Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2020

Công việc truyền giáo của các nữ tu dòng Chúa Chiên Lành ở Papua New Guinea

PNG-POLITICS-BOUGAINVILLE-REFERENDUM
Phụ nữ Papua New Guinea  (AFP or licensors)

“Thật là khó mà tin rằng trong năm 2019 vẫn còn những người sống trong nghèo đói, hàng ngày phải ăn những hạt óc chó để cho vơi đi cơn đói cồn cào, vẫn còn những người chết vì lao phổi, những người sống trong những túp lều không có điện nước, đi chân không đến trường và đi học mà không có sách vở”. Đây là lời chứng của sơ Anna Pigozzo, người Ý, nhà truyền giáo dòng Chúa Giêsu Mục tử tốt lành ở giáo phận Bereina, nước Papua New Guinea.

Sơ Anna giới thiệu: “Chúng tôi là một cộng đoàn nhỏ các người nữ sống đời thánh hiến đi truyền giáo. Chúng tôi theo Chúa Giêsu trong sứ vụ gần gũi với người trẻ và trẻ em, ở miền nam Philippines và Papua New Guinea. Từ năm 2013, được Giám mục địa phương mời đến, chúng tôi đã hiện diện tại giáo phận Bereina. Ban đầu chúng tôi đến đây chỉ để có kinh nghiệm truyền giáo ngắn ngủi. Chúng tôi đã nhận ra tình trạng nghèo đói và khốn khổ ở một đất nước non trẻ của châu Đại Dương. Tình trạng mù chữ ở đây rất cao, có rất nhiều trẻ em chưa học qua lớp một. Trẻ sơ sinh chết non cũng cao nhất ở châu lục này. Các bệnh viện chỉ có ở thủ đô, trong khi tại các trạm xá của các làng ở những vùng xa xôi, như của chúng tôi, thỉnh thoảng mới có một y tá. Phương tiện truyền thông thì cũng hiếm hoi.”

“Giáo hội đã đến Papua New Guinea từ 130 năm trước và các thừa sai người Pháp và người Australia, các tu sĩ dòng Marist và dòng Thánh Tâm đã hy sinh sự sống để loan báo về Chúa Giêsu Kitô. Đó là một Giáo hội rất trẻ, vẫn cần rất nhiều sự hỗ trợ và hướng dẫn. Nhân dịp kết thúc năm phụng vụ, đức tân giám mục của giáo phận Bereina đã đến. Đức cha Otto Separy hiện nay đã quen với thực tế của vùng này.”

“Bên ngoài một số ít trung tâm thành phố, cấu trúc xã hội vẫn được tổ chức thành những ngôi làng với các túp lều và có một trưởng làng điều hành. Các phụ nữ và trẻ em không có giá trị gì, đến nỗi mà truyền thống mua vợ bằng cách đổi các gia súc vẫn còn được áp dụng. Trong mùa mưa, những ngôi làng thường bị lụt lội và những vườn rau, nguồn sống duy nhất của nhiều gia đình, thường bị thiệt hại. Ngay cả vào đầu năm nay, chúng tôi đã gặp những vấn đề nghiêm trọng do lụt lội gây nên.”

“Dẫu cho mọi thứ, vẫn còn đó hy vọng và chúng tôi có thể làm chứng về nó. Trong sáu năm này, chúng tôi đã nhìn thấy cách thế Thiên Chúa dọn đường cho việc truyền giáo. Với sự giúp đỡ của các thiện nguyện viên từ Ý và Philippines, làm việc với các trẻ em địa phương, một trường học đã được xây dựng và vào năm 2015, chúng tôi đã bắt đầu năm học đầu tiên với 140 trẻ em ghi danh học. Một số nữ tu dạy học, và chúng tôi có một nhóm giáo viên địa phương làm việc với chúng tôi. Tìm những giáo viên tốt thực sự là khó bởi vì trình độ giáo dục ở hệ thống các trường của Papua thì rất thấp. Từ năm 2016 chúng tôi cũng mở một trung tâm trợ giúp học tập cho người lớn, để họ có thể học tiếp chương trình học bị dở dang. Có rất nhiều người đăng ký học và đây là một dấu hiệu hy vọng to lớn đối với chúng tôi, điều chúng tôi nhìn thấy trên gương mặt của rất nhiều người trẻ và người lớn có cơ hội để trở lại trường học. Năm 2017 chúng tôi xây dựng một tiệm bánh nướng, tiệm bánh thánh Philípphê Neri. Mỗi ngày gần 50 ký bánh được sản xuất cho chúng tôi, các trẻ em và thiếu niên của chúng tôi, cho các bà mẹ làm việc giúp đỡ công việc truyền giáo của chúng tôi và cho rất nhiều người thường đến gõ cửa chúng tôi mỗi ngày.”

