Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Hai, 8 tháng 4, 2019

Tóm tắt tông huấn Christus Vivit – Đức Kitô sống.

Tông huấn Christus Vivit

“Đức Kitô sống. Ngài là niềm hy vọng của chúng ta và là sự trẻ trung đẹp nhất của thế giới này. Tất những gì Ngài chạm đến đều trở nên trẻ, mới và đầy sức sống”. Đây là những lời mở đầu tông huấn “Christus vivit – Đức Kitô sống” hậu Thượng hội đồng về người trẻ, được ký ngày 25/3/2019 tại Loreto, gởi đến “người trẻ và toàn dân Chúa”. Tông huấn gồm 9 chương, chia ra làm 299 đoạn.

Tóm tắt nội dung tông huấn:

Chương 1: “Lời Chúa nói gì về người trẻ?”

Đức Thánh Cha nhắc rằng “trong thời đại mà người trẻ chỉ đóng vai trò thứ yếu, thì một số bản văn cho thấy Thiên Chúa nhìn với cặp mặt khác” (6) và được thể hiện trong hình ảnh của một số người trẻ trong Cựu Ước: Giuse, Ghít-ôn (7), Samuen (8), vua Đavít (9), Salomon và Giêrêmia (10), cô bé giúp việc nhà ông Naaman và cô Rút (11). Trong Tân Ước, “Chúa Giêsu không thích thấy việc người lớn nhìn những người trẻ với cặp mắt coi thường hay bắt họ phục vụ theo lối độc đoán. Ngược lại, Ngài đòi: “Giữa anh em, ai muốn làm lớn phải trở nên nhỏ hơn” (Lc 22,26). Đối với Ngài, tuổi tác không tạo nên đặc quyền, và ai ít tuổi không có nghĩa là ít giá trị hơn”. Đức Thánh Cha khuyến khích: “Đừng hối tiếc tiêu xài tuổi trẻ để trở thành người tốt, mở con tim cho Chúa, và sống một cách khác” (17).

Chương 2: “Đức Giêsu Kitô luôn trẻ”

Không thể tưởng tượng ra một “Giêsu niên thiếu đơn độc hay một Giêsu trẻ chỉ nghĩ cho riêng mình. Tương quan của Ngài với dân chúng thực sự là tương quan của một người trẻ chia sẻ cuộc sống gia đình trong sự hoà hợp nơi xóm làng” (28). Đức Giêsu niên thiếu, “nhờ sự tin tưởng của cha mẹ… Ngài lớn lên trong tự do và học cách bước đi với tất cả những người khác” (29).Những yếu tố này trong đời sống của Đức Giêsu không nên bị bỏ qua trong mục vụ người trẻ, “để không tạo ra những dự án tách rời người trẻ khỏi gia đình và thế giới, hay biến họ thành một thiểu số được tuyển chọn và được bảo quản khỏi mọi lây nhiễm.” Nhưng ngược lại, “những dự án giúp người trẻ cứng cáp, đồng hành với họ và hướng họ đến việc gặp gỡ người khác, phục vụ quảng đại và vì sứ mạng” (30).

Chúa Giêsu “không soi sáng chúng con, những người trẻ, từ xa hay từ ngoài, nhưng khởi đi từ chính tuổi trẻ của Ngài, Ngài chia sẻ với chúng con” (31).

Giáo hội có thể bị cám dỗ mất đi lòng nhiệt huyết và tìm kiếm “những an toàn giả tạo của thế gian. Chính người trẻ có thể giúp Giáo hội giữ được sự trẻ trung” (37).

Chương 3: “Các con là hiện tại của Thiên Chúa”

Đức Thánh Cha khẳng định chúng ta không thể tự giới hạn mà nói rằng: “người trẻ là tương lai của thế giới. Họ là hiện tại, họ hiện đang làm phong phú thế giới bằng những đóng góp của họ” (64). “Ngày nay, người lớn chúng ta có nguy cơ liệt kê ra một danh sách những hư hỏng, lầm lỗi của tuổi trẻ trong thời đại chúng ta… Đâu là kết quả của thái độ này? Một khoảng cách ngày càng lớn hơn” (66). Ai được kêu gọi để trở thành cha, mục tử, người hướng dẫn giới trẻ phải có khả năng “nhận ra được những con đường ở nơi mà người khác xem chỉ là bức tường, và biết được cơ hội nơi người khác chỉ thấy nguy hiểm. Đây là cách nhìn của Thiên Chúa Cha, khả năng nhận ra giá trị và làm nảy mầm những hạt giống trong trái tim tuổi trẻ. Bởi thế, trái tim của mỗi người trẻ phải được xem là ‘nơi thánh’” (67).

Về những người trẻ sống trong vùng chiến tranh, nhiều người trẻ bị nhồi nhét ý thức hệ, trở nên dụng cụ và bị sử dụng như bia đỡ đạn hoặc như một lực lượng để tiêu diệt, đe dọa hoặc chế giễu người khác (73). Một số lớn hơn chịu đau khổ ở những hình thức bị loại trừ và gạt sang bên lề xã hội vì những lý do tôn giáo, chủng tộc hoặc kinh tế. Đức Thánh Cha nói đến những trẻ vị thành niên và những người trẻ “có thai và nỗi nhức nhối về nạn phá thai, sự phát tán HIV, những hình thức nghiện ngập (thuốc phiện, cờ bạn, phim ảnh xấu,…) và những hoàn cảnh trẻ em và người trẻ đứng đường (74); tình huống trở nên đau đớn và khó khăn gấp đôi đối với nữ giới. “Chúng ta không thể là một Giáo hội không biết khóc trước những thảm kịch của những con cái trẻ của mình” (75).

