Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020

Chân phước James Miller, một cuộc đời dành cho giới trẻ và dân nghèo

2019.11.13 James Alfred Miller

Thứ Bảy ngày 07/12/2019, thầy James Miller dòng Lasan, bị sát hại tại Guatemala 36 năm trước, đã được phong chân phước tại nơi thầy đã hy sinh phục vụ người dân nghèo cho đến hy sinh mạng sống.

Thánh Gioan Baotixita Lasan đã nói với một trong những sư huynh đầu tiên của dòng Lasan: “Trao ban cho đến ngay cả sự sống, và phải yêu thương hết lòng những người trẻ được trao phó cho anh em.” Sư huynh James Miller đã sống tròn đầy sứ mạng phục vụ người trẻ và dâng hiến sự sống cho Thiên Chúa và cho các thế hệ mới bằng cái chết tử đạo của mình.

Tiểu sử

James Miller sinh ngày 21/09/1944, trong một gia đình nông dân người Mỹ ở Ellis, gần Stevén Point, bang Wisconsin, Hoa Kỳ. Là con đầu lòng trong gia đình có 5 người con, Miller lớn lên trong bầu khí lành mạnh, lao động, được hướng dẫn bởi các giá trị tôn giáo truyền thống. Sau khi hoàn thành chương trình tiểu học, Miller theo học trường trung học Công giáo Pacelli và tại đây cậu lần đầu gặp gỡ các sư huynh dòng Lasan. Mặc dù dự định sẽ trở thành linh mục, nhưng tháng 09/1959, Miller đã gia nhập dòng các sư huynh Lasan do bị thu hút bởi hoạt động tông đồ trong môi trường giáo dục của dòng.

Sau khi khấn dòng, thầy Miller học tại đại học Saint Mary ở Winnona và đậu cử nhân ngôn ngữ Anh và Tây Ban Nha. Ngay sau đó thầy được gửi về Stevens Point dạy học tại trường trung học ở Minnesota.

Sứ vụ truyền giáo

Ba năm sau, năm 1969, thầy Miller được khấn trọn đời và được gửi đến Bluefields, nước Nicaragua. Như thế là thầy được tròn nguyện ước truyền giáo tại Trung Mỹ. Năm 1974, thầy được chuyển đến Puerto Cabezas, cũng ở Nicaragua, và trở thành giám đốc một trường học. Trong 5 năm thầy Miller ở đó, số học sinh đăng ký học tại trường gia tăng gấp đôi. Thầy cũng khởi xướng xây thêm 10 trường trong vùng.

Năm 1979, vì tình hình chính trị bất an ở Nicaragua, với cuộc cách mạng của mặt trận dân tộc giải phóng do Sandino lãnh đạo chống lại sự chiếm đóng của Hoa Kỳ tại Nicaragua, lật đổ chính phủ Somoza mà thầy Miller đang làm việc, bề trên lo ngại cho sự an ninh của thầy nên đã gọi thầy trở về Mỹ. Dù nhận biết tình trạng bạo lực đang gia tăng xung quanh mình nhưng thầy Miller không sợ hãi.

Vì người nghèo

Tháng 01/1981, thầy Miller lại được gửi đến Trung Mỹ, nhưng lần này là đến vùng Huehuetenango ở Guatemala. Tình hình chính trị tại nước này khi đó rất khó khăn. Giữa những người da trắng và thổ dân có sự xung đột căng thẳng. Tại đây thầy Miller đã dạy học ở trường cho người thổ dân và làm việc tại trung tâm dạy kỹ thuật nông nghiệp thực nghiệm cho người thổ dân Maya. Trung tâm dạy cho 150 thiếu niên từ các khu vực nghèo khổ ở miền quê và đồi núi, giúp cho các em vừa theo học chương trình học vừa học về nông nghiệp. Các kỹ năng này rất hữu ích cho những người nghèo bản địa, những người đã bị các tập đoàn giàu có mua hết đất của họ trong những năm trước, và đang phải cố gắng canh tác trên những đồi núi.

Không sợ nguy hiểm

Tháng 11 năm 1981, thầy Miller trở về Minnesota để giải phẫu đầu gối. Người thân của thầy cố gắng thuyết phục thầy đừng trở lại Guatemala nhưng tin rằng mình có thể giúp ích cho các người trẻ nước này, đầu năm 1982 thầy Miller đã trở lại nơi truyền giáo của mình.

Ngày 10/02, người ta báo cho thầy biết có một nhóm âm mưu sát hại thầy và điều đó đã xảy ra vào ngày 13/02/1982. Khi thầy Miller đang sửa chữa lại bức tường của trường học, thầy đã bị bắn 3 phát đạn vào lưng và qua đời ngay lập tức, khi mới chỉ 37 tuổi.

Giáo hội đang bị bách hại vì lựa chọn của mình vì người nghèo

Một tháng trước khi bị sát hại, thầy Miller viết trong một lá thư: “Cá nhân tôi rất mệt mỏi với bạo lực, nhưng tôi tiếp tục cảm thấy dấn thân mạnh mẽ đối với người nghèo khổ ở Trung Mỹ… Giáo hội đang bị bách hại vì lựa chọn của mình vì người nghèo. Nhận thức được vô số nguy hiểm và khó khăn, chúng tôi tiếp tục làm việc với niềm tin và hy vọng và tin tưởng vào sự Quan phòng của Thiên Chúa.”

