Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Sáu, 3 tháng 7, 2020

Ki-tô hữu sống đạo: Chọn Chúa hay chọn việc của Chúa

KI-TÔ HỮU SỐNG ĐẠO: CHỌN CHÚA HAY CHỌN VIỆC CỦA CHÚA
Aug. Trần Cao Khải
WHĐ (2.7.2020) - Có lẽ trong đời sống đức tin, phần đông tín hữu chúng ta ưa thích làm những việc của Chúa hơn quan tâm chọn Chúa làm trung tâm và cùng đích của đời mình. Tất nhiên, nói như vậy không có nghĩa là chúng ta phủ nhận tinh thần tích cực và lòng nhiệt thành của những ai thực thi những việc của Chúa, từ trong những lễ nghi thờ phượng cho đến những phục vụ trong sinh hoạt cộng đoàn Dân Chúa. Nhưng trên hết, đối tượng mà chúng ta chọn lựa ưu tiên trong đời sống đức tin vẫn luôn luôn là Chúa, Đấng là tất cả trong mọi sự. 
Vậy, để không rơi vào ảo tưởng cho rằng mình đã giữ đạo tốt lành, đúng ý Chúa, chúng ta cần phân biệt cách rạch ròi sự khác biệt giữa Chúa và việc của Chúa.
Đức cố Hồng Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã dành chương 2 trong cuốn sách nổi tiếng “Năm chiếc bánh và hai con cá” để chia sẻ kinh nghiệm thực tế của cá nhân ngài liên quan vấn đề “Phân biệt giữa Chúa và việc của Chúa”.
Ngài kể lại câu chuyện của bản thân ngài như sau:
Lúc tôi còn là một linh mục sinh viên ở Roma, có một người đã bảo tôi: Ðức tính lớn nhất của bạn là ‘hăng say nhiệt tình’, còn tính xấu tệ nhất là ‘hay tấn công’. Dù thế nào đi nữa, tôi là một người ham hoạt động: hướng đạo sinh, tuyên úy tráng đoàn La-vang, cắm trại trên núi Bạch Mã... Một tư tưởng thúc bách tôi mỗi ngày: phải chạy đua với đồng hồ! Làm tất cả những gì có thể được để củng cố và phát triển Giáo hội trong Giáo phận Nha Trang, trước khi thời gian khốn khó xảy đến, khi phải sống dưới chế độ mới!
Trọng tâm hoạt động của tôi là huấn luyện nhân sự: gia tăng đại chủng sinh từ 42 đến 147 trong tám năm; gia tăng số tiểu chủng sinh từ 200 đến 500 trong bốn chủng viện; tu nghiệp các linh mục trong sáu giáo phận của Giáo tỉnh miền Trung; phát triển và huấn luyện các phong trào thanh niên, giáo dân, các hội đồng giáo xứ, mục vụ... Tôi rất quí mến giáo phận đầu tiên của tôi là Nha Trang.
Giờ đây, tôi phải đi vào Sàigòn lập tức, theo lệnh Ðức Phaolô VI bổ nhiệm. Không kịp từ biệt những ai đã từng hiệp nhất với tôi trong cùng một lý tưởng, cùng một quyết tâm, cùng chia sẻ hân hoan và thử thách.
Ðêm ấy 7-5-1975, khi tôi ghi âm những lời tạm biệt Giáo phận Nha Trang, tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc nhiều, đó là một lần độc nhất tôi đã khóc thổn thức trong tám năm ở Nha Trang - vì thương nhớ. Nhưng tâm hồn tôi rất bình an, vì tôi vâng lời Ðức Thánh Cha.
Tiếp đến là gian khổ thử thách tại Sàigòn, là bị bắt đưa trở lại Nha Trang, nơi mà tôi đã bị biệt giam khắc nghiệt nhất, không xa Tòa Giám mục của tôi. Sáng tối tôi nghe tiếng chuông nhà thờ chánh tòa như xé nát tim tôi. Ðêm đến tôi nghe tiếng sóng biển vỗ cạnh buồng biệt giam.
Từ Nha Trang tôi bị đưa trở lại Sàigòn, ở trại Thủ Ðức, vùng Tam Hà, ngày đêm nghe không biết bao nhiêu tiếng chuông nhà thờ. Ðêm 1-12-1975, cùng với 1.500 bạn tù đói, mệt, chán nản, còng tay hai người chung một khóa số 8, bước xuống gầm tàu ‘Hải Phòng’ đậu tại bến Tân Cảng gần cầu xa lộ, để chở ra trại cải tạo Vĩnh Quang, tỉnh Vĩnh Phú, trong thung lũng núi Tam Ðảo, mùa đông 1976-77 rét 20C.
Ðặc biệt nhất là nỗi gian khổ của 9 năm biệt giam một mình với hai người gác, không bạn bè, không có việc làm, tôi ở trong một sự trống rỗng tuyệt đối, đến mức có thể điên đi được. Tôi đi lại suốt ngày trong buồng giam, để vận động cơ thể kẻo nằm luôn thì tôi sẽ chết vì thấp khớp, viêm phổi.
Nhiều lúc một mình, tôi bị đau khổ giày vò, tại sao đang lúc mình 48 tuổi, trưởng thành và khỏe mạnh, sau tám năm Giám mục tôi đã có nhiều kinh nghiệm mục vụ, lại phải vào phòng biệt giam, xa giáo phận những 1.700 km?
Một đêm thanh vắng, một tiếng từ đáy lòng nhắc nhở tôi: “Tại sao con quẫn trí, hoang mang như thế làm gì? Con phải biết phân biệt giữa Chúa và công việc của Chúa. Những gì con đã làm và tiếp tục làm như kinh lý giáo phận, huấn luyện nam nữ tu sĩ, giáo dân, thanh niên, kiến thiết thánh đường, cư xá sinh viên, mở mang các thí điểm truyền giáo vv... tất cả những công tác ấy đều là những việc tốt lành, là việc của Chúa, nhưng không phải là Chúa! Nếu Chúa muốn con trao tất cả các việc ấy trong tay Ngài, con hãy làm ngay, và hãy tin tưởng vào Ngài. Chúa có thể làm tốt hơn con muôn nghìn lần. Ngài có thể trao việc của Ngài cho những người tài đức hơn con. Hãy chọn một mình Chúa thôi, chọn thánh ý Ngài, chứ đừng chọn việc của Chúa!”.
Tôi luôn luôn học tập làm theo ý Chúa. Nhưng ánh sáng này mang lại cho tôi một sinh lực mới, thay đổi tận gốc lối suy nghĩ của tôi, giúp tôi vượt qua những bước gian truân mà hầu như cơ thể không chịu đựng nổi. Từ đây tôi cảm thấy trong lòng tôi ‘một sự bình an mà thế gian không cho được’.
Theo tính tự nhiên, những lúc chương trình đang thực hiện tốt đẹp phải bỏ dở, hoạt động đang hăng say phải bó tay, nhiệm vụ đang quan trọng phải hạ tầng công tác! Uất ức và chán nản! Tôi tự hỏi: Chúa gọi con ‘Hãy theo Thầy’ hay ‘Hãy theo việc nọ, người kia?’ Ðể đó, Chúa sẽ liệu, Ngài sẽ giải quyết tốt hơn con là cái chắc…
Trong lúc bị giam cầm tù tội thế này, câu nói chủ đạo của ngài vẫn là: “Tôi phải chọn Chúa chứ không phải việc của Chúa: Chính Chúa muốn cho tôi ở đây, chứ không phải nơi khác”.
Và ngài đã cầu nguyện: Trước bàn thờ, bên Mình Thánh Chúa, con nghe Chúa Giêsu bảo con: “Con hãy theo Chúa, chứ không phải theo việc của Chúa!”. “Nếu Chúa muốn, con hãy trao việc Chúa lại trong tay Chúa, Chúa sử dụng ai tiếp tục, mặc ý Chúa. Có Chúa lo, mà Chúa lo thì muôn vạn lần hơn con lo. Con hãy chọn một mình Chúa”. [1]
Như vậy, ta thấy chọn Chúa là việc ưu tiên số một, nó quan trọng hơn gấp ngàn lần khi ta chọn lựa công việc của Chúa. Tất nhiên, chọn Chúa không hề là một việc dễ dàng chút nào. Bởi vì, khi chọn Chúa, chúng ta phải hy sinh cái “Tôi”, phải chịu từ bỏ ý riêng để chu toàn thánh ý Chúa, phải vâng lời Chúa hơn là nghe theo người phàm. Trong khi đó, kinh nghiệm cho thấy khi say mê làm những công việc của Chúa, chúng ta thường đem cái “Tôi” vào trong đó để đánh bóng, tô son những việc chúng ta làm. Và như thế chúng ta đã dần dần loại Chúa ra khỏi những gì mà chúng ta tưởng rằng mình làm vì Chúa, cho Chúa.
Do đó, trong đời sống đạo của mình, chúng ta nên thường xuyên đặt câu hỏi cho mình: “Tôi đã và đang chọn Chúa hay chọn việc của Chúa?”.
I- NHƯ THẾ NÀO LÀ CHỌN CHÚA?
Câu chuyện hai chị em gia đình Bê-ta-ni-a đón tiếp Đức Giê-su đến thăm đã được thánh sử Lu-ca phác họa một cách ngắn ngủi nhưng sinh động và ẩn chứa nhiều ý nghĩa đặc biệt (x. Lc 10, 38-42).
Điều khiến cho chúng ta vừa thắc mắc vừa kinh ngạc khi khám phá ra sự khác biệt về thái độ và tâm trạng của hai chị em Mác-ta và Ma-ri-a trong cùng một sự kiện, đó là việc đón tiếp Chúa ở nhà mình. Cũng với lòng yêu mến Chúa như nhau, nhưng Mác-ta thì tất bật lo việc phục vụ bên ngoài, trong khi Ma-ri-a thì cứ ngồi bên chân Chúa mà nghe lời Ngài dạy. Còn Chúa thì Ngài phản ứng thế nào? Chắc chắn Chúa cũng thương mến cả hai chị em như nhau, nhưng Ngài đã nghiêng về sự lựa chọn của Ma-ri-a, “Mác-ta! Mác-ta ơi! Chị băn khoăn lo lắng nhiều chuyện quá! Chỉ có một chuyện cần thiết mà thôi. Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất và sẽ không bị lấy đi” (Lc 10, 41-42).  
Chỉ có một chuyện cần thiết và Ma-ri-a đã chọn phần tốt nhất”. Đó là lời khẳng định dứt khoát của Chúa và lời ấy đã vén mở cho ta về cách sống đạo đẹp lòng Chúa nhất. Khác hẳn với Mác-ta, Ma-ri-a đã coi việc ngồi bên chân Chúa, nghe lời Ngài dạy là chuyện cần thiết và ưu tiên hơn là lăng xăng lo phục vụ cơm nước bên ngoài. Ma-ri-a cũng không phải là người vô cảm, vô trách nhiệm nhưng cô đã nghe theo tiếng nói của trái tim, của lòng mến, của niềm tin để chọn phần tốt nhất. 
Có thể nói, Ma-ri-a trong câu chuyện này của Lu-ca đã trở thành hình mẫu người Ki-tô hữu đẹp lòng Chúa hơn cả. Bởi vì, “Để làm môn đệ Chúa Giê-su, điều quan trọng trước hết và trên hết phải là sự gắn bó với chính Thầy Giê-su, cho nên phải dành thời gian để lắng nghe Người (Lc 10, 39), gặp gỡ Người. Nếu không, ta sẽ dễ rơi vào mối nguy hiểm là lao vào đủ thứ công việc được gọi là yêu thương và phục vụ, nhưng thật ra chỉ làm theo ý mình chứ không phải ý Chúa, chỉ đi tìm bản thân mình chứ không kiếm tìm lợi ích thật sự cho người khác”. [2]
Vậy khi chọn Chúa, chúng ta tập trung hoàn toàn vào Chúa, lấy Chúa làm trung tâm đời mình, luôn đặt mình trước mặt Chúa để cầu nguyện và lắng nghe Chúa nói, nhất là kiên trung vâng phục thánh ý Chúa trong mọi sự.
1- Lấy Chúa làm trung tâm đời mình