“Trong một thế giới tuyệt đối nhấn mạnh đến tình dục, thì thật khó để giữ một tương quan tốt với chính thân xác của mình và sống bình thản với những tương quan tình cảm”. Cũng vì thế, luân lý tính dục thường trở thành nguyên nhân “hiểu lầm và xa tránh Giáo hội” như thể Giáo hội là “nơi xét xử và kết án” (81). Đức Thánh Cha, đứng trước những phát triển của khoa học về kỹ thuật y sinh và khoa học thần kinh, nhắc rằng “chúng có thể làm cho chúng ta quên rằng sự sống là một món quà, rằng chúng ta được tạo dựng và giới hạn, rằng chúng ta dễ bị công cụ hoá bởi những người nắm giữ quyền lực công nghệ” (82). “Môi trường số” đã tạo nên “một cánh thức mới về truyền thông” và “có thể dễ dàng tạo điều kiện cho việc trao đổi thông tin độc lập”. Tại nhiều nước, website và mạng xã hội trở thành “nơi không thể thiếu để tiếp cận và hoà đồng với người trẻ” (87). Nhưng “đây cũng là lãnh địa của sự cô đơn, lèo lái, khai thác và bạo lực đến trường hợp cực đoan của web đen. Phương tiện số có thể cho thấy nguy cơ phụ thuộc, tách mình và dần mất đi tương quan với thực tế cụ thể” (88).

Tông huấn cũng đề cập đến “di dân như là một mô hình của thời đại chúng ta” vì các lý do “chiến tranh, bạo lực, bách hại chính trị hay tôn giáo, hoặc để tránh những thảm hoạ tự nhiên do biến đổi môi trường và sự nghèo đói cùng cực” (91), họ cũng có thể đi tìm một cơ hội và mơ ước một tương lai tốt hơn.

Đức Thánh Cha cũng nói đến việc lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên, ngài diễn tả lòng biết ơn “đối với những người can đảm tố cáo sự dữ ngay lập tức (99), và “cảm ơn Chúa”, những linh mục phạm phải “tội ác kinh khủng này không phải là đa số, nhưng ngược lại nhiều linh mục thi hành sứ mạng trung thành và quảng đại”. Đức Thánh Cha kêu gọi những người trẻ khi thấy một linh mục có nguy cơ lạc đường, hãy can đảm nhắc vị ấy về sự dấn thân cho Chúa và cho dân của Ngài (100).

Nhưng dù thế nào, thì vẫn luôn có một “con đường để bước ra” khỏi những tình huống u tối và đau buồn. Hãy nhớ là tin vui được ban vào sáng Phục Sinh (105).

Chương 4: “Lời loan báo vĩ đại cho tất cả người trẻ”

Đức Thánh Cha loan báo với tất cả người trẻ ba sự thật lớn:

Thứ nhất: “Thiên Chúa là tình yêu” và “Thiên Chúa yêu con, đừng bao giờ nghi ngờ về điều đó”(112). Trí nhớ của Chúa Cha “không giống như một ổ cứng ghi nhớ và lưu trữ mọi dữ kiện, trí nhớ của Ngài là một trái tim đầy nhân hậu, ngài vui lòng xoá sạch mọi vết nhơ của chúng ta… Bởi vì Ngài yêu con. Hãy tìm cách ở lại trong những giây phút thinh lặng, cảm nhận mình được Ngài yêu (115).

Thứ hai: “Đức Kitô cứu con”. “Đừng bao giờ quên là Ngài tha thứ bảy mươi lần bảy. Ngài trở lại để vác chúng ta trên vai hết lần này đến lần khác” (119). “Tình yêu của Chúa lớn hơn tất cả những phản nghịch, yếu đuối và lỗi lầm của chúng ta” (120).

Thứ ba: “Ngài đang sống”. “Chúng ta nhớ đến Ngài… nhưng với nguy cơ là nhìn thấy Chúa Giêsu Kitô chỉ như một gương sáng quá khứ, một tưởng niệm, như một người đã cứu chúng ta 2000 năm trước (124). “Ngài đang sống, đây là một bảo đảm rằng điều thiện có thể đi vào đời sống chúng ta. Do đó, chúng ta không càm ràm nhưng luôn hướng nhìn về phía trước (127).