“Tiếp xúc với các trẻ em ở trường học, chúng tôi ý thức về tình trạng lạm dụng và bị đối xử tệ bạc đáng buồn của rất nhiều gia đình. Ở Papua New Guinea này, quyền của trẻ em và phụ nữ thường bị chà đạp. Năm 2018, với sự giúp đỡ của các thiện nguyện viên từ Ý và các cộng tác viên khác, nhà của các thiên thần được thành lập, ngôi nhà gia đình đón tiếp các thiếu nữ cần được bảo vệ và chăm sóc. Hiện nay chúng tôi có 10 thiếu nữ tuổi từ 3 đến 15 ở với chúng tôi.”

Papua New Guinea dành được độc lập từ Australia vào năm 1975. Papua New Guinea rất giàu về tài nguyên, với các mỏ dầu và khí đốt, vàng, đất đai phì nhiêu. Tuy thế, dù cho thiên nhiên giàu có, người dân ở đây vẫn ở trong tình trạng nghèo khổ, lạc hậu về văn hóa và nghèo nàn. Papua thường được gọi là ‘miền đất của bất ngờ’ và nó thực sự đúng như thế.”

Hội nghị lần thứ 7 về Truyền giáo của Philippines

2018.10.16 Sinodo giovani: card. Luis Antonio Tagle, arcivescovo di Manila (Filippine)

Đức Hồng y Luis Antonio Tagle, Tổng giám mục Manila và tân Bộ trưởng Bộ truyền giáo, sẽ tổ chức Hội nghị lần thứ 7 về Truyền giáo của Philippines.

Hội nghị sẽ được tổ chức trong hai ngày 27 và 28/01 với chủ đề “Sino ang aking kapwa?” – Ai là người lân cận của tôi? (Lc 10,29).

Chủ đề này vang vọng trong việc cử hành “Năm đại kết, Đối thoại liên tôn và các Dân tộc bản địa” được Giáo hội Philippines tổ chức vào năm 2020.

Hội nghị về Truyền giáo của Philippines là sáng kiến của Đức Hồng y Tagle, hàng năm quy tụ hơn 5000 giám mục, linh mục, nữ tu và giáo dân vào một cuối tuần, ca ngợi, thờ phượng, chia sẻ giáo lý và chia sẻ, để củng cố tình yêu Kitô giáo đối với Chúa Giêsu và công việc truyền giáo.

Hội nghị này thường được tổ chức vào tháng 11. Vì Đức Hồng y Tagle sẽ bắt đầu nhiệm vụ mới, Bộ trưởng Bộ truyền giáo, vào tháng 2 nên năm nay Hội nghị được tổ chức sớm.

Philippines đang trong thời gian chuẩn bị kỷ niệm 500 năm Tin Mừng được rao giảng tại nước này. (Matters India 02/01/2019)