Một khi người Ki-tô hữu chọn Chúa làm trung tâm đời mình thì họ sẽ trao phó tất cả cho Chúa và không lo lắng gì cả nữa. Nếu họ phải làm những công việc của Chúa, dù đó là việc cao cả trọng đại đi chăng nữa, thì họ vẫn bình an và phó thác vì họ làm theo ý Chúa chứ không theo ý mình.
Đúng như lời chia sẻ của Đức cố Hồng Y Phan-xi-cô Xaviê Nguyễn Văn Thuận, như sau: “Tôi luôn luôn học tập làm theo ý Chúa. Nhưng ánh sáng này mang lại cho tôi một sinh lực mới, thay đổi tận gốc lối suy nghĩ của tôi, giúp tôi vượt qua những bước gian truân mà hầu như cơ thể không chịu đựng nổi. Từ đây tôi cảm thấy trong lòng tôi ‘một sự bình an mà thế gian không cho được’ ”. [2]
Khi chúng ta chọn Chúa, thì Chúa sẽ ra tay làm chủ vận mệnh, con người và cuộc sống của ta. Chúng ta sẽ không còn phải quan tâm tới thành công, thất bại hay kết quả sẽ như thế nào nữa. Khi chọn Chúa, chúng ta sẽ được liên kết mật thiết với Chúa, như cành liên kết với cây, nhờ đó cành có sự sống và sự sống sẽ sinh nhiều hoa trái theo ý muốn của Chúa. Bởi xét cho cùng, không có Chúa, chúng ta không làm được gì.
Thầy là cây nho, anh em là cành. Ai ở lại trong Thầy và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được” (Ga 15, 5).
2- Cầu nguyện và lắng nghe Chúa nói
Việc chúng ta siêng năng cầu nguyện chứng tỏ rằng chúng ta đã quan tâm tới việc chọn Chúa như là Đấng hướng dẫn và làm chủ đời mình. Cầu nguyện cũng là cơ hội để chúng ta nghe Chúa nói. Do đó, việc cầu nguyện chân thành và khiêm tốn sẽ là bảo chứng chúng ta yêu mến Chúa, tin tưởng Chúa và hoàn toàn thuộc về Chúa. Lúc đó, dù chúng ta được Chúa giao phó làm bất kỳ việc gì, thì cũng là làm nhân danh Chúa, vì Chúa và cho Chúa.
Thực vậy, “Cầu nguyện là hiệp thông. Trong Tân Ước, cầu nguyện là sự hiệp thông của con cái với Thiên Chúa Ba Ngôi. Sống đời cầu nguyện là luôn hiện diện trước nhan Thiên Chúa và hiệp thông với Ngài. Lời cầu nguyện mang đặc tính Kitô giáo khi được hiệp thông với lời cầu nguyện của Đức Kitô, và được triển khai trong Hội thánh là Nhiệm Thể Người. Nâng tâm hồn lên là nâng sự hiểu biết từ việc đặt mình làm trọng tâm đến mức đặt Thiên Chúa làm trọng tâm. Nâng tâm hồn lên là kết hợp với Thiên Chúa, là hiệp thông với Ngài”. [3]
Các thánh là những người có một đời sống luôn kết hiệp với Chúa vì đã chọn Chúa làm cơ nghiệp đời mình, nên các ngài rất yêu quý sự cầu nguyện hơn bất cứ việc gì khác. Bởi vì đối với các ngài, cầu nguyện là một đời sống đích thực. Cầu nguyện bao trùm, ảnh hưởng đến toàn bộ đời sống các ngài. Nó chính là sự sống và hơi thở vậy. Đức Cố Hồng Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã viết như sau: “Bí quyết nuôi dưỡng đời sống Ki-tô hữu là cầu nguyện. Ai không cầu nguyện, dù có làm phép lạ, con cũng đừng tin” (Sách Đường Hy Vọng, đề mục Cầu Nguyện). Thánh An-phong-sô cũng đã nói như sau: “Sự giàu có của ta là cầu nguyện và ngày nào không cầu nguyện là ngày vất bỏ. Bỏ cầu nguyện là tự dìm mình vào hoả ngục”.
Như vậy những ai chọn Chúa thì sẽ yêu mến việc cầu nguyện bởi vì qua cầu nguyện họ được gặp Chúa và được Chúa yêu thương và chỉ bảo.  
3- Vâng phục ý Chúa
Một trong những dấu hiệu nữa chứng tỏ chúng ta chọn Chúa, đó là sẵn sàng vâng phục ý Chúa trong mọi sự. Xin nhắc lại lời của Đức cố Hồng Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận: “Hãy chọn một mình Chúa thôi, chọn thánh ý Ngài, chứ đừng chọn việc của Chúa!”.
Chọn Chúa luôn bao hàm chọn lựa và vâng phục thánh ý Ngài. Cha Charles de Foucauld đã phổ biến lời kinh rất hay có tựa đề “Kinh Phó Thác”, như sau:
Lạy Cha/ con phó mặc con cho Cha/ xin dùng con tùy sở thích Cha/ Cha dùng con làm chi, con cũng xin cám ơn./ Con luôn luôn sẵn sàng, con đón nhận tất cả./ Miễn là ý Cha thực hiện nơi con và nơi mọi loài Cha tạo dựng/ thì lạy Cha/ con không muốn chi khác nữa./ Con trao linh hồn con về tay Cha./ Con dâng linh hồn con cho Cha,/ lạy Chúa Trời của con/ với tất cả tình yêu của lòng con./ Vì con yêu mến Cha,/ vì lòng yêu mến thúc đẩy con phó dâng mình cho Cha/ thúc đẩy con trao trọn bản thân về tay Cha/ không so đo/ với một lòng tin cậy vô biên./ Vì Cha là Cha của con”. 
II- NHỮNG NGUY CƠ KHI CHỌN VIỆC CỦA CHÚA HƠN CHỌN CHÚA
Nhiều Ki-tô hữu rất hăng say làm việc của Chúa, của Hội thánh, của cộng đoàn, nhưng lại lơ là trong đời sống đức tin. Đối với họ, việc của Chúa hấp dẫn hơn là chính Chúa. Do đó, họ có thể hy sinh tất cả, kể cả mạng sống, để làm thật nhiều việc của Chúa. Đó là căn bệnh mà bất kỳ người Ki-tô hữu nào cũng có thể mắc phải. Căn bệnh này có nguy cơ làm cho chúng ta xa Chúa, quên Chúa, lấy mình làm trung tâm thay vì quy hướng về Chúa, sa đà vào tình trạng phô trương, chiến thắng…
1- Nguy cơ quên Chúa và lấy mình làm trung tâm
Quên Chúa, xa Chúa là tình trạng khá phổ biến trong đời sống đạo của chúng ta. Khi say mê làm việc của Chúa, chúng ta dễ dàng để cho những việc của Chúa lấn chiếm hết thời gian dành cho Chúa và khó tập trung vào những bổn phận thờ phượng như cầu nguyện, lãnh nhận các bí tích, viếng Thánh Thể, suy gẫm… ĐTC Phan-xi-cô cũng đã nhắc nhở thế này: “Chúng ta hãy luôn hiệp nhất với Chúa Giêsu, chúng ta hãy tín thác nơi Người, chúng ta hãy định hướng đời mình theo Tin Mừng, nuôi dưỡng mình bằng cầu nguyện hàng ngày, bằng lắng nghe Lời Chúa và tham dự các Bí Tích”.
Một điều đáng lo ngại nhất, đó là chúng ta dễ dàng quên Chúa, bỏ Chúa ngay khi chúng ta thi hành bổn phận thờ phượng Thiên Chúa.
Linh mục Giu-se Thân Văn Tường trong bài “Thờ phượng” tập “Đối diện với Thiên Chúa” đã viết như sau:
Thờ phượng là sự kính mến của một người đối với nguồn gốc của mình.
Là tạo vật, con người bao giờ cũng cảm nhận thấy mình bất tất, phải có nguồn gốc ngoài mình, nên tâm tình thờ phượng là xu hướng tự nhiên của họ. Sau khi loài người phạm tội, họ có thể thờ phượng mọi sự: Một người, một tạo vật trong thiên nhiên, một lý thuyết, một ảo tưởng… cái gì cũng có thể biến nên ngẫu tượng để họ tôn thờ.
Một là người ta tôn thờ Thiên Chúa, hai là người ta tôn thờ chính bản thân mình. Khi tôn thờ Thiên Chúa, người ta không cần phải che đậy. Nhưng khi tôn thờ chính mình, người ta biết mình làm điều sai quấy, nên phải che đậy dưới đủ thứ chiêu bài, kể cả chiêu bài tôn giáo.
Pha-ri-sêu có nghĩa là thờ mình dưới chiêu bài tôn giáo. Người Pha-ri-sêu làm mọi việc đạo đức, như hãm mình, đánh tội, bố thí, cầu kinh không phải để tôn vinh Thiên Chúa, nhưng để có lợi cho bản thân.
Thay vì phụng sự Thiên Chúa, thường con người muốn Thiên Chúa phụng sự bản thân họ. Người ta hy sinh vì nhu cầu, vì dục vọng, ít ai hy sinh vì Thiên Chúa. Nhưng nhiều lúc, khi hy sinh vì nhu cầu, dục vọng, người ta cũng nghĩ mình hy sinh vì Thiên Chúa.
Người ta quên Thiên Chúa trong nghệ thuật, chính trị, kinh tế… thì còn hiểu được, người ta quên Người ngay trong tôn giáo mới chính là điều quái gở”.[4]
2- Thích phô trương và ham mê chiến thắng, thành công
Đức cố Hồng Y Phan-xi-cô Xa-vi-ê Nguyễn Văn Thuận đã nhắc đến bệnh phô trương chiến thắng của người Công giáo, như sau: 
Làm gì cũng chỉ nhắm chuyện phô trương là chính. Bệnh này tiếng Pháp gọi là ‘triomphalisme’, người Mỹ cũng có từ ngữ ‘show up’.
Thỉnh thoảng đây đó đọc trên những bản tin sinh hoạt cộng đoàn thật nức lòng: Đại lễ tổ chức vô cùng thành công, cuộc rước kéo dài cả nửa cây số, nhiều chục cha đồng tế, bữa tiệc kết thúc thật linh đình, bà con vô cùng hoan hỉ, chưa có bao giờ và có ai tổ chức được lớn như thế… Nhưng hết tiệc ra về rồi là hết. Đại lễ hôm qua hôm nay thành quá khứ xa lơ. Cảm xúc hôm qua hôm nay gọi mãi chẳng thấy về! Hãy từ bỏ chứng bệnh phô trương, vì cái chiều sâu thực sự ít ai quan tâm. Ta bảo sáng danh Chúa, nhưng xét cho kỹ Chúa mấy phần trăm, ta mấy phần trăm?
Có những điều không cần phải phô trương. Nhưng nó sẽ từ từ thấm vào lòng người, người ta sẽ hiểu. Người ta hiểu, nhưng đồng thời người ta cũng có tự ái. Càng huyênh hoang, càng làm cho người ta ghét. Mà thành công đâu phải do mình tài giỏi gì. Nhưng mọi chuyện là nhờ ơn Chúa. Như vậy mình càng không có lý do gì để phô trương. Lúc đang huyênh hoang thì chính là lúc nguy hiểm nhất, tai hại nhất, vì đó là lúc mình mất cảnh giác. Khi nào thấy sau một cuộc lễ, có nhiều người ăn năn trở lại, cộng đoàn hiệp nhất hơn, sốt sắng hơn, đó là dấu thành công thực sự”./. [5]
_________________
[1] 5 Chiếc Bánh Và 2 Con Cá, https://vntaiwan.catholic.org.tw/banhca/banhca02.htm
[2] Đức Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Khảm, “Đường về Emmaus, học Thánh Kinh trong 100 tuần”, NXB.TG trang 561.
[3] x. “Cầu nguyện là gì?”, nguồn http://www.giaoly.org/vn/cau-nguyen-la-gi/
[4] Linh mục Giu-se Thân Văn Tường, Gp Long Xuyên, bài Thờ Phượng, tập Đối diện với Thiên Chúa, trang 35-36
[5] Mười căn bệnh làm băng hoại người Công Giáo, http://conggiao.info/muoi-can-benh-lam-bang-hoai-nguoi-cong-giao-d-48860