Chương 5: “Hành trình của người trẻ”

“Tình yêu Thiên Chúa và tương quan của chúng ta với Đức Kitô hằng sống không cản trở chúng ta ước mơ, không hạn chế tầm nhìn của chúng ta. Ngược lại, tình yêu này thúc đẩy chúng ta, khuyến khích chúng ta và hướng chúng ta đến một cuộc sống tốt hơn và đẹp hơn (138). Nghĩ về người trẻ, Đức Thánh Cha nhìn thấy một người đặt sẵn bước chân phía trước, sẵn sàng lên đường, sẵn sàng lao mình về phía trước (139). Tuổi trẻ không thể ở trạng thái “thời gian treo”, bởi vì “đây là tuổi của những chọn lựa” về nghề nghiệp, xã hội, chính trị, và cả chọn người yêu hay chọn có những đứa con. “Ước mơ lớn nhất đạt được với hy vọng, kiên nhẫn và dấn thân… Đừng sợ nguy hiểm và phạm những sai lầm” (142).

Đức Thánh Cha mời người trẻ đừng đứng nhìn cuộc sống từ ban công, đừng để cuộc sống lướt qua trước màn hình, đừng nhìn thế giới như một khách du lịch, nhưng “các con hãy cảm nhận! Loại bỏ đi sợ hãi làm tê liệt các con… Các con hãy sống đi (143). “Sống giây phút hiện tại”, tận hưởng mọi món quà nhỏ của cuộc sống với lòng biết ơn (146).

“Con sẽ không biết sự tròn đầy thật sự của tuổi trẻ, nếu… con không sống tình bạn với Giêsu” (150). Như một người bạn, “chúng ta nói chuyện, chia sẻ, ngay cả những điều thầm kín nhất với Giêsu”. “Đừng để thiếu đi tình bạn này trong tuổi trẻ của con”, “con sẽ sống kinh nghiệm đẹp khi biết mình luôn được đồng hành” như các môn đệ trên đường Emmaus (156).

Đức Thánh Cha nói đến việc “lớn lên và trưởng thành” trong đó có một chiều kích quan trọng là “sự lớn mạnh thiêng liêng”, “tìm kiếm Chúa và giữ Lời Ngài”, “luôn kết nối với Giêsu… bởi vì con sẽ không lớn lên trong hạnh phúc và thánh thiện chỉ với nổ lực và ý chí của mình” (158). Ngay cả những người lớn cũng đừng để mất giá trị tuổi trẻ: “Mỗi giây phút của cuộc sống, chúng ta cũng có thể làm mới lại và phát huy sự trẻ trung của chúng ta. Khi tôi bắt đầu sứ vụ Giáo hoàng, Chúa đã mở rộng tầm nhìn của tôi và cho tôi một sự trẻ trung được đổi mới. Điều này cũng xảy ra với các cặp cưới nhau nhiều năm, hay với một đan sĩ trong đan viện” (160). “Nên nhớ rằng, con sẽ không là ông thánh hay là bản sao của một người khác”, “con phải khám phá ra mình là ai và phát triển trong cách thức riêng của mình để nên thánh” (162).

Đức Thánh Cha đề nghị những “hành trình huynh đệ” để sống đức tin. “Chúa Thánh Thần muốn thúc đẩy chúng ta ra khỏi mình để đi cùng với người khác… Do đó, sống đức tin và diễn tả tình yêu chúng ta trong một cuộc sống cộng đoàn sẽ luôn tốt hơn (164). Thiên Chúa “yêu thích niềm vui của người trẻ” (167).

Tuy nhiên, “những người trẻ dấn thân” cũng nên tránh “nguy cơ đóng lại trong những nhóm nhỏ… Họ cảm nhận sống tình yêu huynh đệ, nhưng có thể nhóm của họ trở thành đơn thuần là một cái tôi mở rộng trong nhóm. Điều này trở nên xấu đi nếu ơn gọi giáo dân được hiểu chỉ như là một việc phục vụ trong Giáo hội…, mà quên rằng ơn gọi giáo dân trước hết là bác ái trong gia đình và bác ái xã hội hay chính trị” (168). Vì thế, Đức Thánh Cha đề nghị “người trẻ đi xa hơn khỏi nhóm bạn và xây dựng tình bạn xã hội và tìm kiếm lợi ích chung” (169). “Dấn thân xã hội và liên hệ trực tiếp với người nghèo là một cơ hội nền tảng để khám phá hay đào sâu đức tin và phân định chính ơn gọi của mình (170). Đức Thánh Cha đưa ra những ví dụ tích cực của những người trẻ của các giáo xứ, các nhóm và phong trào, “họ có thoái quen đến làm bạn với những người già, người bệnh, hay thăm viếng những nơi nghèo” (171).

Những người trẻ được kêu gọi để trở thành “những nhà truyền giáo can đảm”, làm chứng cho Tin Mừng ở khắp nơi bằng chính cuộc đời của mình, điều này không có nghĩa “nói về sự thật, nhưng sống sự thật” (175).

Chương 6: “Người trẻ với nguồn cội”

Đức Thánh Cha nói: thật nguy hiểm khi “thấy rằng một số người đề nghị giới trẻ xây dựng tương lai không có nguồn cội, như thể thế giới bắt đầu ngày hôm nay” (179).

Ngày nay người ta cổ võ một “linh đạo không có Thiên Chúa, một tình cảm không cộng đoàn và không dấn thân cho những người đau khổ, một sự sợ hãi về người nghèo như thể những đối tượng nguy hiểm, và một chuỗi những mời mọc làm cho người ta tin vào một tương lai thiên đường sẽ luôn nằm ở đâu đó.”