Thầy Miller viết thêm: “Tôi đã là tu huynh của các dòng Lasan gần 20 năm nay và dấn thân để ơn gọi của tôi ngày càng thêm mạnh mẽ hơn trong công việc của tôi ở Trung Mỹ. Tôi cầu xin Chúa ban ơn và sức mạnh để phục vụ Người một cách trung thành giữa những người nghèo và bị áp bức ở Guatemala. Tôi đặt sự sống của tôi trong sự Quan phòng của Người. Tôi tin tưởng vào Người."

Dù cho bầu khí sợ hãi và bạo lực lan tràn, đã có gần 2000 người tham dự tang lễ của thầy tại Trung tâm thổ dân. Sau đó thi hài thầy được đưa về Hoa Kỳ an táng tại Wisconsin. Chiếc áo choàng trắng của thầy dính đầy bùn đất vì tất cả nông dân tham dự tang lễ của thầy ở Guatemala muốn chạm vào thầy để tỏ lòng tôn kính.

Điều gì có lẽ sẽ xảy đến trong thập niên 2020 này với Giáo Hội Công Giáo?


Điều gì sẽ xảy ra trong Giáo Hội trong thập kỷ đang đến? Chỉ có Thiên Chúa mới biết rõ, nhưng những điều đáng lưu tâm cũng đã nằm trước mắt. Sau đây là 10 điều rất có thể sẽ xảy ra trong 10 năm tới.


Bản đồ mật độ thay đổi

Nếu chiều hướng như hiện tại vẫn tiếp tục, Giáo Hội tăng trưởng 15 triệu linh hồn mỗi năm, thì số dân Công Giáo sẽ đạt trên 1,4 tỷ vào cuối thập niên 2020 (là con số lớn nhất trong lịch sử tồn tại). Phần lớn lượng gia tăng là ở châu Phi và Mỹ Latinh. Châu Á sẽ tăng 2 triệu tín hữu mỗi năm. Danh sách 10 nước đông dân Công Giáo nhất chắc chắn sẽ thay đổi. Cộng hoà Dân chủ Congo, hiện đứng ở vị trí thứ 10, chắc chắn sẽ tiến lên các thứ tự gần đầu bảng, trong khi đó Italy, Pháp và Tây Ban Nha sẽ đi xuống.

Đồng thời, Giáo Hội tại vùng Amazon cũng sẽ có những đổi mới theo sau các đề xuất tại Thượng hội đồng Giám Mục tháng 10/2019 vừa qua. Thượng hội đồng đã đề xuất nhiều giải pháp như phong chức linh mục cho các phó tế đã có gia đình để có nhiều thừa tác viên ban bí tích cho các cộng đồng vùng sâu vùng xa. Thế giới sẽ chứng kiến Công Giáo lấy lại vị thế ở vùng mà mình đã mất nhiều ảnh hưởng như thế nào.

Sự đàn áp Kitô giáo gia tăng

Theo tổ chức bác ái Open Doors, mỗi năm có trên dưới 4000 Kitô hữu bị giết hại vì đức tin, 2600 người bị kết án và 1200 nhà thờ bị tấn công. Kỳ thực, không có dấu hiệu gì để hy vọng con số này sẽ giảm trong 10 năm kế tiếp. Thay vì thế, nó có lẽ còn gia tăng vì những bất ổn chính trị toàn cầu. Vì không có cấp quyền lực bảo vệ, các cộng đồng Kitô hữu nhỏ bé ở Ai Cập đến Indonesia sẽ tiếp tục chịu đau khổ bách hại, từ hình thức kỳ thị đối xử đến giết chóc bạo lực. Ở Trung Quốc và Ấn Độ, 2 quốc gia đông dân nhất thế giới, tự do tôn giáo sẽ còn giảm nữa.

Lòng đạo đức bình dân trỗi dậy

Ngày 25/3 tới, lễ Truyền Tin, các Giám Mục sẽ tái dâng hiến nước Anh làm Di sản của Đức Maria. Hành động này là một bùng nổ lòng sùng kính Đức Mẹ kể từ đầu thiên niên kỷ đến nay, như có thể thấy từ sự kiện "Chuỗi Mân Côi quanh bờ biển" được tổ chức trên khắp thế giới.

Theo số liệu của Liên Hiệp Quốc, cứ 3 người đi du lịch thì 1 trong số đó là đi hành hương. Mỗi năm có 20 triệu người hành hương đền Đức Mẹ Guadalupe, 6 triệu người đi Lộ Đức và 300.000 người đến Camino, nơi lưu thánh tích của Thánh Giacôbê Tiền. Con số sẽ còn tăng trong thập niên này.