Giáo Hội và Người Trẻ


Trong thư chung gửi cho Cộng đồng Dân Chúa, đặc biệt là các bạn trẻ, sau Đại hội lần thứ XIV tại Trung tâm Mục vụ Giáo phận Hải Phòng, Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định chọn chủ đề Mục vụ Giới trẻ cho Giáo hội Việt Nam trong ba năm tới (2020 – 2022). Điều đó cho thấy Giáo hội hoàn vũ và Giáo hội Việt Nam nói riêng muốn dành sự quan tâm đặc biệt cho người trẻ, được soi sáng bởi Tông huấn Chúa Kitô đang sống của Đức Giáo hoàng Phanxicô. Trong bài viết này tôi chỉ muốn trình bày một vài quan sát cá nhân về đời sống của người trẻ trong Giáo hội Việt Nam và cách Giáo hội đang đồng hành với các bạn trẻ. Tôi nhận thấy rằng người trẻ tham gia sinh hoạt trong Giáo hội ở 3 lãnh vực chủ yếu là: (1) nghi thức phụng vụ, cách riêng là thánh lễ; (2) học giáo lý; (3) các đoàn thể Công giáo. Vậy các bạn trẻ đóng vai trò như thế nào trong Giáo hội qua những sinh hoạt đó?
Trước hết, phải thừa nhận là hiện nay người trẻ chưa có nhiều tiếng nói trong đời sống của Giáo hội, bởi vì các bạn không muốn lên tiếng hoặc là không có cơ hội được lên tiếng. Trong phụng vụ, ngoại trừ một vài sự kiện đặc biệt có thánh lễ được tổ chức riêng dành cho các bạn trẻ, những thánh lễ hay nghi thức còn lại hầu hết là “của người lớn” và người trẻ chỉ là yếu tố “phụ thêm”. Lấy ví dụ, trong các bài giảng hằng ngày của các linh mục, liệu các ngài đã quan tâm đến đối tượng lắng nghe là các bạn trẻ không? Bài giảng có chứa đựng thông điệp nào gần gũi với đời sống của các bạn trẻ không? Ngược lại, đôi khi các bài giảng chỉ trình bày kiến thức thần học xa vời, những bài học đạo đức “biết rồi khổ lắm nói mãi” hay thậm chí là những lời răn đe dọa nạt. Nhà thờ có nguy cơ trở thành một nơi xa lạ với các bạn trẻ bởi vì các bạn không tìm gặp và cảm nếm được vị ngọt ngào êm dịu của Chúa Giêsu trong phụng vụ, trong mục vụ hay trong cung cách hành xử của các vị mục tử trong Giáo hội. Như thế, ngoài việc tới nhà thờ tham dự thánh lễ thì các bạn trẻ không thấy chỗ đứng của mình trong việc đóng góp xây dựng giáo xứ.
Cách thức tổ chức các lớp học Giáo lý hiện nay cũng là yếu tố quan trọng khiến người trẻ chưa có cơ hội bày tỏ quan điểm của mình. Phần lớn các lớp giáo lý trở thành nơi truyền thụ kiến thức hơn là môi trường đối thoại và chia sẻ về đức tin. Người trẻ buộc phải chấp nhận lắng nghe, học thuộc, trả bài về những gì họ chỉ biết học thuộc lòng thôi chứ không được giải thích thỏa đáng. Có nhiều bạn đi học giáo lý chỉ vì gia đình bắt buộc hay chỉ để thỏa mãn điều kiện chuẩn bị hôn nhân. Chính những lý do trên làm cho các giờ giáo lý trở thành gánh nặng và gây áp lực cho các bạn trẻ. Thật vậy, người trẻ khi được khuyến khích đặt vấn đề, chất vấn, thậm chí là nghi vấn về các chủ đề đức tin dựa trên hiểu biết và kinh nghiệm của mình thì họ sẽ thấy hứng thú hơn khi học giáo lý. Lý do là bởi vì họ thấy rằng ý kiến của họ được Giáo hội lắng nghe, đón nhận và diễn giải để giúp họ hiểu rõ hơn về những vấn đề đụng chạm đến chính cuộc sống của họ.
Có thể nói môi trường các bạn trẻ có cơ hội thể hiện mình nhiều nhất là các đoàn thể như Ca đoàn, Thiếu nhi Thánh Thể, sinh viên Công giáo, nhóm Bảo vệ sự sống… Tuy nhiên, những tổ chức hội đoàn như thế này có thực sự là của người trẻ và cho người trẻ hay không lại là một vấn đề khác. Các đoàn thể có thể chỉ là nơi người lớn quy tụ để dạy dỗ và hướng dẫn người trẻ. Tất nhiên đó là mục đích rất tốt đẹp và cần thiết, nhưng nó vẫn tiềm ẩn nguy cơ là vai trò của người trẻ không được đánh giá đúng mực, thậm chí là không được tin tưởng và khuyến khích để chủ động sáng tạo đưa ra những phương hướng hoạt động phù hợp với các bạn; mọi việc phải được sắp xếp theo kế hoạch của người lớn. Khi đó các bạn trẻ trở thành “sản phẩm” đào tạo của người lớn hơn là có không gian riêng để trở nên chính mình.
Vậy làm thế nào để Giáo hội có thể lắng nghe người trẻ được tốt hơn? Tôi xin đưa ra 3 gợi ý như sau. Trước hết, phải nhận ra và tôn trọng sự khác biệt giữa các thế hệ, đó là sự thật không thể phủ nhận. Theo đó người lớn cần phải khiêm tốn thừa nhận rằng tuổi trẻ của họ khác xa so với lối sống của các bạn trẻ ngày nay. Do đó những nhận định hay những khuyên răn dạy bảo chỉ thực sự hữu ích và được các bạn trẻ đón nhận khi họ cảm nhận được rằng người lớn đã cố gắng hiểu, thông cảm và đi vào thế giới của họ chứ không chỉ là lấy quyền bên trên áp đặt họ. Thứ đến, hãy mạnh dạn tin tưởng vào tâm huyết và khả năng của người trẻ. Phải nói rằng các bạn trẻ ngày nay năng động và sáng tạo hơn các thế hệ trước rất nhiều. Có rất nhiều công việc trong Giáo xứ hoàn toàn có thể giao cho người trẻ đảm nhận, thậm chí họ còn làm tốt hơn cả người lớn. Các bạn trẻ không chỉ là những người cần được dạy dỗ mà còn là những thầy dạy cho người khác bởi sự đơn sơ nhiệt huyết của họ. Cuối cùng, có liên quan đến điều vừa mới đề cập, đó là cần tạo môi trường để người trẻ được thể hiện, đóng góp trong đời sống của Giáo hội. Môi trường ở đây không chỉ là để đón nhận những điều tích cực mà còn chấp nhận cả những bồng bột, thiếu sót, sai sót của người trẻ để các bạn có cơ hội được lớn lên.
Tôi muốn dành phần còn lại của bài viết để ghi chép đôi điều muốn nhắn nhủ với các bạn trẻ trong tư cách là một người không thuộc lớp trẻ trong Giáo hội. Trong diễn văn chào mừng đại hội  các bạn trẻ nước Ý ngày 11/8/2018, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã sử dụng một hình ảnh rất ý nghĩa khi nói về tương quan giữa người trẻ và người lớn: “Tôi rất vui mừng khi thấy các bạn chạy nhanh hơn những người chậm chạm và sợ sệt trong Giáo hội. Xin Chúa Thánh Thần thúc đẩy các bạn trong cuộc đua này. Giáo hội cần đến sự nhiệt huyết, trực giác và đức tin của các bạn. Chúng ta cần nó! Và khi các bạn đến nơi mà chúng tôi chưa theo kịp, xin kiên nhẫn chờ chúng tôi, như Gioan chờ Phêrô trước ngôi mộ trống.” Đó là những lời đầy tính tính khích lệ từ vị chủ chăn Giáo hội dành cho các bạn trẻ. Do vậy, các bạn trẻ hãy cứ mạnh dạn tiến bước trong đời sống đức tin, hãy sống tương quan với Chúa theo cách của mình, vì Giáo hội cần đến sự năng động của các bạn. Chỉ xin các bạn kiên nhẫn chờ những người khác không còn sức trẻ như các bạn, để chúng ta cùng nhau tiến bước đến đích.
Thứ đến, các bạn hãy tạ ơn Chúa vì ơn đức tin mà ông bà cha mẹ đã truyền lại cho các bạn. Họ là những người đã từng sống tuổi trẻ như các bạn, cũng đối diện với rất nhiều thách đố và quan trọng là họ có kinh nghiệm vượt qua nhờ Đức tin. Trong buổi nói chuyện với các bạn trẻ và các gia đình tại Iasi, Rumania ngày 1/6/ 2019, Đức Phanxicô nhắc nhở mọi người khi trưởng thành về mọi mặt thì không được quên bài học đức tin quý giá từ gia đình, vì đó là kho tàng khôn ngoan của tuổi tác. Chính đức tin đơn sơ nhưng mạnh mẽ của thế hệ đi trước đã giúp họ tiếp tục tiến bước và không bao giờ bỏ cuộc. Các bạn là thế hệ tiếp nối đón nhận và sống chứng từ đức tin như ông bà cha mẹ của các bạn.
Cuối cùng, Giáo hội chính là cộng đồng sống đức tin, là nơi nuôi dưỡng đời sống đức tin của các bạn, và Giáo hội trở nên sống động cũng nhờ vào hoa trái đức tin của các bạn. Do đó, xin các bạn rộng lượng tha thứ cho những người lớn chúng tôi nếu chúng tôi đã không nêu gương sáng đức tin cho các bạn, thậm chí không ít người đã làm các bạn bị tổn thương. Chọn lựa đứng ngoài cuộc phê phán chỉ trích hay là chung tay đóng góp xây dựng cho Mẹ Giáo hội chúng ta trở nên tinh tuyền thánh thiện hơn, tôi tin rằng các biết rõ điều gì nên làm. Chúng ta hãy cầu xin ơn Chúa và cầu nguyện cho nhau để giúp nhau nên thánh.