Thứ Bảy, 4 tháng 1, 2020

CHÚC MỪNG LỄ HIỂN LINH - Bổn mạng Ca đoàn Hiển Linh


Hôm nay phụng vụ kính lễ Hiển linh. Tuy nhiên nhiều người vẫn quen gọi là lễ Ba vua? Danh xưng nào chính xác hơn?
Thế còn tại sao gọi là lễ Ba Vua?
Như vừa nói, trong lễ Hiển linh (epiphania), phụng vụ mừng ba biến cố mà Chúa Giêsu xuất hiện cho nhân loại. Tuy nhiên, biến cố thứ nhất (nghĩa là tỏ hiện cho các đạo sĩ) thu hút sự chú ý của dân gian hơn, bởi vì gắn liền với lễ Giáng sinh, mang theo hình ảnh của hài nhi Giêsu sinh ra tại hang đá Bê-lem. Bên cạnh tượng Thánh nhi nằm trong máng cỏ giữa con bò và con lừa, người ta đặt tượng Đức Mẹ, thánh Giuse; xa hơn chút nữa là các mục đồng được các thiên thần gọi đến hang đá. Mãi hơn 10 ngày sau, người ta mới thêm một tốp nữa gồm có ba vua từ phương xa đến thờ lạy Chúa, mang theo lễ phẩm là vàng, nhũ hương, mộc dược. Vì thế gọi là “lễ ba vua”.
Ba ông là Vua của những nước nào vậy?
Chúng ta cần phải phân biệt đâu là nền tảng Kinh thánh, và đâu là truyền kỳ dân gian. Bản văn Tin mừng theo thánh Matthêu 2,1 nói rằng: “Khi Đức Giêsu ra đời tại Bê-lem, miền Giuđê, thời vua Hêrôt trị vì, có mấy nhà chiêm tinh từ phương Đông đến Giêrusalem”. Bản văn nói đến các nhà “chiêm tinh” chứ không phải là “vua”, và cũng không xác định con số là bao nhiêu vị. Nhiều bức hoạ cổ thời vẽ hai, bốn, sáu, tám, và thậm chí có nơi tăng đến số 12 (có lẽ cho cân xứng với 12 chi tộc Israel). Tuy nhiên, vào thế kỷ III, ông Origène đã nói đến 3 vị, và truyền thuyết này dần dần lan rộng trở thành phổ thông từ thế kỷ V.
Con số 3 có ý nghĩa gì không?
Số 3 có thể giải thích vừa theo nghĩa đo lường toán học, vừa theo nghĩa biểu tượng. Trước tiên là theo nghĩa toán học. Thánh Matthêu (chương 2 câu 10) nói đến 3 lễ phẩm mà các ông mang đến: vàng, nhũ hương, mộc dược. Người ta suy đoán rằng nếu có 3 lễ phẩm thì hẳn là phải có ba người: nếu ít hơn thì cồng kềnh (không lẽ một ông phải vác ba món quà?), nhiều hơn thì cũng kỳ (chẳng lẽ có người đi tay không!). Theo nghĩa biểu tượng. Trong Cựu ước, người ta nói đến ba thiếu niên cương quyết không chịu bỏ đạo mặc dù bị vua Nabucođonosor doạ bắt bỏ trong lò lửa. Ba nhà chiêm tinh của chúng ta cũng thế: họ can đảm lên đường đi tìm vua dân Do thái, bất chấp những khó khăn của hành trình, và kể cả nguy cơ bị vua Hêrôt ám sát.
Thánh Matthêu nói đến các nhà chiêm tinh, tại sao ba nhà chiêm tinh lại biến thành ba vua?
Theo các nhà chú giải Kinh thánh, các nhà “chiêm tinh” không phải là các ông thầy bói đâu, nhưng có thể so sánh như các nhà thiên văn, và cách riêng ở bên Ba-tư, họ thuộc hàng ngũ tư tế, làm cố vấn cho nhà vua về y khoa và thiên văn. Truyền thống dân gian gọi họ là “các vua” bởi vì móc nối với các lễ phẩm được nói ở thánh vịnh 72 câu 10 “Từ Tharsis và hải đảo xa xăm, hàng vương giả sẽ về triều cống. Cả những vua Ả-rập, Saba, cũng đều tới tiến dâng lễ vật. Mọi quân vương phủ phục trước bệ rồng, muôn dân nước thảy đều phụng sự”. Thực ra thánh vịnh 72 nói đến các vua chúa Ả-rập và Saba đến yết kiến vua Salomon vì khâm phục tài trí khôn ngoan của ông. Nhưng các Kitô hữu áp dụng cho các vua từ tứ phương đến thờ lạy Chúa Giêsu.