Nền tảng là “sự liên hệ với những người già”, giúp cho người trẻ khám phá ra được kho tàng sống động của quá khứ, làm sống lại ký ức. “Lời Chúa khuyên đừng để mất liên lạc với người già, để có thể thu lượm được kinh nghiệm của họ” (188).

Về “ước mơ và viễn tượng”, Đức Thánh Cha nói: “Nếu người trẻ và người già mở ra với Thánh Thần, thì họ cùng nhau tạo ra một sự kết hợp tuyệt vời. Người già mơ ước và người trẻ có viễn tượng” (192). Nếu “người trẻ bén rễ trong ước mơ của người già thì có thể nhìn thấy tương lai” (193).

Chương 7: “Mục vụ giới trẻ”

Mục vụ giới trẻ đứng trước những thay đổi về xã hội và văn hoá, và “những người trẻ, trong những cơ cấu thông thường, không tìm được giải đáp thoả đáng cho những lo lắng, nhu cầu, vấn đề và thương tích của họ” (202). Chính những người trẻ “là tác giả của mục vụ giới trẻ, được đồng hành và hướng dẫn, nhưng tự do tìm ra con đường luôn mới với sự sáng tạo và táo bạo”. Cần “nhận thấy sự nhanh nhẹn, thông minh và hiểu biết mà chính người trẻ có về sự nhạy bén, về ngôn ngữ và về những vấn đề của các người trẻ khác” (203).

Mục vụ giới trẻ cần uyển chuyển, và cần “mời người trẻ vào các chương trình mà mỗi khi tham dự, họ không chỉ nhận một sự huấn luyện, mà còn cho phép họ chia sẻ cuộc sống, tổ chức lễ hội, ca hát, lắng nghe những chứng tá cụ thể và trải nghiệm cuộc gặp mang tính cộng đoàn với Thiên Chúa hằng sống” (204).

Mục vụ giới trẻ là một “hành trình cùng nhau” và mang hai hướng hành động lớn: thứ nhất là tìm kiếm, thứ hai là lớn lên. “Mỗi người trẻ đều có sự can đảm để gieo lời loan báo đầu tiên trong thửa đất màu mở là trái tim của một người trẻ khác” (210). “Ngôn ngữ của sự gần gũi, ngôn ngữ của tình yêu vị tha, tương hỗ, hiện sinh đụng chạm đến con tim”, gần gũi với những người trẻ “bằng lối nẻo của tình yêu, không bằng lôi kéo” (211). Do đó, “mục vụ giới trẻ phải luôn bao gồm những khoảnh khắc giúp làm mới lại và đào sâu kinh nghiệm cá nhân về tình yêu Thiên Chúa và Chúa Giêsu hằng sống” (214).

Như thế, những cơ cấu của Giáo hội phải trở nên “môi trường phù hợp”, để phát triển “khả năng đón tiếp”: “trong các cơ sở của chúng ta phải cho người trẻ những nơi thích hợp, để họ có thể thực hiện những điều họ quan tâm và nơi có thể ra vào tự do, những nơi đón tiếp họ và nơi có thể đến một cách tự phát và với sự tin tưởng gặp gỡ những người trẻ khác, cả trong những lúc đau khổ hay buồn chán lẫn khi họ muốn lễ hội vui mừng” (218). Giữa nhiều những phát triển mục vụ, Đức Thánh Cha nói đến những “ấn tượng mỹ thuật” (226), “thể thao” (227) và dấn thân bảo vệ tạo vật (228). Giáo hội là nơi cánh cửa luôn luôn mở, và “không nhất thiết một người phải chấp nhận toàn bộ giáo huấn của Giáo hội mới có thể tham gia vào một số lãnh vực dành cho giới trẻ của chúng ta.” (234).

Mục vụ giới trẻ “phải luôn luôn là mục vụ truyền giáo” (240). Người trẻ cần được tôn trọng tự do, “nhưng họ cũng cần được đồng hành” bởi những người lớn, bắt đầu từ gia đình (242), rồi đến cộng đoàn.

Chương 8: “Ơn gọi”

“Điều căn bản là phân định và khám phá ra được điều trước hết Chúa Giêsu muốn nơi mỗi người trẻ là tình bạn” (250). Ơn gọi là một lời kêu gọi phục vụ người khác, “bởi vì cuộc sống của chúng ta trên trái đất đạt đến sự tròn đầy khi biến thành một món quà để trao tặng” (254). “Để nhận ra ơn gọi của chính mình thì nhất thiết cần phát triển, ươm mầm và vun xới tất cả những gì là mình. Không phải là phát minh ra, hay tạo ra điều gì đó từ số không, nhưng là khám phá ra dưới ánh sáng của Chúa và làm cho điều là mình được nở hoa” (257).

Về “tình yêu và gia đình”, Đức Thánh Cha viết: “người trẻ cảm thấy mạnh mẽ lời mời gọi yêu thương và ước mơ gặp được người thích hợp để tạo nên một gia đình” (259), và bí tích hôn phối “thắt chặt tình yêu này bằng ân sủng của Thiên Chúa, bén rễ nơi chính Thiên Chúa” (260).