Giuse Lê Đắc Thắng, SJ

Các Giám mục Áo hoan nghênh việc đưa môn đạo đức vào chương trình giảng dạy ở trường học

trening-za-mlade.jpg

Trước việc ngành giáo dục nước này đang lên kế hoạch đưa bộ môn giáo dục đạo đức vào trong chương trình giảng dạy như một sự lựa chọn thay thế cho môn tôn giáo, Hội đồng Giám mục Áo hoan nghênh sáng kiến này và khẳng định: “Giáo dục đạo đức sẽ trở thành một nhiệm vụ cơ bản của hệ thống các trường học ở Áo, đây là một lựa chọn tốt cho mọi người”.

Trong một tuyên bố được ký bởi Đức ông Peter Schipka, Tổng thư ký Hội đồng Giám mục, Hội đồng Giám mục Áo hoan nghênh việc đưa vào trường học môn đạo đức bắt buộc cho tất cả các học sinh không tham gia các giờ học tôn giáo. Các Giám mục viết: “Hơn 20 năm kinh nghiệm của các trường học thí điểm về giáo dục đạo đức đã cho thấy ở cấp trung học, hình thức dạy học này đã được chứng minh là hợp lệ và giờ đây nó sẽ được áp dụng trong hệ thống trường học”.

Hội đồng Giám mục tin rằng những học sinh đã rút lui khỏi môn giáo dục tôn giáo cũng như các em không theo một tôn giáo nào, không đăng ký môn giáo dục tôn giáo như một môn học tự do, thì môn học đạo đức này sẽ đem lại lợi ích cho các em. Các Giám mục nhận định: “Trước những thách đố ngày càng tăng của một xã hội đa nguyên, giáo dục đạo đức là điều cần thiết cho tất cả các học sinh, kể cả các em không tham gia môn học tôn giáo”.

So với kế hoạch nghiên cứu của thí nghiệm trường học về đạo đức, các kế hoạch nghiên cứu của giáo dục Công giáo đã cho thấy “từ lâu, tất cả các chủ đề liên quan đến giáo dục đạo đức cũng là vấn đề của giáo dục tôn giáo”. Cụ thể, các vấn đề cơ bản của cuộc sống con người, quyền con người và quyền cá nhân, mối quan tâm đối với các nền văn hóa và tôn giáo khác, giáo dục để tự đánh giá và bảo vệ môi trường và khí hậu, cũng như các vấn đề đạo đức xã hội và kinh tế, và thúc đẩy sự phát triển chung về nhân cách của học sinh.

Trong môn tôn giáo, các chủ đề này được dạy từ một quan điểm minh bạch và cụ thể theo tôn giáo của các học sinh. Đồng thời, chúng được thảo luận trong bối cảnh của các vị trí tôn giáo và ý thức hệ khác nhau. “Thảo luận hợp lý” này về nội dung của giảng dạy đạo đức và tôn giáo cho phép học sinh đối diện với chính căn tính của mình. Giáo dục tôn giáo khởi xướng suy tư và thảo luận, đồng thời khuyến khích học sinh suy nghĩ độc lập và phê bình; cũng như dẫn học sinh đến một cách tiếp cận các tôn giáo và biết nhìn đạo đức theo cái nhìn của các tôn giáo khác nhau. (CSR_4979_2020)

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2020

Bộ Giáo lý đức tin: Một vài suy xét liên hệ đến những người đồng tính

BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN
MỘT VÀI SUY XÉT LIÊN HỆ ĐẾN VIỆC ĐÁP TRẢ CÁC DỰ LUẬT 
VỀ KHÔNG PHÂN BIỆT ĐỐI XỬ VỚI NHỮNG NGƯỜI ĐỒNG TÍNH
Chuyển ngữ: BS Trần Như Ý Lan, C.N.D
từ vatican.va