Gia tăng sử dụng Hình Thức Thánh Lễ Ngoại Thường

Có thể khó thống kê bằng con số, một bằng chứng sơ bộ cho thấy hình thức Thánh Lễ Ngoại Thường ngày càng được sử dụng nhiều hơn, nhất là giữa những người trung niên, kể từ khi Đức Giáo Hoàng Bênêđictô XVI cho phép bằng tự sắc Summorum Pontificum vào năm 2007. Ở Hoa Kỳ, năm 2006 có 220 Thánh Lễ Latinh truyền thống được cử hành. 10 năm sau, con số này là 450. Nhiều dòng tu cũng bắt đầu sử dụng hình thức Thánh Lễ truyền thống, và ngày càng nhiều hơn. Có lẽ những người yêu thích hình thức Thánh Lễ này vẫn chỉ là thiểu số, nhưng sẽ tăng đáng kể vào cuối những năm 20 của thế kỷ 21.

Những chuyến tông du Giáo Hoàng đến chảo lửa

Đức Giáo Hoàng Phanxicô khá hăm hở muốn thăm các quốc gia tan nát trên thế giới. Ngài mở Năm Thánh 2015 tại Trung Phi. Năm 2020, ngài ước muốn đến Nam Suđăng, một quốc gia đa số Công Giáo đã không thấy điều gì khác ngoài chiến tranh kể từ khi được thành lập năm 2011. Đức Giáo Hoàng cũng muốn đến Irắc, một ước muốn từ khá lâu, khi điều kiện cho phép. Các điểm đến khác nữa có lẽ là Venezuela, Pakistan và thậm chí Bắc Triều Tiên. Những điểm đến an toàn khả dĩ nhất trong năm 2020 là đảo Sýp và Montenegro.

Bên cạnh đó, một quốc gia mà ngài khá chắc chắn sẽ không đến, đó là: Argentina, quê hương ngài.

Quan hệ với Trung Quốc

Khả năng một chuyến viếng thăm của Giáo Hoàng đến Trung Quốc là rất mỏng manh. Chắc chắn là Toà Thánh phải lo thiết lập quan hệ ngoại giao chính thức với Bắc Kinh trước. Điều này có lẽ tốn mấy năm nữa, dù cho 2 bên đã có thoả thuận lịch sử vào năm 2018. Có rất nhiều ngăn trở, bao gồm cả quan hệ giữa Toà Thánh với Đài Loan, vùng lãnh thổ Toà Thánh vẫn công nhận chủ quyền quốc gia. Dù sao, những khó khăn này có thể sẽ được giải quyết trong vòng 10 năm tới.

Một mật nghị bầu Giáo Hoàng mới

Với lòng tôn kính Đức Thánh Cha đương kiêm, hầu hết người Công Giáo sẽ không muốn nghĩ đến mật nghị kế tiếp. Nhưng dù sao đi nữa, khá chắc chắn là mật nghị bầu Giáo Hoàng sau sẽ xảy ra trong thập kỷ 20 này. Khó mà đoán được kết quả cuộc bầu cử, nhưng đó sẽ là sự kiện ảnh hưởng sâu rộng trên toàn Giáo Hội.

Người nói nhiều hơn về Giáo Hoàng kế vị khi chứng kiến sự kiện Đức Hồng Y Luis Antonio Tagle được thuyên chuyển từ Philippines sang Vatican.

Khủng hoảng tài chính Vatican

Vatican đang phải đối mặt với một thách thức lớn về tài chính nội bộ của mình. Năm nay Moneyval, một tổ chức giám sát rửa tiền của Hội đồng châu Âu, sẽ công bố báo cáo của mình về vấn đề tài chính của Toà Thánh. Người ta sợ rằng báo cáo đó sẽ cho thấy sự thất bại của Toà Thánh trong việc làm trong sạch các tai tiếng tài chính của mình, vốn đã dai dẳng suốt 40 năm qua.

Nhiều sự việc lạm dụng tình dục bị vạch trần hơn

Một tai tiếng khác nữa không may cũng sẽ bùng nổ trong thời gian tới: giáo sĩ lạm dụng tình dục. Vấn nạn này đã tàn phá Giáo Hội ở châu Âu và Bắc Mỹ. Năm thập niên 2020, có lẽ sẽ có nhiều vụ việc được vạch trần hơn ở Mỹ Latinh, Phi châu và Á châu.

Đức Giáo Hoàng Phanxicô đã ban cho Giáo Hội những công cụ hữu hiệu để đối mặt với các khủng hoảng ngày càng tăng trên khắp thế giới, thông qua tự sắc Vos estis lux mundi, trong đó yêu cầu các Giám Mục phải chịu trách nhiệm về việc che đậy. Nhưng các lãnh đạo khác trong Giáo Hội xem ra không thích các công cụ này và vẫn muốn những phương pháp xưa cũ ít hiệu quả. Điều này sẽ không đổi được nếu không có áp lực từ các tín hữu.

Các Thánh mới

Mỗi năm đều có những vị mới được phong Thánh. Khó đoán được sắp tới những án phong Thánh nào sẽ được xúc tiến, vì còn phụ thuộc vào phép lạ là điều con người không kiểm soát được. Những án này được trông đợi sẽ diễn ra nhất trong thập niên 2020: Chân phước Charles de Foucauld (mất 1916), Pier Giorgio Frassati (m 1925), Cyprian Tansi (m 1965), Jerzy Popieluszko (m 1984), Chiara Badano (m 1990), các tu sĩ Tibhirine (m 1996), Angustus Tolton (m 1897) và Hồng Y Phanxicô Nguyễn văn Thuận (m 2002).