Làm sao mà có chuyện “tứ phương thiên hạ”, đang khi mà thánh Matthêu chỉ nói đến những nhà chiêm tinh đến từ phương Đông?
Trong tư tưởng thánh Matthêu, phương Đông chắc chắn không phải là Trung Hoa Việt Nam, mà chỉ là những nước nằm ở bên kia bờ sông Giorđanô, và các giáo phụ cho rằng có thể là từ Ba tư hoặc Ả-rập. Thánh Augustinô đã giải thích các đạo sĩ từ phương Đông như là “hoa trái đầu mùa của muôn dân sẽ được lãnh ơn cứu độ” (Sermo 200,1: PL 38,1028). Nhưng mãi đến thế kỷ XIII mới phát sinh truyền thống nói đến ba vua tượng trưng cho ba châu lục Âu, Á, Phi, thuộc ba dòng dõi của ông Noe: Sem, Cam, Japhet (St 10,1). Từ đó ta thấy ông vua da trắng, da vàng, da đen. Tưởng cũng nên biết là khi mới khám phá châu Mỹ, người ta cũng muốn thêm một ông vua da đỏ nữa, nhưng tục lệ này không được phổ biến cho lắm.
Ba vua không chỉ tượng trưng cho ba châu lục, mà còn có tên riêng nữa phải không?
Đúng thế. Từ thế kỷ VII, ba ông được đặt tên là Balthasar vua Ấn độ, Melchior vua Ba tư, Gaspar vua Ả-rập. Ta thấy các tên này không có màu sắc gì của châu Á và châu Phi cả! Chưa hết đâu, lưu truyền dân gian còn muốn rằng sau khi đã thờ lạy Chúa Giêsu, ba ông trở về Ba Tư. Về sau khi thánh Tôma tông đồ đi truyền giáo, ngài đã gặp lại ba ông và đã tấn phong giám mục cho họ, và cử họ đi loan báo Tin mừng. Cả ba được phúc tử đạo, thi hài được tôn kính ở Ba tư, rồi sau đó chuyển về Milanô (Italia), và từ cuối thế kỷ XII được hoàng đế Federicô I đem qua nhà thờ chánh toà Colonia (Đức).
Như vậy phần lớn chuyện ba vua là do truyền thống dân gian dựng nên. Còn thánh Matthêu muốn nói gì khi kể chuyện các nhà chiêm tinh đến thờ lạy Chúa?
Thánh Matthêu gói ghém nhiều sứ điệp trong đoạn Tin mừng mà phụng vụ công bố trong ngày lễ Hiển Linh. Như đã nói, thánh sử không nói đến các vua đến thờ lạy Hài nhi Giêsu, nhưng là các nhà chiêm tinh đi tìm thờ lạy Đức Giêsu là vua, như câu hỏi mà các ông đã đặt ra cho triều đình Hêrôđê: “Đức Vua của dân Do-thái mới sinh, hiện ở đâu? Chúng tôi đã thấy vì sao bên phương Đông, nên chúng tôi đến bái lạy Ngài”. Các ông đi bái lạy Đức Giêsu như là Vua. Các giáo phụ giải thích ý nghĩa của 3 phẩm vật dâng tiến – vàng, hương, mộc dược – như là việc tuyên xưng ba phẩm tính của Người: vàng vì là vua, hương vì là Thiên Chúa, mộc dược như là con người hay chết. Tuy nhiên có lẽ thánh Matthêu không đi xa như vậy. Điểm chính mà thánh sử muốn nhắm tới đó là cho thấy rằng các dân ngoại từ phương xa đã biết nhìn nhận đức Giêsu là vua Mêsia, đang khi mà dân Do thái thì thờ ơ lãnh đạm, thậm chí còn muốn tìm cách thủ tiêu Người nữa.