WHĐ (30.6.2020) - Gần đây, dự luật coi việc phân biệt đối xử dựa trên xu hướng tình dục là bất hợp pháp được đề xuất ở nhiều khu vực khác nhau. Tại một số thành phố, chính quyền đã xây các nhà công cộng dành cho các cặp đồng tính (cũng như các cặp khác phái tính chưa kết hôn), mà đúng ra những nhà này phải được dành cho các gia đình. Những sáng kiến như thế trong thực tế có thể gây tác động xấu đến gia đình và xã hội, ngay cả khi chúng có vẻ hướng đến việc hỗ trợ các quyền dân sự căn bản, hơn là dung dưỡng các hoạt động và lối sống đồng tính. Những vấn đề như việc nhận con nuôi, việc thuê giáo viên, nhu cầu cần nhà ở của các gia đình đích thực, các sự quan tâm chính đáng của chủ nhà trong việc kiểm tra người thuê tiềm năng, thường đều bị ảnh hưởng.
Mặc dù không thể tiên liệu mọi việc liên hệ đến các dự luật về lãnh vực này nhưng những quan sát sau đây sẽ cố gắng xác định một vài nguyên tắc và sự phân biệt có tính chất tổng quát mà các nhà lập pháp thiện chí, các cử tri, hay giáo quyền cần cân nhắc khi đối diện với những vấn đề trên.
Phần thứ nhất sẽ nhắc lại các đoạn trong Thư gửi các Giám mục của Hội thánh Công giáo về vấn đề mục vụ cho những người đồng tính năm 1986 của Bộ Giáo lý Đức tin. Phần thứ hai sẽ bàn đến việc áp dụng chúng.
I. CÁC ĐOẠN CÓ LIÊN QUAN TỪ LÁ THƯ CỦA BỘ GIÁO LÝ ĐỨC TIN
1. Lá thư gợi nhớ rằng “Tuyên ngôn về một số vấn đề liên quan đến đạo đức Tính dục” của Bộ Giáo lý Đức tin năm 1975 “đã ghi nhận sự phân biệt giữa tình trạng hay xu hướng đồng tính luyến ái với hành vi quan hệ đồng tính”; loại thứ hai là “lệch lạc nội tại” và “không thể được chấp nhận trong bất cứ trường hợp nào” (số 3).
2. Vì “trong việc bàn luận theo sau việc ban hành bản tuyên ngôn (nói trên) ..., người ta ghi nhận một biện giải quá nhân nhượng được dành cho tình trạng đồng tính, và một số bàn luận đi xa hơn khi coi tình trạng đó là trung tính hay thậm chí là tốt”, lá thư tiếp tục minh định rằng: “Mặc dù một khuynh hướng nào đó của người đồng tính không phải là một tội, nhưng nó ít nhiều cũng là một sự khuynh chiều được thiết định hướng tới một sự dữ luân lý nội tại; và vì thế khuynh hướng ấy phải được nhìn nhận như một sự lệch lạc có tính khách quan.
Do đó, sự quan tâm đặc biệt và lưu ý mục vụ cần hướng đến những người trong tình trạng này kẻo họ tin rằng việc sống khuynh hướng đồng tính qua những hành vi đồng tính là một lựa chọn luân lý có thể chấp nhận được. Thực tế không phải vậy” (số 3).
3. “Như trong mọi lệch lạc về luân lý, hoạt động đồng tính luyến ái ngăn trở sự viên mãn con người cũng như ngăn cản hạnh phúc của người ấy bằng hành vi trái nghịch với sự khôn ngoan sáng tạo của Thiên Chúa. Khi gạt bỏ những tư tưởng sai lạc về đồng tính luyến ái, Hội thánh không giới hạn, nhưng đúng hơn bảo vệ tự do cá nhân và nhân phẩm được hiểu theo nghĩa thực tế và đích thật ” (số 7).
4. Đối với phong trào đồng tính luyến ái, lá thư xác định: “Một chiến thuật được dùng để phản đối rằng bất kỳ hay mọi lời chỉ trích, sự e dè dành cho người đồng tính, hoạt động và lối sống của họ đều là các hình thức khác nhau của sự phân biệt đối xử cách bất công” (số 9).
5. “Một số quốc gia nỗ lực thao túng Hội thánh bằng cách giành lấy sự ủng hộ từ các mục tử, các vị này thường với ý hướng ngay lành, nhằm thay đổi quy chế dân sự và luật pháp. Điều này được thực hiện nhằm thích ứng với khái niệm của các nhóm có thế lực trong xã hội, những người này cho rằng đồng tính ít ra là điều hoàn toàn vô hại, nếu không muốn nói là điều hoàn toàn tốt. Ngay cả khi việc thực hành đồng tính có thể đe dọa nghiêm trọng đến đời sống và phúc lợi của phần lớn dân chúng, những người ủng hộ nó vẫn không lay chuyển và từ chối xem xét đến mức độ rủi ro to lớn đi kèm” (số 9).
6. “Hội thánh cũng ý thức rằng quan điểm cho rằng nên nhìn nhận hành vi đồng tính tương đương, hay có thể được chấp nhận như sự diễn tả tình dục của tình yêu vợ chồng có ảnh hưởng trực tiếp đến sự hiểu biết của xã hội về bản chất và các quyền lợi của gia đình và phá hủy chúng” (số 9).
7. “Đáng tiếc là những người đồng tính đã và đang là đối tượng của sự ác mang tính bạo lực trong ngôn từ cũng như hành vi. Lối hành xử như thế đáng bị các mục tử của Hội thánh lên án ở bất cứ nơi nào nó xảy ra. Điều đó bộc lộ một kiểu coi thường người khác vốn gây nguy hại cho các nguyên tắc cơ bản nhất của một xã hội lành mạnh. Phẩm giá nội tại của mỗi người luôn phải được tôn trọng trong lời nói, hành vi và luật pháp.
Nhưng phản ứng đúng đắn đối với tội ác xúc phạm tới người đồng tính không nên là việc tuyên bố rằng tình trạng đồng tính không lệch lạc. Khi một tuyên bố như thế được đưa ra và khi hành vi đồng tính luyến ái được dung dưỡng, hay khi mà luật dân sự được giới thiệu để bảo vệ những hành vi đồng tính đến mức không ai có quyền can thiệp, thì Hội thánh nói riêng cũng như xã hội nói chung sẽ không ngạc nhiên khi những quan niệm và thực hành sai lạc chiếm được chỗ đứng; đồng thời các phản ứng vô lý cũng như bạo lực sẽ gia tăng” (số 10).
8. “Điều cần tránh bằng mọi giá là sự giả định vô căn cứ và mất nhân phẩm cho rằng hành vi tình dục của những người đồng tính luôn luôn và hoàn toàn bị thúc bách và vì vậy không có tội gì. Điều chính yếu là sự tự do nền tảng, thứ tạo nên tính cách con người và đem lại cho người ta phẩm giá, phải được nhìn nhận như điều cũng thuộc về người đồng tính luyến ái” (số 11).
9. “Trong việc đánh giá luật được đề xuất, các giám mục nên đặt mối quan tâm hàng đầu của mình vào trách nhiệm bảo vệ và quảng bá đời sống gia đình” (số 17).
II. CÁC ÁP DỤNG
10. Xét ở khía cạnh tránh phân biệt đối xử, “khuynh hướng tình dục” không tạo nên một phẩm chất có thể so sánh với chủng tộc, sắc tộc. Không giống những điều này, khuynh hướng đồng tính luyến ái là một lệch lạc có tính khách quan (xem Thư, số 3) và gợi lên mối liên hệ luân lý.
11. Có những lãnh vực trong đó không có sự phân biệt đối xử cách bất công khi xem xét đến khuynh hướng tình dục, chẳng hạn như trong việc nhận con nuôi hay chăm sóc nuôi dưỡng trẻ, việc nhận giáo viên cũng như huấn luyện viên thể thao, và trong việc tuyển binh.
12. Những người đồng tính, với tư cách là con người, có quyền như mọi người, bao gồm cả quyền không bị đối xử theo cách làm mất phẩm giá cá nhân (xem số 10). Trong số các quyền khác, tất cả mọi người đều có quyền làm việc, quyền có chỗ ở, v.v. Tuy nhiên, những quyền này không tuyệt đối hoàn toàn. Chúng có thể bị hạn chế theo đúng luật vì hành vi bên ngoài biểu hiện sự lệch lạc mang tính khách quan. Điều này đôi khi không chỉ là hợp pháp nhưng còn mang tính đòi buộc nữa. Điều này rõ hơn không chỉ với trường hợp hành vi phạm tội mà thậm chí còn ngay cả trong trường hợp các hành vi biểu hiện bệnh về thể lý hay thần kinh. Vì thế, người ta chấp nhận rằng nhà nước có thể hạn chế việc thực thi các quyền để bảo vệ lợi ích chung, chẳng hạn như trong trường hợp những người bị bệnh truyền nhiễm hoặc bệnh tâm thần.
13. Gộp chung cả “khuynh hướng đồng tính luyến ái” vào trong số những khoản được xem là cấm phân biệt đối xử có thể dễ dàng đưa đến việc xem đồng tính luyến ái là một nguồn tích cực của nhân quyền, chẳng hạn như đối với hành vi khẳng định hay đối xử ưu đãi trong thực hành tuyển dụng. Điều này càng thêm nguy hại vì chẳng hề có quyền nào gắn với đồng tính (xem số 10) nên không có cơ sở nào cho việc hình thành các tuyên bố mang tính pháp lý. Việc thừa nhận đồng tính như một yếu tố mà trên cơ sở đó hình thành việc cấm phân biệt đối xử có thể dễ, nếu không muốn nói là tự động, dẫn đến việc bảo vệ và cổ võ về phương diện pháp lý đồng tính luyến ái. Việc đồng tính của một người sẽ được viện dẫn để chống lại việc phân biệt đối xử bị cáo buộc, và như thế việc thực hiện các quyền lợi sẽ hoàn toàn được bảo vệ qua việc xác nhận tình trạng đồng tính thay vì được bảo vệ qua vấn đề vi phạm các quyền con người.
14. “Khuynh hướng tình dục” của một người không thể đem so sánh với chủng tộc, giới tính, tuổi tác, v.v., cũng vì một lý do khác nữa nằm ngoài những gì đáng lưu ý đã nói ở trên. Khuynh hướng tình dục của một người cách chung thường không bị người khác biết trừ khi người ấy công khai nhận mình như thế hay khi một số hành vi bên ngoài chứng tỏ điều ấy. Thông thường, đa số những người có khuynh hướng đồng tính mà tìm cách sống khiết tịnh sẽ không công khai khuynh hướng tình dục của họ. Do vậy, vấn đề phân biệt đối xử trong lãnh vực công việc, nhà cửa, v.v. thường không xảy ra.
Những người đồng tính khẳng định xu hướng đồng tính của mình thường chính là những người đánh giá hành vi hay lối sống đồng tính là “hoàn toàn vô hại, nếu không nói là hoàn toàn tốt lành” (xem số 3), và vì vậy đáng được cộng đồng chấp nhận. Chính trong nhóm người này người ta dễ tìm thấy những người tìm cách “thao túng Hội thánh bằng cách giành lấy sự ủng hộ với chủ ý tốt của các mục tử nhằm thay đổi quy chế dân sự và luật pháp” (xem số 5), và tìm thấy những người sử dụng chiến thuật để phản đối rằng “bất kỳ hay mọi lời chỉ trích, sự e dè dành cho người đồng tính, hoạt động và lối sống của họ đều là các hình thức khác nhau của sự phân biệt đối xử cách bất công” (xem số 9).
Thêm vào đó, có một nguy cơ là đạo luật đặt đồng tính luyến ái làm cơ sở cho các quyền lợi có thể thực sự khuyến khích một người có khuynh hướng đồng tính luyến ái công khai hóa việc mình đồng tính hoặc thậm chí còn tìm đối tác để khai thác các quy định của khoản luật.
15. Vì trong việc đánh giá các dự luật được đề xuất cần chú ý nhiều nhất đến trách nhiệm bảo vệ và quảng bá đời sống gia đình (xem số 17), cần chú ý chặt chẽ đến các điều khoản mang tính dự phòng liên quan tới các biện pháp được đề xuất. Các điều khoản đó sẽ ảnh hưởng đến việc nhận con nuôi hoặc quan tâm chăm sóc trẻ thế nào? Liệu chúng có bảo vệ các hành vi đồng tính luyến ái cách công khai hay riêng tư không? Liệu chúng có đánh đồng các đôi đồng tính với gia đình, ví dụ như đối với vấn đề nhà ở công cộng hay bằng cách cho phép đối tượng đồng tính luyến ái hưởng các ưu đãi về việc làm mà gồm cả những điều như quyền tham gia của “gia đình” vào phúc lợi y tế dành cho nhân viên không (xem số 9)?
16. Cuối cùng, khi liên quan đến lợi ích chung, Giáo quyền không được ủng hộ hoặc giữ thái độ trung lập đối với các đạo luật gây hại ngay cả khi nó cho phép những ngoại lệ dành riêng cho các tổ chức và thể chế của Hội thánh. Hội thánh có trách nhiệm thăng tiến đời sống gia đình và luân lý chung cho toàn xã hội dân sự dựa trên những giá trị luân lý nền tảng, không chỉ đơn thuần bảo vệ mình khỏi việc thực hành những khoản luật có hại (xem số 17).
Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, Số 102 (tháng 9 & 10 năm 2017)