Những vụ khác mà người ta cũng để ý nhiều là Jean Cassaigne (m 1973), John Bradburne (m 1979), Dorothy Day (m 1980), chuyên gia máy tính 15 tuổi Carlo Acutis (m 2006), các Đấng tử đạo Irắc như Ragheed Ghanni và các bạn (m 2007).

Sự tiến triển của các án này sẽ đem đến niềm vui trên cả thế giới vì đây là những vị nổi tiếng. Đó cũng là lời nhắc nhở với chúng ta rằng cho dù con đường có như thế nào, vẫn có những vị Thánh giữa chúng ta, và chúng ta thật sự có thể sống thánh thiện.

Theo Luke Coppen, Catholic Herald
Gioakim Nguyễn biên dịch

Thứ Tư, 1 tháng 1, 2020

ĐTC cử hành Kinh chiều I Lễ Mẹ Thiên Chúa và Kinh Tạ Ơn cuối năm

2019.12.31 Vespri e Te Deum Visita presepio Piazza San Pietro

Chiều cuối năm 31/12/2019, Đức Thánh Cha đọc Kinh Chiều I Lễ Đức Maria Mẹ Thiên Chúa cùng với khoảng 8 ngàn tín hữu tại Đền Thờ Thánh Phêrô.

Sau các Thánh Vịnh và bài đọc ngắn của giờ Kinh Chiều, Đức Thánh Cha có một bài giảng với tín hữu hiện diện.

Bài đọc được trích từ thư của thánh Phaolô gởi các tín hữu Galat 4,4: “Khi thời gian tới hồi viên mãn, Thiên Chúa đã sai Con mình tới.”

Đức Thánh Cha nhấn mạnh đến những hoàn cảnh khiêm hạ mà Người Con ở giữa nhân loại. Ngài cư ngụ tại Nazareth, ngôi làng được đề cập trong Kinh Thánh là “từ Nazareth có gì hay được?” (Ga 1,46), và Ngài đã chết bên ngoài thành phố lớn Giêrusalem, bị đóng đinh bên ngoài thành.

Quyết định của Thiên Chúa rất rõ ràng: biểu lộ tình yêu của mình. Ngài ở thành phố nhỏ bị coi thường, và khi đến Giêrusalem thì bị coi là thuộc hàng ngũ những người tội lỗi và bị loại bỏ.

Về những lời dạy của Ngài, dân chúng cũng dường như muốn lãng quên đi, khi nhà cầm quyền hỏi: “các ngươi muốn thả Giêsu hay Barnaba?” và dân chúng chọn Barnaba chứ không phải Ngài. Ngài bị đóng đinh trên đồi Golgotha. Nhưng từ đó, cây Thập Giá mới của sự sống với quyền năng của Thiên Chúa đã thu hút mọi người đến với mình.

Và Mẹ Thiên Chúa, đau khổ dưới thập giá, cũng giang rộng đôi tay đón nhận tất cả mọi người trong tình mẫu tử của Mẹ. Mẹ Thiên Chúa là Mẹ của Giáo Hội. Sự dịu dàng của Mẹ cũng dành cho tất cả mọi người.

Đức Thánh Cha đề cập đặc biệt đến thành phố Roma, cũng tương tự như lời của Thánh Vịnh: nơi thành của mình, Thiên Chúa đã dựng lều tại đó. Thiên Chúa ở giữa Dân Người. Ngài cùng đi với họ và sống cuộc sống của họ. Hơn nữa, Thiên Chúa muốn làm mới tất cả mọi sự qua Con của Ngài, bắt đầu không phải từ đền thờ, nhưng từ cung lòng của một phụ nữ bé nhỏ và nghèo hèn giữa Dân Người. Chọn lựa của Thiên Chúa thật phi thường. Ngài không thay đổi lịch sử qua những người quyền thế dân sự hay tôn giáo, nhưng khởi đi từ những phụ nữ bên rìa, như Mẹ Maria, hay những người son sẻ như bà Elisabeth.

Đức Thánh Cha nhắc đến những người can đảm, cả những người tin lẫn không tin, mà ngài gặp trong những năm qua. Họ đại diện cho “nhịp đập” của Roma. Thiên Chúa không bao giờ từ bỏ thay đổi lịch sử và bộ mặt của thành phố ngang qua dân chúng bé nhỏ, những con người bé nhỏ.

Đức Thánh Cha kêu gọi mọi người hãy lắng nghe những người khác, lắng nghe sự kêu cứu của họ. Lắng nghe đã là một hành động của tình yêu rồi. Ngài cầu xin cho thành phố và Giáo hội có một bầu khí mới, và bước đi trong bầu khí ấy, vượt qua những tư duy cũ đi ngược với sự cộng tác để xây dựng một thành phố công bằng và huynh đệ.