Về “công việc”, Đức Thánh Cha “mời những người trẻ đừng để mình sống không việc làm, phụ thuộc vào sự giúp đỡ của người khác. Điều này không tốt, bởi vì công việc là một điều thiết yếu, là một phần tạo nên ý nghĩa cuộc sống trên trái đất này, qua sự trưởng thành, phát triển nhân bản và hoàn thiện bản thân” (269).

Đức Thánh Cha kết thúc chương này khi nói về “ơn gọi dâng hiến”. “Trong phân định ơn gọi, không loại trừ khả thể dâng hiến mình cho Thiên Chúa… Tại sao phải loại trừ nó? Có một chắc chắn rằng, nếu con nhận ra lời mời gọi của Thiên Chúa và theo Ngài, thì đó là điều cho con sự tròn đầy trong cuộc sống của con” (276).

Chương 9: “Phân định”

Đức Thánh Cha nhắc nhớ rằng “không có sự khôn ngoan của phân định chúng ta dễ dàng biến mình thành những con rối trước lòng thương hại của xu hướng hiện tại” (279).

Đối với những ai giúp người trẻ phân định, họ cần có ba nhạy bén. Thứ nhất là chú ý đến con người: “lắng nghe người đang nói vì họ đang trao chính họ qua lời nói” (292). Thứ hai là vững chắc trong việc phân định, nghĩa là “nhặt ra được những điểm thích hợp để phân biệt ân sủng và cám dỗ” (293). Thứ ba là kiên trì ‘lắng nghe những thôi thúc họ hướng tới. Lắng nghe kỹ càng về ‘nơi thực sự họ muốn đến’” (294).

Tông huấn kết thúc với “ước mơ” của Đức Thánh Cha Phanxicô: “Giáo hội cần sự hăm hở dấn thân của các con, cần trực giác và đức tin của các con… Và khi các con sẽ đến nơi mà chúng tôi đây chưa đạt tới, các con kiên nhẫn chờ đợi chúng tôi” (299).

Căn bệnh mất cảm giác đau – và vài suy tư hướng về Tuần Thánh



Y học đã phát hiện ra chứng bệnh rối loạn thần kinh tự quản cảm giác di truyền (hereditary sensory autonomic neuropathy – HSAN). Nó là một rối loạn di truyền ảnh hưởng đến dây thần kinh giác quan, khiến các dây thần kinh giúp cảm nhận sự đau đớn và nhiệt độ môi trường đều không phát triển. Chính vì thế, bệnh nhân không thể cảm nhận được bất cứ sự đau đớn nào diễn ra nơi cơ thể mình, dù cho có những tác động rất lớn lên bản thân như dao đâm, lửa đốt, vv.

Thoạt nghe, có thể có người nghĩ rằng căn bệnh đó là một điều may mắn, vì bệnh nhân chẳng bao giờ phải chịu cảm giác đau đớn gì cả. Cuộc đời này hẳn sẽ tuyệt vời nếu ta không phải cảm nhận những nỗi đau hành hạ! Nhưng thật ra, đó là một căn bệnh rất nguy hại ở nhiều phương diện. Thật thế, vì không cảm thấy được nỗi đau, nên họ có thể tự huỷ hoại mình, và huỷ hoại người khác. Nếu họ đang mang những bệnh tật nào đó, họ cũng không biết để tìm cách chạy chữa (‘đau’ tự nó không phải là bệnh, mà là một dấu hiệu báo cho ta biết cơ thể đang có vấn đề). Hơn nữa, họ sẽ gặp vấn đề về tâm lý: họ cảm nhận mình bị ‘lạc loài’, không giống ai, vì không thể cảm nhận được nỗi đau của mình cũng như của người khác, vốn là một điều rất cơ bản của phận người. Họ chứng kiến biểu hiện đau đớn của người khác, nhưng lại không thể hiểu nó là gì. Vì thế, họ thấy mình như không chung chia nền tảng chung của đời sống con người.

Ngày nay, chúng ta cũng đang chứng kiến nhiều triệu chứng của một thứ bệnh tương tự, nhưng không phải ở bình diện thể lý, mà ở bình diện lối sống – tinh thần. Biểu hiện chung của bệnh này cũng tương tư như HSAN: mất khả năng cảm nhận nỗi đau từ bệnh tật của mình, và đặc biệt là nỗi đau của người khác. Bệnh này không chỉ xảy ra ở phạm vi cá nhân, mà còn ở phạm vi xã hội và có nguy cơ xảy ra cho cả Giáo hội.

Ở phạm vi cá nhân, rất nhiều người ngày nay bị chứng ‘rối loạn’ đó trong lối sống: vô thức với tội lỗi của chính mình, và vô cảm với nỗi đau khổ của tha nhân hay của các thụ tạo khác nói chung. Đúng hơn là họ tìm cách tự làm cho mình rối loạn như thế, bằng cách xây lên những ‘bức tường’ vô hình ngăn cách mình với nội tâm và tách biệt với tha nhân; tự che mắt che tai mình để khỏi thấy hay nghe tiếng nhắc nhở của lương tâm và những đau đớn của người khác. Với chình mình, họ không muốn để ý tới những tiếng nói bên trong, những dằn vặt của cảm thức về tội lỗi. Với tha nhân, họ trở thành người đứng bên lề, hoặc thành người quan sát những nỗi đau của người khác, mà không bao giờ để cho nỗi đau đó chạm đến mình.

