bị áp bức về các quyền cơ bản của mình, điều Hội Thánh bảo vệ họ một cách rất can đảm bằng cách tuyên bố các quyền thiêng liêng của công nhân với tư cách là một con người, cho nên bây giờ, khi một loại người khác đang bị áp bức về quyền cơ bản đối với Sự Sống, Hội Thánh cảm thấy có nhiệm vụ phải nói thẳng cũng với sự can đảm đó thay cho những ai không có tiếng nói. Tiếng kêu của Hội Thánh luôn luôn là tiếng kêu Phúc Âm bảo vệ những người nghèo trên thế giới, những người bị đe dọa và khinh miệt và bị vi phạm các quyền con người (số 5).

Đoạn văn này, từ những trang đầu tiên của Evangelium Vitae đóng khung toàn bộ câu hỏi về phá thai theo Giáo Huấn của Hội Thánh. Nếu thông điệp năm 1891 của Đức Lêô XIII tập chú vào số phận giai cấp công nhân là giai cấp xã hội cần nhất đến sự bảo vệ can trường vào lúc đó, thì sự chú ý của Huấn Quyền xã hội ngày nay nên chuyển sang lớp mới những người bị áp bức này. Đức Gioan Phaolô II nói tiếp:

“Ngày nay có muôn vàn con người yếu đuối, không phương tiện tự vệ, bị coi rẻ trong quyền căn bản được sống còn, đặc biệt là trường hợp các hài nhi sắp được sinh ra. Nếu vào cuối thế kỷ trước Giáo Hội không được im lặng trước những bất công ở thời đó, thì ngày nay Giáo Hội càng không thể im lặng, khi mà cùng với những bất công, lại tăng thêm, trên nhiều miền ở khắp thế giới, những bất công và những hiện tượng áp bức còn nặng nề hơn, đôi khi được trình bày như là những yếu tố của tiến bộ nhằm tổ chức trật tự thế giới mới” (số 5).

TẠI SAO PHÁ THAI ĐÁNG CHÚ Ý MỘT CÁCH ĐẶC BIỆT TRONG GIÁO HUẤN XÃ HỘI CÔNG GIÁO?

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô 2 thấy rằng phá thai là một vấn đề đạo đức và xã hội mang tính tượng trưng và đặc thù, đáng được sự tập trung chú ý trong tư tưởng xã hội Công Giáo. Để diễn tả tính đặc thù của việc phá thai với tính cách một vấn đề về công bằng xã hội, đây là sáu đặc điểm phân biệt phá thai với các hiện tượng xã hội có liên quan:

1. Phá thai liên quan cụ thể đến vấn đề hủy diệt Sự Sống vô tội. Điều này phân biệt việc bàn về phá thai với các đề tài có liên quan khác. Ta không bàn về việc giết kẻ địch, như trong chiến tranh, hoặc những kẻ sát nhân đã bị kết án, như trong trường hợp hình phạt tử hình, vị Hồng Y lúc đó là Joseph Ratzinger vào tháng 6 năm 2004 đã viết: “Có thể có một số sự khác biệt chính đáng về ý kiến ngay cả trong số những người Công Giáo về việc tiến hành chiến tranh và áp dụng hình phạt tử hình, nhưng tuy nhiên đối với vấn đề phá thai và an tử thì không”. Mặc dù mọi Sự Sống đều quý giá, thần học luân lý đã luôn luôn phân biệt việc hủy diệt “Sự Sống vô tội” là đặc biệt xấu và luôn luôn đáng phải lên án ở bất kỳ nơi đâu. Không ai có thể “trong bất kỳ trường hợp nào, tự biện minh cho mình quyền hủy diệt trực tiếp một sinh mạng vô tội” (Bộ Giáo lý Đức Tin, Donum Vitae, 76-77).

Không ai vô tội hơn và vô phương tự vệ cho bằng một trẻ em chưa sinh.

2. Một nhân tố khác phân biệt phá thai với tính cách một hiện tượng xã hội chính là biên độ của vấn đề: hàng năm ước có khoảng 46 triệu ca phá thai được thực hiện trên thế giới, một con số tự bản thân nó đã khiến cho phá thai trở thành một vấn đề xã hội với những tỷ lệ làm ta thảng thốt. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô viết: “Nhân loại thời nay bày ra một cảnh tượng thật sự đáng báo động nếu chúng ta xem xét không những mức độ ác liệt của những cuộc tấn công tràn lan đối với Sự Sống mà còn ở quy mô chưa từng nghe thấy về số lượng những cuộc tấn công” (Evangelium Vitae, số 17).

Một vụ giết người đơn độc có thể là một vấn đề xã hội, nhưng là một vấn đề xã hội có giới hạn. Một kẻ giết người hàng loạt thì gây ra một vấn đề xã hội nghiêm trọng hơn. Nhưng các vụ giết người mỗi năm lên đến hàng triệu người đòi hỏi phải có hành động ngay lập tức và quyết liệt. Số lượng các vụ phá thai nêu bật tính xã hội của vấn đề, và làm cho phá thai trở thành một trong những vấn đề công bằng xã hội nghiêm trọng nhất của mọi thời.