Sau Kinh Chiều I, Đức Thánh Cha cùng cộng đoàn rước kiệu và chầu Thánh Thể, và hát kinh Te Deum – bài ca Tạ Ơn để tạ ơn về một năm sắp qua. Buổi Kinh Chiều kết thúc với phép lành Thánh Thể. (CSR_7876_2019)

Quyết định về Bổn Mạng của Tổng Giáo phận Huế



Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/quyet-dinh-ve-bon-mang-cua-tong-giao-phan-hue-37837

Chiêm ngắm Mẹ Maria: nghĩ về thiên chức làm mẹ

2019.12.13 statua della Madonna, Madre di Dio, Vergine Maria, Muttergottes Maria

Nhân vật trung tâm của khung cảnh Giáng Sinh là Đức Giê-su. Nhưng Đức Giê-su nhập thể là để gần gũi, trở thành bạn bè của mọi người và ôm ấp toàn thể nhân loại vào sự hiệp nhất với Thiên Chúa. ‘Người bạn’ đầu tiên, người trở nên gần gũi nhất đối với Ngài, chính là Mẹ Maria. Do đó, trong Mùa Giáng Sinh, chúng ta đừng quên chiêm ngắm Đức Mẹ, nhất là để suy niệm về thiên chức làm mẹ cao cả từ gương mẫu của Ngài.

Trong khung cảnh Giáng Sinh, chúng ta thấy một bà mẹ hiền từ, thường lui một chút về phía sau, âu yếm nhìn con với tất cả tâm trí và sức lực. Mắt bà mẹ ánh lên niềm vui khôn tả, nhưng cũng phản ánh một nỗi kiệt sức sau cuộc hạ sinh, và nét đăm chiêu về tương lai mang tính mầu nhiệm của con mình. Mẹ vừa trải qua một biến cố vĩ đại. Biến cố đó đưa con Thiên Chúa đi vào cuộc đời dương thế.

Nỗi đau của một người mẹ khi sinh con thật khó có điều gì diễn đạt được. Các nhà khoa học dùng một đơn vị để đo độ đau gọi là Del; và theo nghiên cứu của họ, bình thường cơ thể chúng ta chịu được được tối đa 45 Del. Nhưng khi sinh con, một người phụ nữ phải chịu đựng tới 57 Del, tương đương với việc bị gãy đến 20 cái xương sường cùng một lúc! Nói thế để thấy cơn đau và sức chịu đựng của một bà mẹ khủng khiếp thế nào, đó là chưa kể đến sự gian nan của chín tháng cưu mang trước đó, cũng như những cơn đau hậu sản và ‘ba năm cho con bú mớm’ còn chờ đợi phía sau.

Khi sinh hạ một người con, bà mẹ không chỉ sinh hạ một thân xác, mà là sinh hạ một cuộc đời. Có người nói rằng sở dĩ Tạo Hoá bắt người phụ nữ, không giống như trường hợp các con vật, phải đau đớn khi sinh nở là vì Ngài muốn gửi đến một thông điệp về tình thương và trách nhiệm sinh thành, cho cả mẹ lẫn con. Cơn đau của mẹ mang một thông điệp mầu nhiệm và thiêng liêng truyền vào người con. Đó là thông điệp về thân phận con người, và cũng là thông điệp về ‘món nợ’ đối với cuộc đời và về tình yêu vô điều kiện của các bậc sinh thành. Chính thông điệp từ cơn đau đó giúp định hình nên nhân cách người con.

Đức Maria đã trải qua tất cả những điều đó; và hơn thế, Ngài còn làm Mẹ theo một cách thức hết sức đặc biệt: trở thành môn đệ của chính Con mình. Chắc hẳn, trong cõi dương thế, không ai hiểu Đức Giê-su bằng Đức Maria. Có thể Mẹ không hiểu nhiều về Con theo kiểu suy tư thần học, nhưng Mẹ lại hiểu về Con của Mẹ bằng tất cả sự gần gũi và tình yêu thương. Mẹ hiểu Con mình từ những lần ôm ấp vào lòng, những lần cho con bú mớm, những tiếng ru à ơi. Mẹ hiểu rõ khi nào con đói, khi nào con khó ở. Không ai hiểu về Con bằng Mẹ trước những nhu cầu đó, vì chỉ có sự gần gũi và tình thương mới tạo nên sự nhạy bén của Mẹ dành cho Con.

Mẹ cũng hiểu hơn ai hết về con đường mà Đức Giê-su đang đi, vì Mẹ luôn đồng hành và ‘hằng suy đi nghĩ lại trong lòng’ trước mọi biến cố diễn ra với Con mình. Và hơn thế, không chỉ dừng ở mức hiểu biết, Mẹ đã thực sự là một môn đệ hoàn hảo khi thi hành ý muốn của Đức Giê-su. Mẹ đã hợp nhất trong ý muốn của con mình. Điều Con muốn đã trở thành điều Mẹ muốn; con đường Con đi cũng là con đường Mẹ sẽ đi. Toàn thể cuộc sống của Mẹ đã được đặt nơi Người Con; hay nói cách khác, toàn thể cuộc sống Người Con đã trở thành toàn bộ cuộc sống của Mẹ. Vì thế, Mẹ được Đức Giê-su khen ngợi là người môn đệ đích thật (Mt 12,49).