Thiết tưởng, chúng ta sẽ chỉ như những cái bóng nếu ta không mở ra với tiếng nói nội tâm của chính mình; và chúng ta không thật sự thuộc về cộng đồng nhân loại nếu chúng ta không đụng chạm vào nỗi đau của tha nhân, vốn là một nền tảng chung của đời sống con người. Vì thế, tương tự như người bị bệnh HSAN, một khi đóng kín với nội tâm cũng như không cảm nhận được nỗi đau của tha nhân, chúng ta sẽ không thật sự sống tính người của mình cách chân thật. Hay nói cách khác, chúng ta sẽ ít có nhân tính hơn. Bệnh nhân HSAN ít ra còn có nỗi đau tâm lý kéo ngược họ lại, giúp họ thấu cảm hơn về nhân tính, về cảm thức thuộc về loài người. Còn những người vô cảm trước nỗi đau tha nhân do lối sống thì ngược lại.

Nguyên nhân của lối sống này có thể mang tính chủ quan: bị ‘nhờn’ trước trước những thách đố của lương tâm do lối sống tinh thần quá dễ dãi với chính mình; muốn chọn một cuộc đời ‘an phận’, không muốn bị phiền hà, vân vân. Nhưng cũng có những nguyên nhân khách quan: những lệch lạc của nền văn hoá duy hưởng thụ và duy cá nhân; những bất ổn trong xã hội khiến nhiều người thu mình lại, tìm cách bảo vệ cho an toàn của mình.

Ở bình diện của xã hội cũng vậy. Chúng ta đang chứng kiến hiện tượng bất công mang tính cơ cấu trong xã hội, trong đó có những chính sách bị thao túng bởi các nhóm lợi ích. Những chính sách và dự án này không chỉ bỏ qua quyền lợi của các thành phần nhỏ bé trong xã hội, mà thậm chí còn gạt họ ra hẳn ngoài lề, và bóp nghẹt những tiếng kêu oan khiên của họ. Người ta cũng cố tình phớt lờ, hay lảng tránh các vấn đề và các nỗi đau cụ thể của những người thấp cổ bé miệng nhân danh sự phát triển chung, hoặc bằng những thuật ngữ mang tính hành chính, như ‘đúng quy trình’, vốn có thể là những lá khiên che đậy cho những trái tim vô cảm. Những chính sách này sẽ khiến xã hội ngày càng mất nhân tính hơn.

Trong Giáo hội cũng có thể tiểm ẩn căn bệnh này: chúng ta có nguy cơ ‘xây hàng rào’ trong một số trường hợp nhất định, nhất là khi phải đối diện những chống đối hay tấn công từ bên ngoài. Ngày nay, Giáo hội đang gặp nhiều thách đố, ví dụ điển hình là cuộc khủng hoảng lạm dụng tình dục của hàng giáo sỹ. Nếu quá chú trọng đến việc bảo vệ sự an toàn cho mình, Giáo hội cũng có nguy cơ rơi vào cái bẫy của căn bệnh nói trên: vì tập trung tìm kiếm những phương thức che chắn cho mình mà không thật sự can đảm mở ra để được đụng chạm từ những vết thương của các nạn nhân, từ những nỗi đau cụ thể của những người bé mọn; không sẵn sàng chịu ‘bầm dập’ để được đụng chạm, chung chia và mang vác nỗi đau của con người.

Tuần Thánh có lẽ là dịp đặc biệt để chúng ta chiêm nghiệm về vấn đề này. Đức Giê-su vốn mang bản chất ‘lạc loài’ với chúng ta vì Ngài là Thiên Chúa. Nhưng ngài lại muốn ôm ấp bản tính nhân loại, trở thành ‘cùng loài’ với con người. Thiên Chúa không chọn lựa ‘đứng ngoài cuộc’ hay đứng bên lề để quan sát nỗi đau của nhân loại. Ngài chọn cách đi vào, đụng chạm, ôm ấp và đón nhận chính nỗi đau đó. Đó là cách Thiên Chúa nhập cuộc vào thế gian trong thân phận con người; để cho những nỗi đau của thân phận đó đụng chạm mình. Thiên Chúa đã thực sự kết hợp với con người qua sự chung chia và mang vác những nỗi đau đó cách tận cùng trong thân phận mỏng dòn của nhân tính, để cuối cùng đưa thân phận đó vào trong vinh quang của Phục Sinh. Đó là cách Thiên Chúa nâng cao nhân vị của con người. Vì thế, đối với Thiên Chúa, không gì quan trọng hơn thân phận một con người, như lời thánh I-rê-nê: “vinh quang của Thiên Chúa là con người sống.”