Nhưng vua Hêrôđê đâu có giết được Chúa Giêsu?

Đúng vậy. Thánh Matthêu cho chúng ta biết rằng một thiên sứ đã hiện ra báo tin cho ông Giuse, và ông đã đưa Đức Mẹ và hài nhi Giêsu lánh nạn sang Ai cập. Tuy nhiên, điều xảy ra vào lúc giáng sinh ra như đã tiên báo số phận tương lai của Đức Giêsu: Ngài sẽ bị dân tộc của mình tẩy chay (Mt 21,42-43), nhưng các dân ngoại sẽ chấp nhận Tin mừng. Mặt khác, ra như thánh sử cũng biện minh phần nào thái độ của dân Do thái, đó là sự hiểu lầm của họ. Vua Hêrôđê nghe nói có một vị vua mới sinh ra, và ông lo ngại cho ngai báu của mình sẽ bị lung lay. Nhưng Đức Giêsu không phải là Vua theo nghĩa chính trị đâu. Ngài làm Vua theo nghĩa khác, vua Mêsia.
Làm sao các nhà chiêm tinh biết được có vua Mêsia giáng trần?
Qua dấu của ngôi sao. Nói cho đúng, chuyện một ngôi sao lạ như là điềm của một vĩ nhân giáng trần không phải là xa lạ trong lịch sử các dân tộc. Tuy nhiên, có lẽ thánh sử Matthêu không dựa vào lịch sử các tôn giáo cho bằng dựa vào chính truyền thống của dân Do thái. Từ đoạn văn sách Dân số (24,17) nói đến “một ngôi sao sẽ xuất hiện từ nhà Giacóp và vương trượng từ Israel”, các rabbi đã chú giải trong sách Targum như thế này: “Một vị vua sẽ chỗi dậy từ nhà Giacóp, và một vị cứu tinh từ nhà Israel”. Vào thời Tân ước, nhiều người gọi Đấng Mêsia như là ngôi sao nhà Đavít, như chúng ta thấy vết tích nơi sách Khải huyền chương 22,16. Trong lịch sử Kitô giáo, đã có nhiều cuộc tranh luận về bản chất của ngôi sao xuất hiện cho các nhà chiêm tinh: phải chăng đó là một sao chổi, hay một ngôi sao nào khác thường? Phải chăng ngôi sao trên bầu trời, hay chỉ là ngôi sao trong tâm hồn của các nhà chiêm tinh (nghĩa là hiểu theo nghĩa bóng)? Thánh sử Matthêu không nói rõ điều đó, mà chỉ ghi nhận rằng: các nhà chiêm tinh từ phương xa đã nhìn nhận Đức Giêsu là vị cứu tinh, và họ lên đường đi tìm kiếm để thờ lạy; còn chính các luật sĩ sống ở Giêrusalem cầm Kinh thánh trên tay, biết rằng Đức Mêsia sẽ giáng sinh tại Belem, nhưng họ không bận tâm tìm kiếm thờ lạy. Hình như bài học này vẫn còn giá trị cho cả chúng ta: chúng ta tự hào vì mình đã tin Chúa, biết Chúa, nhưng chẳng buồn tìm kiếm thờ lạy yêu mến Ngài; đang khi những người ngoại đạo thì lại gần gũi Chúa hơn bởi vì họ không ngừng tìm chính đạo và tuân giữ.
nguồn: Đaminh VN
Nếu chỉ phân tích từ ngữ Hán Việt, thì quả thực là khó nói. “Hiển linh” là gì? Trong Từ điển tiếng Việt do Viện Ngôn Ngữ học xuất bản, “Hiển linh” (động từ) được định nghĩa là: “thần thánh tỏ rõ sự linh thiêng, theo mê tín”. Từ điển Việt Nam do ông Thanh Nghị xuất bản năm 1958 cho rằng “hiển linh” là tĩnh từ, có nghĩa là: “linh thiêng, rõ ràng”. Xem ra đó cũng là ý kiến của ông Lê Thanh, tác giả cuốn Tiếng nói nôm na (1999): hiển linh là “rất linh thiêng, thiêng liêng lộ rõ ra bằng sự thật”. Dù hiểu “hiển linh” như động từ hay tính từ đi nữa, thì chẳng qua cũng là dịch bởi danh từ gốc Hy-lạp epiphania, có nghĩa là sự “hiện ra, bày tỏ”. Tân ước dùng từ này để nói đến việc Thiên Chúa đã xuất hiện (tỏ lộ, mặc khải) cho nhân loại ở nơi Đức Giêsu (Lc 1,79; Tt 2,11; 3,4), hoặc là việc Đức Kitô sẽ xuất hiện trong vinh quang ngày tận thế (2Tm 4,8; Tt 2,13). Phụng vụ (cách riêng là bên Đông phương) nói đến ba cuộc tỏ hiện của Chúa Giêsu: thứ nhất cho các đạo sĩ; thứ hai tại sông Hòa giang; thứ ba tại tiệc cưới Cana. Dù ba biến cố cách xa nhau hơn 30 năm trường, nhưng đều nhằm bày tỏ thiên tính của Đức Giêsu, đặc biệt vào chặng đầu của mầu nhiệm Nhập thể. Cả ba biến cố đều được ghi lại trong Phúc âm, và được tóm lại trong Điệp ca Magnificat Kinh chiều lễ Hiển linh.

Tin Mừng Chúa nhật lễ Hiển Linh - Năm A

05-01-chua-nhat-le-hien-linh

Phúc Âm: Mt 2, 1-12
"Chúng tôi từ phương Ðông đến thờ lạy Ðức Vua".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Matthêu.

Khi Chúa Giêsu sinh hạ tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, trong đời vua Hêrôđê, có mấy nhà đạo sĩ từ Ðông phương tìm đến Giê-rusalem. Các ông nói: "Vua người Do-thái mới sinh ra hiện đang ở đâu? Chúng tôi đã nhận thấy ngôi sao của Người ở Ðông phương, và chúng tôi đến để triều bái Người". Nghe nói thế, vua Hêrôđê bối rối, và tất cả Giêrusalem cùng với nhà vua. Vua đã triệu tập tất cả các đại giáo trưởng và luật sĩ trong dân, và hỏi họ cho biết nơi mà Ðức Kitô sinh hạ. Họ tâu nhà vua rằng: "Tại Bêlem thuộc xứ Giuđa, vì đó là lời do Ðấng Tiên tri đã chép: Cả ngươi nữa, hỡi Bêlem, đất Giuđa, không lẽ gì ngươi bé nhỏ hơn hết trong các thành trì của Giuđa, vì tự nơi ngươi sẽ xuất hiện một thủ lãnh, Người đó sẽ chăn nuôi Israel dân tộc của Ta".