Mục vụ thời Công nghiệp 5.0

Mục vụ thời Công nghiệp 5.0

WGPSG -- Cuộc cách mạng công nghiệp 5.0: kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc tự trị để giải quyết tình trạng thất nghiệp và ô nhiễm môi trường, đồng thời đáp ứng nhu cầu cá nhân hóa sản phẩm.

Các cuộc cách mạng công nghiệp

Thế giới đã trải qua 4 cuộc cách mạng công nghiệp và đang tiến vào cuộc cách mạng công nghiệp 5.0.

Cách mạng công nghiệp 1.0 ra đời từ năm 1780 với năng lượng cơ học được tạo ra từ hơi nước và nhiên liệu hóa thạch.

Cách mạng công nghiệp 2.0 bắt đầu từ năm 1870 với điện năng và việc sản xuất dây chuyền hàng loạt.

Cách mạng công nghiệp 3.0 khởi sự từ năm 1970 với điện tử, công nghệ thông tin và tự động hóa việc sản xuất.

Cách mạng công nghiệp 4.0 xuất hiện vào đầu thế kỷ 21 với việc sử dụng Internet vạn vật (IoT) và điện toán đám mây, để tạo ra tương tác ‘thực tại - ảo (AR)’ nối kết thế giới ảo và thế giới thực với nhau (được gọi là những ‘Hệ thống không gian mạng - vật lý’).

Tiếp theo, mặc dù cách mạng công nghiệp 4.0 chưa phát triển hết mức, nhiều nhà tiên phong trong ngành và các nhà lãnh đạo công nghệ đã hướng tới cuộc cách mạng công nghiệp 5.0: kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc tự trị để giải quyết tình trạng thất nghiệp và ô nhiễm môi trường, đồng thời đáp ứng nhu cầu cá nhân hóa sản phẩm.


1. Bối cảnh của Công nghiệp mới: đi từ Công nghiệp 4.0

Bắt nguồn từ một dự án của chính phủ Đức, cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 là một chiến lược chủ động nhằm chuyển đổi các tác nhân sản xuất từ ​​các ‘Hệ thống hoàn toàn Vật lý’ sang các ‘Hệ thống không gian Mạng - Vật lý (CPS: CyberPhysical System)’.

Như vậy, nền tảng của Công nghiệp 4.0 là dựa trên hệ thống CPS (Mạng - Vật lý), và giao tiếp với nhau thông qua IoT (Internet vạn vật).

Trao đổi thông tin theo thời gian thực giữa các hệ thống CPS (Mạng - Vật lý) sẽ tạo ra một khối lượng lớn dữ liệu, đòi hỏi phải có một phương pháp lưu trữ có hiệu quả và an toàn. Giải pháp phổ biến nhất hiện nay chính là Lưu trữ đám mây.

Và để có được thông tin hữu ích từ các khối dữ liệu thô khổng lồ này, người ta cần phải phân tích chúng. Việc kết hợp các dữ liệu được phân tích thông qua IoT (Internet vạn vật) đã làm xuất hiện khái niệm ‘Internet công nghiệp’: kết nối thế giới kỹ thuật số và thế giới thực.

Và như thế, các động lực chính yếu của Công nghiệp 4.0 là:

• Hội nhập kinh doanh và sản xuất;

• Thực hiện các ứng dụng liên kết không gian mạng và không gian đời thực;

• Thực hiện ‘Dây chuyền sản xuất hiệu quả’ và ‘sản phẩm thông minh’.

Các khái niệm mới của Công nghiệp 4.0 bao gồm: hệ thống CPS (Mạng - Vật lý), IoT (Internet vạn vật), nhà máy thông minh, dữ liệu lớn, lưu trữ đám mây và mạng an ninh tự chủ.

Về hiệu quả, Công nghiệp 4.0 giảm thiểu được các loại chi phí:

• Chi phí sản xuất: giảm từ 10% đến 30%;

• Chi phí hậu cần: giảm từ 10% đến 30%;

• Chi phí quản lý: giảm từ 10% đến 20%.


Tóm lại, Công nghiệp 4.0 sử dụng IoT (Internet vạn vật) như là không gian sản xuất và sau đó phân tích dữ liệu lớn được thu thập trên bộ lưu trữ đám mây để làm tăng hiệu quả cho mức độ tự chủ và an ninh của Mạng.

2. Giải quyết các vấn đề của Công nghệ 4.0 

Công nghiệp 4.0 cốt yếu bao gồm việc tự động hóa các quy trình và thực hiện ‘điện toán biên’ (nối kết không gian mạng và không gian thực, với các dụng cụ thuận tiện).

Trọng tâm duy nhất của nó là nâng cao hiệu quả sản xuất và, do việc tối ưu hóa các quy trình sản xuất, nó vô tình bỏ qua chi phí dành cho nhân công, có nguy cơ khiến cho nhiều người phải thất nghiệp. Đây là vấn đề lớn nhất sẽ xảy ra khi toàn bộ công nghệ 4.0 phát huy tác dụng. Do đó, nó sẽ phải đối mặt với sự kháng cự từ các công đoàn và chính trị gia. Sự kháng cự này sẽ làm vô hiệu hóa một số lợi ích của Công nghiệp 4.0, khi ngày càng có nhiều áp lực đòi phải gia tăng số lượng việc làm cho con người.

Thêm vào đó, ô nhiễm môi trường​​ đang gia tăng cách khủng khiếp, bắt đầu từ cuộc Cách mạng Công nghiệp 2.0.

Và Cách mạng công nghiệp 5.0 đã được hình thành để giải quyết các vấn đề này: đưa đông đảo những con người lao động trở lại nhà máy, đồng thời tập trung hơn vào việc giảm thiểu các tác động bất lợi cho môi trường.

3. Công nghiệp 5.0 giải quyết vấn đề môi trường

Mặc dù trong thập kỷ vừa qua, đã có nhiều thuật toán AI được sử dụng để nghiên cứu từ viễn tượng môi trường bền vững, nhưng Công nghiệp 4.0 đã không tập trung mạnh mẽ vào việc này, không tập trung cải thiện các công nghệ để củng cố tính bền vững môi trường của trái đất. Vì thế môi trường vẫn đang bị ô nhiễm một cách trầm trọng như là một trong những hậu quả xấu của các cuộc cách mạng công nghiệp.

Người ta đã nhắm thực hiện Cách mạng công nghiệp 5.0 để giải quyết vấn đề này. Chẳng hạn, Kế hoạch Khoa học Công nghệ lần thứ 5 của Chính phủ Nhật (2016-2020) đã đề xuất khái niệm Xã hội 5.0, trong đó con người sẽ giải quyết được các vấn đề như biến đổi khí hậu, ùn tắc giao thông, thiếu lương thực, xóa khoảng cách giàu nghèo. Con người sẽ được hưởng những sản phẩm, dịch vụ, tiện ích tốt hơn, với số lượng vừa đủ, tại thời điểm phù hợp nhất.


4. Công nghiệp 5.0: Robot trở thành Cobot

Đưa đông đảo con người lao động trở lại nhà máy, cuộc Cách mạng công nghiệp 5.0 sẽ kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc thông minh, để tiếp tục sử dụng năng lực trí tuệ và sức sáng tạo của con người, hầu tăng cường hiệu quả của quy trình sản xuất.




Trong khi mối quan tâm chính trong Công nghiệp 4.0 là về tự động hóa, thì Công nghiệp 5.0 sẽ quan tâm đặc biệt về sự kết hợp hài hòa giữa con người và máy móc tự trị.