Chiêm ngắm Đức Maria trong khung cảnh Giáng Sinh, chúng ta thấy mình được mời gọi điều gì? Với các bậc làm cha làm mẹ, gương mẫu của Mẹ mang lại một niềm an ủi lớn lao về thiên chức làm cha mẹ của mình. Họ được Thiên Chúa ban cho một ơn gọi đặc biệt là cộng tác vào công trình sáng tạo của Thiên Chúa để hạ sinh những cuộc đời mới. Họ không chỉ có vai trò trao truyền sự sống, mà còn là trao truyền cả một lịch sử lại cho con cái, là trung gian chuyển tải các nền tảng văn hoá, ngôn ngữ, đạo đức, truyền thống của nhân loại. Họ còn được mời gọi để gieo mầm tương lai vào con cái mình. Người cha người mẹ không chỉ rút ruột rút gan để sinh hạ, mà cùng với đó, họ trao ban toàn bộ tâm trí và niềm hy vọng vào người con, như thể người con chính là sự nối tiếp cuộc đời của họ vậy.

Sinh một người con không chỉ có nghĩa là sinh hạ cuộc sống của một sinh linh, mà cũng là sinh hạ chính cuộc đời mới của cha mẹ. Khi được hỏi về cảm giác của những người lần đầu làm bố, làm mẹ, hầu như tất cả đều trả lời rằng: họ thấy mình như trở thành một con người khác hoàn toàn. Ngay từ giây phút được bế con trên tay, cuộc đời họ không bao giờ quay lại như xưa được nữa. Vâng, chính con cái làm cho họ trở thành bố mẹ, đúng như câu ca dao của Việt Nam “sinh con rồi mới sinh cha, sinh cháu giữ nhà rồi mới sinh ông.”

Đối với những người trong tư cách là con cái, chiêm ngắm Mẹ Maria và suy gẫm về thiên chức làm mẹ của Ngài có thể giúp ta học được cách sống tâm tình biết ơn và hướng về thiên chức làm mẹ chung của cả thế giới. Biết ơn vì cuộc sống mỗi người chúng ta đã được kết dệt bởi muôn vàn quà tặng nhưng không. Ta đâu đã làm gì trước đó để được sinh ra trên cõi đời! Ta đâu có tự tạo ra sự sống cho mình, và cũng đâu thể kéo dài sự sống ấy! Ta đâu đã có công trạng gì để được trao truyền một truyền thống văn hoá, một ngôn ngữ mẹ đẻ, hay một nền khoa học kỹ thuật tân tiến! Ta đâu đã tìm kiếm điều gì để được đón nhận một niềm tin tôn giáo! Người bạn đời ta đang có cũng đâu phải là ‘sản phẩm’ của mình; và con cái cũng đâu phải cứ muốn là nhất thiết sẽ có! Ngay cả những nhu yếu phẩm ta dùng hằng ngày cũng phải được cung cấp bởi người khác, chứ mình ta đâu thể làm ra tất cả! Cuộc đời chúng ta đã được sinh hạ, được bao bọc bởi muôn vàn con người và muôn vàn thế hệ, từ những người thân cận nhất là hai bậc sinh thành, cho tới những người ta chưa bao giờ hình dung đến. Nói cách khác, chúng ta được đón nhận mọi sự từ thiên chức ‘làm mẹ’ của thế giới mà Thượng Đế đã quan phòng sắp đặt; và đến lượt mình, mỗi người chúng ta cũng được kêu mời để tham dự vào sứ mạng làm ‘mẹ’ đó, không chỉ đối với con người, mà còn với toàn thể tạo thành, bao gồm cả môi trường sinh thái.

Với mỗi người Ki-tô hữu nói riêng, chúng ta được kêu mời sống ơn gọi như Đức Maria: cưu mang Đức Giê-su và trở thành môn đệ của Ngài. Ơn gọi đó đặt chúng ta vào một hành trình đầy thách đố, nhưng không thiếu niềm an ủi và hy vọng. Trong hành trình đó, chúng ta được kêu mời trở nên gần gũi và thân thiết với Đức Giê-su, để hiểu biết, yêu mến và mang lấy tâm tình của Ngài, rồi từ đó, ta mới có khả năng ‘sinh hạ’ Đức Ki-tô cho nhân loại.

Chương trình mục vụ giới trẻ 2020-2022: Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giêsu