Chúng ta được mời gọi để sống tinh thần đó của Đức Giê-su: sẵn sàng mở chính mình ra để có thể được chạm thấu bởi những nỗi đau của chính mình và của tha nhân, hay những tiếng kêu cứu của thiên nhiên, của các tạo vật. Chỉ khi sống ơn gọi đó, chúng ta mới có thể hiểu biết và sống sung mãn nhân tính của mình trong gia đình nhân loại, cũng như có sự kết hiệp với Thiên Chúa, Đấng đã đến để kết hiệp với con người, với đỉnh cao là cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô. Vì thế, chiêm ngắm cuộc cuộc Thương Khó của Đức Ki-tô cách đích thực tự nó cũng phải là chiêm ngắm về thân phận và nỗi đau của con người, tới mức độ phá bỏ các rào cản để cho những nỗi đau đó thực sự đụng chạm đến chúng ta.

Khắc Bá, sj.

Tu huynh Paul McAuley bị thiêu chết ở Peru

Thổ dân vùng Amazon Peru
Thổ dân vùng Amazon Peru  (AFP or licensors)

Tu huynh Paul McAuley, 71 tuổi, người Anh, dòng Lasan, truyền giáo tại Peru, nhà hoạt động môi trường đã giúp các bộ tộc ở vùng Amazon chống lại sự tấn công của các công ty dầu khí, đã được tìm thấy trong tình trạng bị thiêu cháy tại thành phố Amazon ở Iquitos.

Hôm ngày 02.04, các học sinh đã tìm thấy thi thể tu huynh McAuley trong một ký túc xá do thầy thành lập cho các học sinh bản xứ tại thành phố Amazon. Tin tức địa phương cho biết thi thể thầy bị đốt cháy.

Các quan chức từ văn phòng công tố viên của bang đang thẩm vấn sáu thanh thiếu niên bản địa sống trong ký túc xá, tại khu phố nghèo Belén ở Iquitos, do thầy McAuley điều hành.

Cuộc đời vì thổ dân Amazon

Tu huynh Paul McAuley sinh năm 1947 tại Portsmouth, Anh quốc. Năm 1995, thầy được gửi đến Peru và đã thành lập Học viện Đức tin và Vui mừng tại một trong những khu ngoại ô của thủ đô Lima. Từ năm 2000, thầy được sai đến Iquitos, một đô thị lớn với gần nửa triệu dân trên bờ sông Amazon, ở trung tâm của miền Amazon của Peru để giúp các nhà hoạt động bản xứ và thành lập một hiệp hội dân sự có tên là Red Ambiental Loretana.

Thầy McAuley được thế giới biết đến sau khi bị Peru ra lệnh trục xuất vào năm 2010, vì giúp các bộ tộc ở vùng Amazon chống lại sự tấn công của các công ty dầu khí đang xâm chiếm vùng rừng nhiệt đới. Nhưng qua các phiên tòa, thầy đã thắng lệnh trục xuất.

Truyền thông địa phương gọi thầy McAuley là “nhà hoạt động Tarzan”, “tên khủng bố da trắng” và “linh mục người Anh gây cháy”.

Hội đồng Giám mục Peru cùng với các nhóm và các nhà hoạt động môi trường trên khắp thế giới đã vinh danh thầy McAuley.

Trong một tweet bằng tiếng Tây Ban Nha, Cơ quan điều tra môi trường, một tổ chức phi chính phủ, đã bày tỏ lòng tôn kính đối với thầy McAuley, người “đã chiến đấu cách hòa bình cho các quyền và rừng của người bản địa ở Peru. Hãy yên nghỉ, thầy Paul, chúng tôi sẽ tiếp tục cuộc chiến”.

Thứ Bảy, 6 tháng 4, 2019

Tin Mừng Chúa nhật 5 mùa Chay - Năm C

07-04-–-chua-nhat-5-mua-chay-c

PHÚC ÂM: Ga 8, 1-11
"Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi".

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, Chúa Giêsu lên núi cây dầu. Và từ sáng sớm, Người lại vào trong đền thờ. Toàn dân đến cùng Người, nên Người ngồi xuống và bắt đầu giảng dạy. Lúc đó, luật sĩ và biệt phái dẫn đến Người một thiếu phụ bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, và họ đặt nàng đứng trước mặt mọi người. Họ hỏi Chúa Giêsu: "Thưa Thầy, thiếu phụ này bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình, mà theo luật Môsê, hạng phụ nữ này phải bị ném đá. Còn Thầy, Thầy dạy sao?" Họ nói thế có ý gài bẫy Người để có thể tố cáo Người. Nhưng Chúa Giêsu cúi xuống, bắt đầu lấy ngón tay viết trên đất. Vì họ cứ hỏi mãi, nên Người đứng lên và bảo họ: "Ai trong các ngươi sạch tội, hãy ném đá chị này trước đi". Và Người ngồi xuống và lại viết trên đất. Nghe nói thế, họ rút lui từng người một, bắt đầu là những người nhiều tuổi nhất, và còn lại một mình Chúa Giêsu với người thiếu phụ vẫn đứng đó. Bấy giờ Chúa Giêsu đứng thẳng dậy và bảo nàng: "Hỡi thiếu phụ, những người cáo chị đi đâu cả rồi? Không ai kết án chị ư?" Nàng đáp: "Thưa Thầy, không có ai". Chúa Giêsu bảo: "Ta cũng thế, Ta không kết tội chị. Vậy chị hãy đi, và từ nay đừng phạm tội nữa".