Lực lượng máy móc tự trị sẽ nhận ra và hiểu được ý muốn của con người. Loài người sẽ làm việc cùng với robot, không những không sợ hãi mà còn yên tâm khi biết rằng đồng nghiệp robot của họ hiểu rất rõ về họ và có khả năng hợp tác cách hiệu quả và hài hòa với họ.

Công nghiệp 5.0 sẽ thay đổi định nghĩa của từ robot. Robot sẽ không chỉ là một cỗ máy lập trình có thể thực hiện các nhiệm vụ lặp đi lặp lại, mà còn biến thành người bạn đồng hành lý tưởng của con người trong mọi tình huống.

Cung cấp các sản phẩm robot thông minh với sự tiếp xúc của con người, cuộc cách mạng công nghiệp 5.0 sẽ giới thiệu thế hệ robot tiếp theo, thường được gọi là cobots (collaborative robots) – tức là những ‘robot hợp tác’, luôn hiểu biết hoặc nhanh chóng tìm hiểu xem chúng cần phải làm gì để hỗ trợ con người.

Những ‘robot hợp tác’ này sẽ nhận thức được sự hiện diện của con người; do đó, chúng sẽ quan tâm đến các tiêu chí an toàn và rủi ro. Chúng có thể nhận thấy, hiểu được và cảm nhận được không chỉ con người, mà cả mục tiêu và kỳ vọng của nhân vật điều hành.

Giống như người học việc, cobot sẽ nhìn xem và tìm hiểu cách thức một cá nhân thực hiện nhiệm vụ của họ. Một khi đã tìm hiểu xong, cobot sẽ thực hiện các nhiệm vụ y như một con người. Do đó, con người sẽ cảm thấy thỏa mãn khi làm việc cùng với các cobot.

Khái niệm về Công nghiệp 5.0 có thể được hình dung qua một ví dụ về dây chuyền sản xuất. Nó cho thấy một công nhân đang làm việc trong một bộ máy dây chuyền lắp ráp cơ điện.

Người công nhân bắt đầu làm nhiệm vụ. Và một cobot sử dụng máy ảnh trên một trục quay để quan sát quá trình. Máy ảnh này hoạt động như cặp mắt của cobot.

Cobot cũng được kết nối với một máy tính xử lý để lấy ra hình ảnh, rồi xử lý hình ảnh, và học các kiểu mẫu bằng cách sử dụng máy học hỏi.

Nó quan sát con người, theo dõi môi trường, và suy ra những gì mà người vận hành sẽ làm tiếp theo, bằng cách ‘học tập sâu’ để phân tích ý định của con người.

Một cảm biến quan trọng có thể được sử dụng để hiểu ý định của con người là ‘quang phổ chức năng cận hồng ngoại’ (fNIRS), qua kênh liên lạc không dây, để lấy tín hiệu từ não người. fNIRS khá phù hợp cho nhiệm vụ này vì nó có dạng tai nghe và không cần các bước thiết lập và hiệu chỉnh tốn thời gian.

Một khi cobot đã tự tin vào những dự đoán của nó, nó sẽ ra sức giúp đỡ người lao động. Nó sẽ giống như một con người khác, đang đứng cùng người lao động và ra sức giúp đỡ người này.

Ví dụ, khi cobot dự đoán rằng người lao động sắp sử dụng một dụng cụ nào đó, nó sẽ tự động đi lấy và mang dụng cụ đó đến cho người lao động đúng lúc người này cần đến. Quá trình này diễn ra liền mạch để người lao động không phải khựng lại trong quy trình làm việc của mình.

Như vậy quá trình hoạt động của cobot thông minh này sẽ diễn ra như sau:


(1) Cobot quan sát một người đang lao động.

(2) Cobot phân tích ý định của người này qua máy quan sát trực quan (máy ảnh RGB) và cảm biến quang phổ chức năng cận hồng ngoại (fNIRS).

(3) và (4) Cobot bắt đầu di chuyển đến nơi có đồ vật mà người lao động sắp cần đến.

(5) Cobot cầm lấy đồ vật này.

(6) Cobot mang đồ vật đến vị trí làm việc của người đang lao động.

(7) Cobot trao đồ vật vào bàn tay người lao động đúng lúc họ cần.

Cách mạng công nghiệp 5.0 cũng sẽ tạo ra một chức vụ sản xuất mới: CRO (Chief Robotics Officer: Chánh văn phòng robot). CRO là một cá nhân có chuyên môn trong việc hiểu robot và hiểu tương tác của chúng với con người.

CRO sẽ chịu trách nhiệm đưa ra quyết định thêm hoặc bớt các máy móc hoặc các robot tại nhà máy để đạt được vận hành tối ưu và hiệu quả.

CRO là người có kinh nghiệm về robot, về trí thông minh nhân tạo, về mẫu nhân tố con người và tương tác giữa con người với máy móc.

CRO được trang bị các ‘kỹ thuật robot hợp tác’ và, nhờ biết tận dụng máy tính cao cấp, họ sẽ được đặt vào một vị trí thích hợp để tích cực quản lý môi trường. Điều này cuối cùng sẽ làm tăng tính bền vững của nền văn minh nhân loại bằng cách giảm thiểu ô nhiễm và chất thải để bảo tồn trái đất.

4. Công nghiệp 5.0: Cá nhân hóa sản phẩm

Bằng cách đưa con người trở lại sản xuất công nghiệp với sự phối hợp thông minh hài hòa của các cobot, người công nhân sẽ được nâng cao kĩ năng để có thể đáp ứng nhu cầu ‘cá nhân hoá’ sản phẩm của khách hàng.

Nền công nghiệp 4.0 bắt đầu chuyển sang công nghiệp 5.0 khi chúng ta bắt đầu cho phép khách hàng tùy chỉnh sản phẩm theo những gì họ muốn. Khách hàng có thể thiết kế chương trình trực tuyến, lựa chọn chi tiết vật liệu, lựa chọn nhà cung cấp, lựa chọn nhà sản xuất… từ bất cứ nơi nào trên thế giới, với yêu cầu tốt nhất, công nghệ tốt nhất, mức giá tốt nhất…

Ví dụ, khách hàng có thể vào trang web của hãng xe hơi BMW và chọn loại xe họ muốn với hàng ngàn biến số khác nhau, không chỉ màu sắc, đèn pha, nội thất… mà còn rất nhiều chi tiết khác. Công nghiệp 5.0 đưa khái niệm ‘cá nhân hóa’ lên một tầm cao mới, đặc biệt trong lãnh vực sức khỏe. Có các ứng dụng thông minh thực hiện việc ‘cá nhân hóa điều trị y tế’: tóm tắt lối sống, yêu cầu sức khỏe và thể trạng của bệnh nhân để tạo ra một chế độ chăm sóc sức khỏe hoàn toàn tùy chỉnh và thích hợp với từng bệnh nhân. Trong lãnh vực phẫu thuật, với chuyên môn của một bác sĩ phẫu thuật được đào tạo và sự chính xác của một trợ lý cobot, các phòng phẫu thuật sẽ phục vụ bệnh nhân cách nhanh gọn và hữu hiệu. Các cơ quan cấy ghép y tế, truyền máu, trị tiểu đường và một loạt các ứng dụng y tế khác có thể được hưởng lợi từ các quy trình sản xuất được hỗ trợ bởi cobot và hợp tác với AI.

Trong Công nghiệp 5.0, quyền tự do ‘thiết kế - phản ứng - sáng tạo sản phẩm’ được trao lại cho người sử dụng sản phẩm. Con người có nhiều trách nhiệm hơn và người ta xử lí công việc trong một môi trường rộng lớn hơn nhưng dễ dàng hơn, và an toàn hơn các môi trường trước đây. Các nhà sản xuất trong các xưởng sản xuất bắt đầu cho phép các sản phẩm mang tính cá nhân hoá và chuyên biệt hơn.

Công nghiệp 5.0 sẽ cho khách hàng tham gia nhiều hơn vào việc thiết kế và chế tạo sản phẩm theo mục tiêu sử dụng của từng cá nhân bởi vì họ có nhiều thông tin hơn. Chính vì vậy, Công nghiệp 5.0 sẽ tạo ra nhiều việc làm hơn. Một số lượng lớn các công việc sẽ được tạo ra trong lĩnh vực hệ thống thông minh, lập trình AI và robot, bảo trì, đào tạo, lên lịch, tái sử dụng và phát minh ra các loại robot sản xuất mới.

5. Đào tạo ảo

Công nghiệp 5.0 rất cần đến chương trình đào tạo ảo. Người ta đã bắt đầu thực hiện việc đào tạo ảo từ năm 1997 trong đó, học viên học một nhiệm vụ hoặc kỹ năng cụ thể trong một môi trường ảo. Khi huấn luyện viên và học viên không sống cùng một nơi, loại hình đào tạo này giúp giảm thiểu chi phí và thời gian đi lại cho cả hai bên. 

Đào tạo ảo có thể cung cấp một môi trường an toàn và chính xác để đào tạo một lực lượng lao động lành nghề, tránh được những nguy hiểm và rủi ro mà họ có thể gặp phải khi được huấn luyện trong không gian thực.


6. Hệ thống máy móc tự trị thông minh

Hệ thống máy móc tự trị thông minh trong Công nghiệp 5.0 khác biệt đáng kể so với những gì được gọi là tự động hóa trong Công nghiệp 3.0.

Các hệ thống máy móc tự trị thông minh - cùng với các cobot - cần có được những cảm nhận giống như con người. Ví dụ, một người lao động sẽ ngừng làm việc khi nghi ngờ có điều gì đó bất thường trong không gian làm việc của mình. Đây là hành vi dự đoán rất quan trọng trong việc ngăn ngừa tai nạn tại nơi làm việc. Điều này được gọi là ‘công nghệ tầm nhìn và cảm giác’.