3. Một nhân tố thứ ba phân biệt phá thai với các vấn đề công bằng khác là tính pháp lý của nó. Không giống với các trường hợp giết Sự Sống con người hàng loạt khác, như khủng bố hoặc giết người hàng loạt, rõ ràng là bị liệt ra ngoài vòng pháp luật tại các nước tiên tiến, phá thai được hưởng sự miễn trừ pháp lý. Phá thai hủy diệt Sự Sống con người một cách có hệ thống, hợp vệ sinh, hợp pháp.

Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô đã viết về tính mới mẻ của “những đe dọa được lập trình một cách khoa học và có hệ thống” (Evangelium Vitae, số 17). Sau này, ngài có nhận xét về tính đặc thù của phá thai là một quyền pháp lý.

Sau khi liệt kê hàng loạt các đe dọa khủng khiếp đối với Sự Sống con người, như nạn suy dinh dưỡng, chiến tranh và nạn buôn bán vũ khí, ngài tương phản các đe dọa này với một loại đe dọa mới đối với Sự Sống. Chẳng những các cuộc tấn công đối với Sự Sống không còn bị xem là tội ác, nhưng, ngài viết “chúng mặc lấy một cách nghịch lý tính chất “các quyền”, đến nỗi người ta đòi hỏi Nhà Nước cho họ được sự nhìn nhận hợp pháp và thực hiện các quyền đó thông qua các dịch vụ miễn phí do các nhân viên chăm sóc sức khỏe tiến hành” (Evangelium Vitae, số 11).

4. Khía cạnh mang tính phân biệt thứ tư của phá thai là sự phân chia tùy tiện con người thành những người đáng sống và những người không đáng sống. Phá thai không phải giết bừa những cá nhân không có liên hệ mà là với sự khoanh vùng cả một lớp mới những con người (chưa sinh) như những phi-nhân-vị (non-persons), bị loại trừ khỏi các quyền và sự bảo vệ cơ bản được dành cho tất cả các con người khác. Bằng cách này, phá thai bắt chước các đại thảm kịnh lịch sử của mọi thời, luôn luôn bắt đầu bằng cách vu vạ cho cả một lớp người là không đáng sống hay đáng được tự do.

Về mặt lịch sử, các tội ác xã hội lớn nhất đối với nhân loại – nạn diệt chủng, tệ phân biệt chủng tộc, phá thai, chủ nghĩa bài Do Thái, phân biệt giới tính, nạn nô lệ – đã luôn luôn vi phạm nguyên tắc bình đẳng, đưa toàn bộ một bộ phận của gia đình nhân loại xuống một vị trí thấp hơn với một phẩm giá nằm dưới những người còn lại. Vì nhân quyền xuất phát từ nhân phẩm, nên một khi phẩm giá bị đặt vấn đề thì các quyền bình đẳng cũng đành chịu chung một số phận.

Nếu nhân phẩm tùy thuộc vào một cái gì đó không phải là địa vị thành viên nhân loại – cho dù cái đó có là trí thông minh, khả năng thể thao, vị trí xã hội, chủng tộc, tuổi tác, hoặc sức khỏe – ta ngay lập tức thấy như thế là đã phân biệt ra hai hạng người: những người có thế giá và những người không. Như Đức Gioan Phaolô đã viết:

“Làm sao còn nói được tới phẩm giá của nhân vị, khi người ta giết những kẻ yếu nhất và vô tội nhất ? Nhân danh công lý nào mà người ta thực hiện sự kỳ thị đến mức bất công đối với những con người như thế, bằng cách tuyên bố rằng một số những người này đáng được bảo vệ, còn những người kia thì bị từ chối quyền sống?” (Evangelium Vitae, số 20).

5. Phá thai còn tự phân biệt khỏi các vấn đề khác về y đức, như an tử và giúp người khác tự tử, bởi sự thiếu vắng khả năng có sự đồng ý được thông báo. Tình trạng của người chưa sinh là người không có tiếng nói và hầu như vô phương tự vệ, như vậy đây là một chiều kích cần thêm vào các cuộc thảo luận về tính luân lý và sự nghiêm trọng của việc phá thai. Ở đây phạm trù đạo đức sinh học gọi là “quyền tự chủ” không thể áp dụng được, vì trẻ chưa sinh không có cách nào tự lên tiếng được.

6. Cuối cùng, phá thai không giống các tệ nạn xã hội chủ yếu khác như thất nghiệp và ly dị bởi vì tính vô hình tương đối của nó. Không những chính các nạn nhân không có tiếng nói mà những ai có lợi ích từ việc phá thai không hề mảy may lên tiếng trước công chúng; nói chung, các bà mẹ và các gia đình là nạn nhân thứ hai của việc phá thai cũng không lên tiếng. Ngay cả các nhà lập pháp cũng thận trọng về những cuộc thảo luận thẳng thắn về hiện tượng phá thai, còn quảng cáo để bảo vệ Sự Sống thì bị cấm tại hầu hết hệ thống truyền hình.