Bấy giờ Hêrôđê ngầm triệu tập mấy nhà đạo sĩ tới, cặn kẽ hỏi han họ về thời giờ ngôi sao đã hiện ra. Rồi vua đã phái họ đi Bêlem và dặn rằng: "Các khanh hãy đi điều tra cẩn thận về Hài Nhi, rồi khi đã gặp thấy, hãy báo tin lại cho Trẫm, để cả Trẫm cũng đến triều bái Người". Nghe nhà vua nói, họ lên đường. Và kìa ngôi sao họ xem thấy ở Ðông phương, lại đi trước họ, mãi cho tới nơi và đậu lại trên chỗ Hài Nhi ở. Lúc nhìn thấy ngôi sao, họ hết sức vui mừng. Và khi tiến vào nhà, họ đã gặp thấy Hài Nhi và Bà Maria Mẹ Người, và họ đã quỳ gối xuống sụp lạy Người. Rồi, mở kho tàng ra, họ đã dâng tiến Người lễ vật: vàng, nhũ hương và mộc dược. Và khi nhận được lời mộng báo đừng trở lại với Hêrôđê, họ đã qua đường khác trở về xứ sở mình.

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020

Kinh Truyền Tin với ĐTC: 2020 một năm để vun trồng hy vọng và hòa bình


Tại buổi đọc Kinh Truyền Tin trong ngày lễ trọng kính đức Maria Mẹ Thiên Chúa, Đức Thánh Cha Phanxicô kêu gọi chúng ta hãy sống năm 2020 với lòng biết ơn vì những phúc lành do bởi tình yêu Thiên Chúa nơi Đức Giêsu Ki-tô. Đức Thánh Cha cũng xin lỗi vì ngài đã mất kiên nhẫn vào ngày hôm qua khi chào thăm các tín hữu gần hang đá tại Quảng trường thành Phê-rô.

Trước khi đọc Truyền Tin, Đức Thánh Cha đã nhắn nhủ rằng: Đêm qua, chúng ta đã kết thúc năm 2019 bằng cách tạ ơn Chúa vì món quà của thời gian và tất cả những phúc lành mình lãnh nhận. Hôm nay chúng ta bắt đầu năm 2020 với cùng một thái độ ấy: biết ơn và ngợi khen.

Cho chúng ta thấy người con

Trong ngày lễ kính Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa, diễn ra vào ngày 1 tháng 1, Đức Maria chúc phúc cho chúng ta bằng việc cho chúng ta thấy Người Con của mình.

Mẹ chúc phúc cho cả Giáo hội, cho cả thế giới. Và Chúa Giêsu, như các Thiên thần đã hát vang tại Bêlem, là “niềm vui cho tất cả mọi người”. Ngài là vinh quang của Thiên Chúa và bình an cho nhân loại.

Chúa Giêsu, Đấng Cứu Độ, là phúc lành Thiên Chúa dành cho mọi người nam cũng như nữ, vì Người đã đánh bại cái ác ngay tại gốc rễ của nó.

Lời xin lỗi

Ơn cứu độ của Người không phải là phép thuật, nhưng là ơn cứu rỗi của sự kiên nhẫn, bao gồm cả sự kiên nhẫn của tình yêu, và chính điều này loại trừ sức mạnh của sự dữ. Sự kiên nhẫn của tình yêu chính là việc tình yêu làm cho chúng ta kiên nhẫn. Và Đức Thánh Cha nhấn mạnh: Chúng ta thường mất kiên nhẫn. Tôi cũng vậy và tôi xin lỗi vì trường hợp hôm qua ...

Lời xin lỗi của Đức Thánh Cha liên quan đến khoảnh khắc diễn ra vào ngày hôm qua, khi ngài chào thăm các tín hữu thăm hang đá tại quảng trường thánh Phê-rô tối thứ ba. Một người phụ nữ đã kéo mạnh cánh tay của ngài, và làm cho ngài cảm thấy rất đau, nên Đức Thánh Cha đã phản ứng lại bằng một cử chỉ thiếu kiên nhẫn để thoát khỏi cái ghì của bà.

Thiên Chúa luôn yêu thương chúng ta

Đức Thánh Cha nhấn mạnh rằng Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta: Thiên Chúa yêu thương chúng ta, ngay cả khi chúng ta đã đánh mất lòng tự trọng của mình khi vẫn muốn mình là những tù nhân của những vòng luẩn quẩn.

Với những ai là nạn nhân của bất công và bóc lột, cũng như không còn lối thoát, Chúa Giêsu mở ra cánh cửa của tình huynh đệ, nơi họ có thể tìm thấy những khuôn mặt, những trái tim và những vòng tay chào đón, nơi họ có thể sẻ chia những cay đắng và tuyệt vọng, và để phục hồi một chút phẩm giá.

Những ai bị đau ốm nặng nề và cảm thấy bị bỏ rơi nên nhớ rằng Chúa Giêsu ở gần họ và dịu dàng chạm vào vết thương của họ, biến sự yếu đuối thành sức mạnh hướng tới sự thiện.

Với những ai đang bị giam cầm và bị cám dỗ khép lại nơi chính mình, Chúa Giêsu mở ra chân trời hy vọng, bắt đầu bằng một tia sáng nhỏ.