Các cobot sẽ được trang bị các ‘công nghệ tầm nhìn và cảm giác’ này, đồng thời chúng cũng phải ước tính được nhu cầu cần hỗ trợ, đánh giá rủi ro trong việc hỗ trợ, theo dõi các yếu tố an toàn và sau đó tiếp cận một cách an toàn để hỗ trợ con người. Chúng cũng cần được cung cấp khả năng ‘bản địa hóa’ và tính toán chính xác.

Các phương pháp ‘Học Tập Sâu (Deep Learning) ’ sẽ giúp các cobot đạt được những điều này. Các chiến lược ‘Học Tập Sâu’ về cơ bản được thành lập dựa trên các mạng lưới thần kinh nhân tạo.

7. Hệ thống sản xuất của Công nghiệp 5.0

Công nghiệp 5.0 sẽ mang lại những thách thức chưa từng có trong quá trình tương tác giữa máy móc và con người (HMI: Human-Machine Interface) vì nó sẽ đưa máy móc đến rất gần với cuộc sống hằng ngày của bất kỳ con người nào.

Công nghiệp 5.0 sẽ cách mạng hóa các hệ thống sản xuất trên toàn cầu khiến cho những người lao động không phải làm những công việc buồn tẻ, bẩn thỉu và lặp đi lặp lại, để đảm nhận những công việc hứng khởi mà hoạt động và sáng tạo nhiều hơn.

Người ta sẽ làm ra các robot rẻ hơn và có khả năng cao, được tạo thành từ các vật liệu tiên tiến như carbon và vật liệu nhẹ nhưng mạnh, được cung cấp bởi các gói pin được tối ưu hóa cao, với quy trình xử lý dữ liệu mạnh hơn và một mạng lưới các cảm biến thông minh hơn.

Công nghiệp 5.0 sẽ tăng năng suất và hiệu quả hoạt động, thân thiện với môi trường, giảm nguy cơ chấn thương và rút ngắn chu kỳ thời gian sản xuất.


8. Kết luận

Cuộc cách mạng công nghiệp 5.0 sẽ xuất hiện khi ba yếu tố chính của mạng công nghiệp hiện đại - là các thiết bị thông minh, hệ thống thông minh và tự động hóa thông minh - kết hợp hoàn toàn với thế giới vật lý, và hợp tác hài hòa với trí thông minh của con người.

Thuật ngữ ‘Tự động hóa trực tuyến (online automation)’ sẽ là một cụm từ đẹp của Công nghiệp 5.0 - mô tả các ‘cobot tự trị’ hợp tác tốt đẹp với con người trong cùng một thời gian và không gian làm việc. Sự tin tưởng và độ tin cậy giữa hai bên sẽ đạt được hiệu quả đầy hứa hẹn, sản xuất tùy chỉnh và phong phú, với số lượng chất thải tối thiểu, bảo vệ được môi trường, gia tăng việc làm hứng khởi cho con người, và tạo ra vô số sản phẩm mang dấu ấn cá nhân thích hợp cho từng khách hàng.

Đặc tính rất nhân văn của Cách mạng công nghiệp 5.0 tất nhiên cũng cần sự đóng góp tích cực của mọi Kitô hữu khi họ cố gắng nhận ra dấu chỉ của thời đại mà hoạt động và hợp tác với mọi người đúng với tinh thần của Tin Mừng.

Lm Giuse Vi Hữu - Nguồn: WGPSG

THAM KHẢO
Saeid Nahavandi, Industry, 5.0 - A Human-Centric, 2019.
Anand Birje, A vision for Industry 5.0: Humans augmented with cobots and connectivity, 2020.
M Ramesh, Cobots expected to play increasing role in post-Covid-19 automation, 2020.
Phill Cartwright, What will Industry 5.0 mean for manufacturing?, 2018.
Global Briefing Report Society 5.0 Feature, Society 5.0 - Updates on Japanese Business and Economy, 2019
Cabinet Office, Government of Japan, Society 5.0, 2020.

Sinh Viên Công Giáo Kiên Giang: Một tối lang thang…


Giữa cơn mưa như trút nước của buổi xế chiều, dường như mọi hy vọng của một buổi goodnight (G9) thật ý nghĩa đi vào ngõ cụt. Thế nhưng, có một nhóm bạn trẻ vẫn cố gắng đội mưa đến đúng hẹn để chuẩn bị cho buổi G9 hôm ấy.
Bỏ lại sau lưng tất cả mọi gánh nặng hay niềm hăng say “chơi bời” của sinh viên, họ đã lên đường đến với những con người gặp khó khăn trong một tối mưa hối hả. Có bạn đóng lại một mớ tài liệu ôn thi để ra đi. Có bạn vất lại cái mệt mỏi của một ngày làm thêm để đến với nhóm. Có bạn từ chối một cuộc chơi để “bơi” đến cùng người khác. Có bạn chạy xe hàng giờ đồng hồ trên đường chỉ để thực hiện cho vẹn buổi tối ấy… Thế đã quá đủ cho những hi sinh của họ. Không thuận lợi như nhiều nhóm sinh viên trên Sài gòn hay ngoài Hà Nội, các bạn ấy phải lặn lội một quãng đường không hề ngắn để đến với nhau. Tập trung tại Giáo họ Minh Hòa, một địa điểm sinh hoạt quen thuộc, họ cùng nhau chuẩn bị một bữa tối nho nhỏ cho những người vô gia cư. Bữa tối ấy chỉ là một nồi cháo nhỏ do chính tay họ nấu. Cùng nhau chuẩn bị mọi thứ, cùng nhau nấu ăn, cùng nhau chuyện trò rôm rả cho xả mọi âu lo ở ngoài kia, cùng nhau chuẩn bị thật cẩn thận từng phần cháo, cùng nhau dọn dẹp tươm tất, và cùng nhau lên đường.
G9 là hoạt động tông đồ hằng tháng của nhóm. Thông thường vào tối thứ 4 nào đó, thay vì sinh hoạt nhóm, các bạn ấy sẽ chuẩn bị một nồi cháo và chia ra các phần nhỏ. Xuất phát từ Giáo họ Minh Hòa, họ chạy xe lên Thành phố Rạch Giá. Ở đây, họ chia nhau theo từng nhóm nhỏ đi khắp các phố phường của Thành phố và trao các phần cháo cho những người vô gia cư. Phần lớn họ là những người bán vé số trên lề đường, những người lang thang không nơi cư ngụ, và các cô chú lao công quét dọn đường phố lúc đêm hôm.
Vì trời mưa lớn từ sớm nên không có nhiều người bán vé số như những ngày bình thường. Đi một đoạn đường dài, nhìn ngang ngó dọc mà không tìm thấy bóng dáng một người vô gia cư nào, họ có chút nản lòng, than trời chút ít nhưng vẫn kiên trì chạy quanh các đường cùng ngõ cụt. Chạy xe chầm chậm dưới ánh đèn đường tráng lệ, đảo con mắt liếc hàng mi từ bên này phố sang bên kia đường, họ cố nhận ra những thân phận đau khổ, họ gắng nhìn ra những con người tàn tạ giữa chốn thị thành náo nhiệt ấy. Không dễ dàng như những lần khác nhưng vẫn thấp thoáng bóng dáng của những con người khốn khổ. Một chú bé ngơ ngác ngồi bệt dưới chân đèn đỏ. Một khuôn mặt in hằn đầy nỗi truân chuyên đạp từng chút nhọc nhằn trên chiếc xe cà tàng. Một cụ ông gạt từng hồi vất vả trên chiếc xe lăn với tập vé số còn nguyên. Một cô ve chai cứ “hì hục” lượm từng chút bên ngoài nhà người ta nhặt từng thứ trong đống rác ngoài lề đường. Những cô chú lao công “cặm cụi” quét từng đoạn dọn từng nhà dưới ánh đèn đêm lấp lánh… Như còn chút duyên, cuối cùng họ cũng thấy những người họ cần tìm. Chỉ thấy thấp thoáng thôi, lòng họ vui mừng khôn siết. Xe tăng ga, chạy ngay đến bên những con người ấy, dừng lại, trao tận tay những phần cháo nhỏ bé với một vài lời động viên, thăm hỏi hay chỉ là một nụ cười, một câu thưa. Dừng lại trong khoảnh khắc ấy, giữa cái se se lạnh của đường phố thấm mưa, các bạn ấy đang gửi trao hơi ấm của tình thương hương thơm của lòng người. Chính lúc ấy, tâm hồn nối tâm hồn, tình yêu kết tình yêu. Người trao cảm thấy vui người nhận mừng khôn kể. Có lẽ nếu không gặp những người khốn khổ ấy, các bạn ấy sẽ buồn đến mức nào không chỉ đơn thuần vì “nồi cháo ế” mà tối nay cũng chẳng trọn chẳng vẹn cho tình người tình ta. Cơ duyên gặp được “số sót” những người khốn khổ như món quà vô cùng quý giá của Thiên Chúa dành cho họ. Các bạn ấy đã xin và được, đã tìm và thấy, đã gõ cửa và được mở ra cho.
Thấy việc họ làm, chiêm ngắm điều họ hành động, ắt hẳn trong tâm tình mỗi người sẽ cảm thấy ít nhiều niềm an ủi. Giữa một xã hội hối hả ngày nay, vẫn có những bạn trẻ hi sinh cho cộng đồng. Trong sự lên ngôi của cái tôi, thì vẫn còn những bạn trẻ lôi cuốn ta nhờ những nghĩa cử cao đẹp của họ. Trong nhiều nỗi thất vọng về thế hệ trẻ, vẫn có những sinh viên thắp lên cho ta niềm hy vọng dạt dào về tương lai. Giữa vùng dân ngoại, vẫn có những người trẻ thắp lên ánh sáng đốt lên ngọn lửa yêu thương của tinh thần Ki-tô giáo. Hơn hết, các bạn ấy củng cố đức tin, bồi đắp đức cậy, thắp sáng lòng mến nơi chúng ta, nhất là sinh viên công giáo trên mảnh đất hình chữ S thân yêu này.

Lyeur Nguyễn