Mục vụ Giới Trẻ là định hướng mục vụ của Giáo hội Việt Nam trong ba năm 2020-2022. Trong dịp đầu năm 2020, Đức Cha Phêrô Nguyễn Văn Viên, Chủ tịch Ủy ban Mục vụ Giới trẻ và Thiếu nhi trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, đã đưa ra lời giới thiệu cho "Chương trình mục vụ giới trẻ 2020-2022: Mỗi tháng một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giêsu" do ngài phụ trách. Sau đây là lời giới thiệu của ngài:
Các bạn trẻ thân mến,
Hình ảnh hay tước hiệu rất phổ biến trong đời sống con người, giúp con người tiếp cận các thực tại cách dễ dàng hơn. Nhờ đó, con người có thể lĩnh hội và có được những hiểu biết nhất định về thực tại, đồng thời, có thể chia sẻ và thông truyền thực tại mà mình đã lĩnh hội và hiểu biết cho người khác. Thực tại luôn phong phú và sâu nhiệm hơn những diễn tả, giải thích hay tổng hợp về nó. Thực tại càng tinh túy, sâu nhiệm, thì con người càng phải dùng nhiều hình ảnh hay tước hiệu mới có thể tiếp cận và nhận thức được.
Lịch sử nhân loại cho thấy rằng con người không bao giờ thỏa mãn với những gì thuộc thế giới thụ tạo, thế giới vật chất, thế giới khả giác, thế giới trương độ, thế giới bị giới hạn bởi không gian và thời gian. Do đó, con người không ngừng tìm kiếm thế giới siêu việt, thế giới linh thiêng, thế giới thần thánh. Nói cách khác, con người không ngừng tìm kiếm Thiên Chúa, Đấng là Nguyên Ủy và Cùng Đích của con người, cũng như muôn vật muôn loài trong thế giới thụ tạo này.
Theo mặc khải Kitô giáo, trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người, Thiên Chúa luôn đi bước trước. Để con người có thể 'làm quen' với Thiên Chúa, Thiên Chúa đã 'làm quen' với con người trước bằng nhiều hình thức khác nhau trong dòng lịch sử và khi tới thời viên mãn, Đức Giêsu Kitô, Ngôi Hai Thiên Chúa đã xuống thế làm người và hiện diện trong môi trường nhân loại. Người là "hình ảnh của Thiên Chúa vô hình và là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo" (Cl 1,15). Sự hiện diện của Người trong môi trường nhân loại chính là sự hiện diện của Thiên Chúa và 'khuôn mặt của Người' chính là 'khuôn mặt nhân loại' của Thiên Chúa'.
Những hình ảnh hay tước hiệu Đức Giêsu chủ yếu dẫn xuất từ các nền văn hóa Trung Đông, đặc biệt, văn hóa Do Thái. Tuy nhiên, những hình ảnh hay tước hiệu về Người không xa lạ đối với các nền văn hóa thuộc các vùng miền khác nhau trên thế giới. Nói cách khác, những hình ảnh hay tước hiệu này vừa đặc thù, vừa phổ quát, vì cho phép tất cả mọi người trong gia đình nhân loại, thuộc các nền văn hóa khác nhau, có thể tiếp cận và thiết lập tương quan mật thiết với Đức Giêsu.
Những hình ảnh và tước hiệu Đức Giêsu rất dồi dào, từ những hình ảnh hay tước hiệu trừu tượng (chẳng hạn: Đường, Sự Thật, Sự Sống), tới những hình ảnh hay tước hiệu cao trọng (chẳng hạn: Con Thiên Chúa, Vua, Hoàng Tử), tới những hình ảnh hay tước hiệu bình dị (chẳng hạn: Mục Tử Nhân Lành, Người Thầy, Người Bạn). Mỗi hình ảnh hay tước hiệu cho phép con người hiểu biết phần nào đó về căn tính, đời sống và sứ mệnh của Người. Có những hình ảnh và tước hiệu giúp con người hiểu biết hơn về thiên tính của Đức Giêsu, trong khi có những hình ảnh hay tước hiệu giúp con người hiểu biết hơn về nhân tính của Người. Những hình ảnh và tước hiệu này đóng vai trò trung gian, giúp con người liên kết mật thiết hơn với Đức Giêsu và nhờ Người để đến với Thiên Chúa Cha.
Theo tinh thần của Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới về Giới Trẻ được tổ chức tại Rôma từ ngày 3-28 tháng 10 năm 2018 và của Đức Thánh Cha Phanxicô, Hội đồng Giám mục Việt Nam quyết định chương trình mục vụ của Giáo Hội Việt Nam trong ba năm (2020-2022) là 'Mục vụ giới trẻ'. Để thực thi chương trình này, Ban Mục Vụ Giới Trẻ và Thiếu Nhi, trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, mời gọi các bạn trẻ trong các giáo phận học hỏi các tài liệu: YouCat (2011), DoCat (2016) và một số Tông Huấn quan trọng của Đức Thánh Cha Phanxicô liên quan mật thiết với giới trẻ, chẳng hạn, Evangelii Gaudium (Niềm Vui Tin Mừng, 2013), Gaudete et Exsultate (Hãy Vui Mừng Hoan Hỷ, 2018) và Christus Vivit (Đức Kitô Đang Sống, 2019). Đặc biệt, mỗi tháng, chúng ta cùng nhau học hỏi và suy tư một hình ảnh hay tước hiệu Đức Giêsu theo nội dung đức tin Kitô giáo. Hy vọng rằng, nhờ đó, chúng ta ngày càng ý thức hơn về sự cần thiết để luôn ở lại với Đức Giêsu, lắng nghe Người, tin tưởng vào Người, hiệp thông cùng Người, và cộng tác với Người trong việc loan báo Tin Mừng Bình An cho tất cả mọi người trong gia đình nhân loại.
Chúng tôi xin giới thiệu hình ảnh để học hỏi và suy tư đầu tiên trong chương trình 'Mục vụ giới trẻ',  tháng 1 năm 2020, là: Đức Giêsu - Hoàng Tử Bình An.
Giám mục Phêrô Nguyễn Văn Viên