Ngày hòa bình thế giới

Nhân ngày Hòa bình Thế giới lần thứ 53, Đức Thánh Cha cũng nhắc lại thông điệp của mình trong ngày đầu năm mới này.

Thông điệp cho năm 2020 của Đức Thánh Cha là: ‘Hòa bình như một hành trình hy vọng, mà tiến trình ấy được thực hiện ngang qua đối thoại, hòa giải và hoán cải sinh thái.

2020: hành trình của hy vọng

Trước khi đọc Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha đã mời gọi chúng ta bước xuống khỏi bệ đá kiêu hãnh của mình, - tất cả chúng ta đều có cám dỗ kiêu hãnh - và xin phúc lành của Mẹ Thiên Chúa – người Mẹ khiêm nhường của Thiên Chúa, Đấng cho chúng ta thấy rằng chúng ta được chúc phúc trong Chúa Giêsu.

Vì vậy, năm nay sẽ là một hành trình của hy vọng và hòa bình, không phải bằng lời nói, nhưng bằng những cử chỉ đối thoại, hòa giải và chăm sóc cho công trình sáng tạo mỗi ngày.

Sau Kinh Truyền Tin

Sau khi đọc Kinh Truyền Tin, Đức Thánh Cha đã chào và gửi lời chúc năm mới với những điều tốt lành và bình an cho tất cả các tín hữu hiện diện tại quảng trường thánh Phê-rô, và những ai đang theo dõi qua các phương tiện truyền thông.

Ngài đặc biệt chào các tham dự viên của sự kiện "Hòa bình trên mọi miền". Sự kiện này được Cộng đồng thánh Egidio tổ chức tại Roma và nhiều thành phố trên thế giới.

Đức Thánh Cha cũng gửi lời chào và khích lệ đến tất cả các sáng kiến ​​vì hòa bình mà các hiệp hội và phong trào trong Giáo hội đã thực hiện trong Ngày Hòa bình này như: các buổi gặp gỡ cầu nguyện và huynh đệ, cùng với việc liên đới với những người nghèo khổ nhất. Ngài cũng đặc biệt nhớ tới cuộc tuần hành diễn ra chiều hôm qua ở Ravenna.

Tiếp đến, Đức Thánh Cha cám ơn những tình nguyện viên tại những nơi mà hòa bình và công lý đang bị đe dọa nhưng đã can đảm chọn hiện diện dưới hình thức bất bạo động và phi vũ trang. Ngài cũng không quên các nhân viên quân sự đang hoạt động trong các nhiệm vụ gìn giữ hòa bình ở nhiều khu vực xung đột.

Sau cùng, Đức Thánh Cha nhấn mạnh: Đối với tất cả mọi người, những người tin và không tin, vì tất cả chúng ta đều là anh em, tôi mong là đừng bao giờ ngừng hy vọng về một thế giới hòa bình, một thế giới được xây dựng cùng nhau từng ngày. Và xin đừng quên cầu nguyện cho tôi.

Kinh Nguyện Giới Trẻ: CHÚA Ở LẠI VỚI CHÚNG CON

Kinh Nguyện Giới Trẻ: CHÚA Ở LẠI VỚI CHÚNG CON
(Kinh Nguyện dựa trên Lc 24,13-35 và Christus Vivit 237)
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô,/ là Thầy và là Bạn của giới trẻ chúng con,/ Chúa đã xuống thế làm người,/ chịu đau khổ, chịu chết vì chúng con./ Sau khi sống lại,/ Chúa đã đồng hành với hai môn đệ trên đường Em-mau/ và soi trí mở lòng cho họ hiểu biết Lời Chúa./ Chúa đã Bẻ Bánh cho họ tham dự sự sống của Chúa/ và làm cho mắt họ sáng ra để họ nhận biết Chúa./ Nhờ ơn Chúa giúp,/ họ trở thành những chứng nhân trung tín của Chúa cho mọi người./
Chúng con cảm tạ Chúa,/ vì Chúa ở lại với chúng con cho đến tận thế./ Xin cho chúng con ngày càng hiểu biết/ và yêu mến Lời Chúa hơn,/ để Lời Chúa luôn là 'ngọn đèn soi cho con bước,/ là ánh sáng chỉ đường con đi'./ Xin cho chúng con siêng năng đến với Bí Tích Thánh Thể,/ để chúng con được tham dự sự sống đời đời của Chúa/ ngay trong hành trình trần thế này./ Xin cho chúng con hăng say loan báo Tin Mừng Bình An của Chúa/ trong môi trường sống của chúng con.
Xin cho chúng con luôn cảm nghiệm được lòng Chúa xót thương/ và dấn thân giữa dòng đời bằng tình yêu và hành động. Xin cho chúng con biết đi theo Con Đường Trái Tim Chúa/ để đến với mọi người,/ nhất là những người nghèo khổ/ và thiếu vắng tình thương./ Xin cho chúng con biết yêu mến muôn vật muôn loài Chúa đã dựng nên/ và cộng tác với Chúa trong công trình sáng tạo.
Lạy Chúa Giê-su Ki-tô, là Thầy và là Bạn của giới trẻ chúng con,/ xin cho chúng con luôn là những môn đệ và tông đồ trung tín của Chúa trong hành trình trấn thế này,/ cho đến ngày được ở cùng Chúa Trên Quê Trời. Amen.
Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên

Tại sao người Công giáo cúi đầu mỗi khi nghe Danh thánh Chúa Giêsu

Tại sao người Công giáo cúi đầu mỗi khi nghe Danh thánh Chúa Giêsu

WGPSG / Aleteia -- Tập tục này lấy cảm hứng từ Kinh Thánh và được Đức Giáo hoàng Grêgôriô X thiết lập vào thế kỷ 13. 

Người Công giáo thực hiện rất nhiều cử chỉ tôn kính trong Thánh lễ, và một trong những cử chỉ được thực hành rộng rãi trong nhiều thế kỷ - đó là cúi đầu mỗi khi Danh thánh của Chúa Giêsu được nhắc đến. Ngay cả khi không được nhấn mạnh nhiều trong vài thập kỷ qua, việc cúi đầu vẫn được nhiều giáo dân cũng như một số linh mục tôn giữ. 

Nguồn gốc của việc cúi đầu này chủ yếu được lấy cảm hứng từ những lời sau đây trong Thư của thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Philípphê: 

“Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Ðức Giêsu Kitô là Chúa”. (Phi-líp-phê 2: 9-11) 

Thực tế mà nói, việc quỳ gối mỗi khi nhắc đến Thánh danh Giêsu là một việc khá khó khăn, nên Đức Giáo hoàng Gregory X đã tìm kiếm một giải pháp. Ngài viết về giải pháp này cho Dòng Đa Minh vào năm 1274, bày tỏ mong muốn có một số cử chỉ cụ thể được thực hiện để tôn vinh Thánh danh Giêsu. Phần tông thư dưới đây của Đức Giáo hoàng Gregory X đã được in trong cuốn sách Với Chúa: Một cuốn sách Cầu nguyện và Suy ngẫm của thánh Phanxicô Xaviê Lasance: 

“Mới đây, trong Công đồng được tổ chức tại Lyons, chúng tôi nhận định rằng quả là đáng tuyên dương khi khích lệ các tín hữu vào Nhà Chúa cách khiêm tốn và sốt sắng, và cư xử cách đúng hợp sao cho xứng với ơn Chúa ban và sự soi sáng của Ngài.

"Chúng tôi cũng nhận xét rằng thật là thích đáng khi cổ động các tín hữu thể hiện sự tôn kính đối với Danh Hiệu vượt trên mọi danh hiệu, một Danh Hiệu duy nhất để chúng ta van nài ơn cứu rỗi – đó là Thánh Danh Giêsu Kitô, Đấng đã cứu chúng ta khỏi ách tội lỗi. Vì vậy, để tuân theo lời dạy của Thánh Phaolô: ‘Khi nghe Danh thánh Chúa Giêsu, hãy quỳ gối', chúng tôi mong rằng khi đọc Danh thánh này, nhất là trong Thánh Lễ, mọi người sẽ cúi đầu để biểu hiện rằng họ đang quỳ gối tôn kính cách thẩm sâu trong tim mình.” 

Đức Giáo hoàng Grêgôriô muốn mọi người không chỉ tôn vinh Danh thánh Chúa Giêsu, mà còn dâng mình cho Chúa với một cử chỉ yêu thương đơn giản. 

Dòng Đa Minh đã thực hiện nghiêm túc yêu cầu này của Đức Giáo Hoàng, và đứng hàng đầu trong việc quảng bá Danh Thánh Chúa Giêsu trong Giáo hội Công giáo, thuyết giảng về Danh Thánh, thành lập các Hội đoàn mang Thánh danh Giêsu, cũng như cung hiến cho Thánh danh Giêsu các bàn thờ trong Thánh đường. 

Tập tục này là một điều đơn giản, phản ánh mong muốn tôn vinh Danh thánh Giêsu, Danh hiệu duy nhất mang ơn cứu độ cho chúng ta. 

Philip Kosloski (Aleteia) / Nguyên Thủy chuyển ngữ