Phá thai diễn ra đằng sau những cánh cửa đóng kín, và không được đưa ra trước công chúng. Như trong trường hợp nô lệ, việc chấm dứt tình trạng bất công xã hội của việc phá thai chủ yếu tùy thuộc vào lòng can đảm và sự sẵn lòng lên tiếng của những con người và các tổ chức không trực tiếp can dự vào việc phá thai.

SỰ ĐÓNG GÓP CỤ THỂ CỦA CÁC TƯ TƯỞNG XÃ HỘI CÔNG GIÁO TRONG VẤN ĐỂ PHÁ THAI

Tư tưởng Xã Hội Công Giáo đề ra hai yếu tố cần phân biệt trong cuộc tranh luận về phá thai.

Trước hết, nó đặt ra nhịp cầu giữa thần học luân lý và việc thảo luận công khai. Trong kinh nghiệm lâu dài xử lý các vấn đề xã hội, Hội Thánh không những đã tìm cách trình bày chân lý Kitô giáo trong tất cả sự phong phú của chân lý, nhưng còn tìm cách ảnh hưởng đến các Kitô hữu và mọi người thiện chí trong việc xây dựng một nền văn minh công lý và tình yêu.

Nhằm mục đích này, Giáo Huấn Xã Hội Công Giáo thường sử dụng từ vựng luật tự nhiên hướng đến tất cả những người thiện chí, và đưa ra những lập luận có sử dụng các khái niệm và cách cấu tạo dễ tiếp cận có thể đem ra thảo luận về luân lý trong một môi trường trong đó người ta không công khai tuyên xưng các xác tín chung (a non-confessional environment).

Thứ hai, có lẽ hơn bất kỳ định chế nào trên thế giới, Hội Thánh trong Giáo Huấn Xã Hội của mình đã phát triển một số các nguyên tắc nhằm giải đáp các vấn đề luân lý phức tạp trong xã hội.

Vì các tình huống mới phát sinh từ khung cảnh chính trị-xã hội đang thay đổi nhanh chóng, cho nên Hội Thánh đã cho thấy sự uyển chuyển đáng khâm phục trong việc thích ứng với các tình thế mới trong khi vẫn đang bảo vệ phẩm giá chính yếu của nhân vị và gia đình.

Một trường hợp điển hình là lập trường ưu tiên chọn lựa người nghèo của Hội Thánh, một nguyên tắc Phúc Âm, chủ ý nhấn mạnh vào và chú ý đến những người đang cần trợ giúp nhất. Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II gọi đó là “một hình thức đặc biệt của việc ưu tiên thực hiện bác ái Kitô Giáo” ảnh hưởng trên cuộc sống mọi Kitô hữu (Sollicitudo Rei Socialis – Thông điệp Quan tâm đến các Vấn đề xã hội, số 42).

Trong nhiều dịp, Huấn Quyền đã giải thích rõ là “người nghèo” muốn nói ở đây không phải là một giai cấp xã hội, hoặc chính là những người chịu sự thiếu thốn vật chất, nhưng bao gồm những người chịu mọi nỗi khốn cùng và túng quẫn. Ta đọc trong sách Giáo Lý: “Sự khốn cùng này đã khiến Ðức Kitô chạnh lòng thương xót và mang lấy thân phận khốn cùng của con người và tự đồng hóa với người bé nhỏ trong các anh em” (số 2448).

Như một người mẹ tuy dành nhiều thời gian và sức khỏe cho một đứa con đang bị bệnh, nhưng không vì lý do đó mà yêu thương những đứa con khác ít đi, các Kitô hữu được kêu gọi tập trung các nỗ lực để ưu tiên dành cho những người túng thiếu và vô phương tự vệ nhất trong chúng ta. Áp dụng nguyên tắc này vào xã hội đương thời, thì bất công xã hội đang kêu gào lớn nhất đối với lương tâm Kitô hữu, vì các lý do đã nêu, lại là cuộc tấn công có chủ đích và trên diện rộng nhắm vào những thành viên yếu đuối nhất của xã hội, là những trẻ chưa sinh.

Trong truyền thống đáng kính đứng lên bảo vệ những thành viên vô phương tự vệ nhất của xã hội, Giáo Hội Công Giáo Hội đủ điều kiện để lên tiếng một cách có thẩm quyền về vấn đề phá thai. Điều này, như Đức Gioan Phaolô Vĩ Đại đã dạy rõ, là ưu tiên số một của Tư Tưởng Xã Hội Công Giáo ngày nay — và tất yếu phải được diễn tả không phải chỉ như tư tưởng xã hội, mà còn bằng hành động xã hội nữa.

Linh mục Thomas D. Williams
(Đan Quang Tâm dịch )