Sống Trong Sạch - Sách mới của Ủy ban Mục vụ Gia Đình HĐGMVN

Ủy Ban Mục Vụ Gia Đình trực thuộc Hội Đồng Giám Mục Việt Nam vừa phát hành cuốn sách về giáo dục giới tính cho lứa tuổi mới lớn. Đó là cuốn Sống Trong Sạch - Con đường dẫn đến tình yêu chân thật và tự do đích thực. Nguyên tác: A Case for Chastity của hai tác giả Heather Gallagher và Peter Vlahutin, được Đức Giám mục Louis Nguyễn Anh Tuấn, chủ tịch Ủy Ban Mục Vụ Di Dân, và anh Gioan Lê Quang Vinh, Ủy Ban Mục Vụ Gia Đình, dịch sang Việt ngữ. Bản tiếng Anh do nhà xuất bản Liguori ấn hành, và được Đức Ông Francis Kelly ở Tổng giáo phận Boston và Đức Tổng Giám Mục Timothy Dolan của Tổng giáo phận Milwaukee nồng nhiệt khích lệ.
Nội dung cuốn sách nhằm giáo dục giới tính cho giới trẻ. Tác giả trình bày về Tình Dục trong kế hoạch của Thiên Chúa và nêu lên những điểm luân lý cần thiết mà con người cần sống theo, đặc biệt các bạn tuổi mới lớn. Tình dục được phân tích dưới nhiều khía cạnh với nhiều ứng xử khác nhau. Tác giả nhấn mạnh đến ý định nhiệm mầu của Thiên Chúa và huấn quyền của Giáo Hội cũng như lương tâm con người. Chọn lối trình bày nhẹ nhàng, đơn giản, tác giả đưa vào những mẩu chuyện và kinh nghiệm thực tế làm cho cuốn sách trở nên sinh động hơn.       
Hai tác giả tự giới thiệu về mình như sau: “Heather và Pete, là những con người bình thường. Chúng tôi là người người trẻ trưởng thành trong thập niên 1980 và 1990. Heather quê ở miền Trung Tây, đã từng sống ở Ireland, đã từng đến Úc và đã đi khắp châu Âu. Cô ấy rất mê bóng đá, bóng rổ, và rất thích khiêu vũ. Pete lớn lên ở miền Tây, học trung học ở miền Đông và cuối cùng định cư ở miền Trung Tây. Anh chơi thể thao, chơi đàn ghi-ta, thích nghe nhạc và thích xem phim. Cả hai chúng tôi đã nhận thấy hiệu quả của điều mà chúng tôi và bạn bè đã chọn lựa. Khi đi đến những kết luận về vấn đề tình dục, chúng tôi đã tìm nhiều suy tư phong phú từ việc chia sẻ của các cặp vợ chồng mà chúng tôi quen biết. Bạn cũng xứng đáng đón nhận những suy tư này để sinh ích cho bạn”.
Đây là một số nhận xét của độc giả bản tiếng Anh:
Một em trai 15 tuổi viết: “Tôi thật sự thích cách cuốn sách này chia thành nhiều chương mục nhẹ nhàng dễ đọc. Những mẩu chuyện cá nhân thật sự làm tôi nhớ mãi và giúp tôi biết tôi không cô đơn khi muốn chờ đợi đến lúc kết hôn mới quan hệ tính dục”.
Một em gái 17 tuổi nhận xét: “Hầu như không ai đọc cuốn sách này mà không cảm thấy vui thích. Từ khi đọc cuốn sách này, tôi cảm thấy rằng dù có ai nói gì hay làm gì thì TÔI CŨNG XỨNG ĐÁNG CHỜ ĐỢI! Bạn biết rằng Thiên Chúa luôn yêu thương BẠN”.
Có bạn trẻ viết: “Trước khi đọc cuốn sách này, tôi không biết mình có muốn sống đời sống trong sạch không. Nhưng khi đã bắt đầu đọc, tôi nhận thấy rõ ràng rằng sống đời sống trong sạch thì tuyệt vời biết bao. Cuốn sách này thúc đẩy tôi có quyết định đúng đắn”.
Cô Beth, một phụ huynh thì nói: “Là một người mẹ, tôi biết ơn cuốn sách này vì bấy giờ tôi đã có nhiều điều tương tự như thế để giúp các con tôi gìn giữ đức trong sạch thay vì dùng những phương thế đe dọa để giữ cho các con tránh xa tình dục”
Xin trân trọng giới thiệu cuốn sách này với ước mong các bậc phụ huynh, các nhà giáo dục, các anh chị Huynh trưởng – Giáo lý viên có thêm một khí cụ hữu ích trong việc giáo dục giới tính cho con em mình.
Liên hệ mua sách: Cô Agata Nguyễn Thị Năng, VP UBMVGĐ, ĐT 0906325382 hoặc tại các nhà sách Công giáo, sách 254 trang, khổ 14x20.5cm, giá bìa 45,000 (sẽ chiết khấu 20% cho những ai mua 20 quyển trở lên).
Giám mục Louis Nguyễn Anh Tuấn