Công bố Tông huấn CHRISTUS VIVIT của ĐTC Phanxicô

Công bố Tông huấn CHRISTUS VIVIT của ĐTC Phanxicô

12 giờ ngày 2 tháng 4, Tòa Thánh đã chính thức công bố nội dung Tông huấn Christus vivit (Đức Kitô đang sống) của Đức Giáo hoàng Phanxicô viết “gửi người trẻ và toàn thể Dân Chúa”. Đức Giáo hoàng đã ký ban hành Tông huấn này tại Ngôi Nhà Thánh ở Loreto vào ngày Lễ Truyền tin, 25 tháng 3 năm 2019.

Tông huấn này là kết quả của Thượng Hội đồng Giám mục Khóa Thường lệ thứ XV với với chủ đề “Người trẻ, đức tin, và sự phân định ơn gọi” được tổ chức vào tháng 10 năm 2018. Toàn văn Tông huấn Christus vivit gồm 299 số được chia thành 9 chương.

Mở đầu Tông huấn này, Đức Giáo hoàng Phanxicô đã viết: “Đức Kitô đang sống! Ngài là hy vọng của chúng ta, và Ngài đã mang sự thanh xuân vào thế giới của chúng ta một cách tuyệt vời. Những lời đầu tiên Cha muốn nói với từng người trẻ rằng: Đức Kitô đang sống và Ngài muốn chúng con được sống”. Ở những dòng kết thúc Tông huấn này, Đức Giáo hoàng đã diễn tả với giới trẻ rằng “niềm hy vọng hoan hỷ của Cha là thấy chúng con tiếp tục hành trình phía trước,… được lôi cuốn bởi dung mạo của Đức Kitô, Đấng mà chúng ta rất yêu mến, chúng ta suy tôn khi cử hành Thánh Thể, chúng ta nhận diện trong cuộc đời của anh chị em đang đau khổ.”

Trang tin của Hội đồng Giám mục Việt Nam sẽ phổ biến bản tóm lược tổng quát của Tông huấn Christus vivit trong những ngày sắp tới. Bản dịch Việt ngữ chính thức của của Tông huấn này sẽ được Hội đồng Giám mục Việt Nam phát hành trong Mùa Phục Sinh năm nay.

Linh mục Giuse Đào Nguyên Vũ

Tải sách đọc Mùa Chay và Tuần Thánh


Mùa Chay, chúng ta tìm vào những khoảng lặng của tâm hồn để nhìn lại chính mình, để nhận ra những lỗi lầm và để giục lòng hoán cải. Ơn Chúa tha thứ trở thành món quà quý báu mà chúng ta ao ước được nhận lãnh một cách dồi dào và tận căn.
Hướng về tâm tình mùa Chay, tập sách nhỏ bé này là những trang viết chân thành ghi lại những phản tỉnh suy tư về các nhân vật hiện diện trong cuộc Thương Khó của Chúa Giêsu. Tuy là những câu chuyện mang tính phóng tác, nhưng chúng tôi cố gắng giữ được nội dung chính của Tin Mừng. Để qua đó việc chiêm ngắm các nhân vật trong cuộc Thương Khó có thể mang lại nhiều ích lợi thiêng liêng cho bạn đang đọc tập sách này.
Mời bạn cùng với chúng tôi và với các nhân vật ấy tham dự vào một hành trình cầu nguyện và phản tỉnh, một hành trình mà nơi đó mỗi người nhận ra mình không hề cô độc khi có Đức Giêsu hiện diện trong tương quan cá vị với chúng ta. Ngài là ánh sáng để chúng ta nhìn ra con người thật của mình. Ngài là Ơn Sủng cho chúng ta được giải thoát thực sự.
Lên Đồi Với Chúa, tập sách đơn sơ này không gì khác hơn là một lời cầu nguyện. Lời cầu nguyện ấy dành cho bạn. Chân thành!
Một số Video từ sách:
  1. VIẾT CHO KẺ BÁN CHÚA
VIẾT CHO KẺ BÁN CHÚA
2. Chiếc khăn lau mặt Người
CHIẾC KHĂN LAU MẶT NGƯỜI
3. MARIA – MẪU GƯƠNG THEO CHÚA ĐẾN CÙNG
MARIA – MẪU GƯƠNG THEO CHÚA ĐẾN CÙNG
4. Viên đại đội trưởng
VIÊN ĐẠI ĐỘI TRƯỞNG
















ĐTC họp báo trên máy bay từ Maroc về Roma

ĐTC họp báo trên máy bay từ Maroc về Roma

Trong cuộc họp báo trên chuyến bay từ Maroc về Roma chiều tối ngày 31-3-2019, ĐTC đã đề cập đến việc đón tiếp người di dân, nạn lạm dụng tính dục, ma quỷ trong những hoạt động này và vụ ĐHY Barbarin từ chức nhưng không được ĐTC chấp nhận.

ĐTC Phanxicô đã về đến Roma bằng an lúc gần 9 giờ tối chúa nhật 31-3 vừa qua, kết thúc tốt đẹp chuyến viếng thăm mục vụ gần 2 ngày tại Maroc. Trong chuyến bay khoảng 3 tiếng đồng hồ từ thủ đô Rabat về Roma, như thường lệ, ĐTC đã thực hiện một cuộc họp báo với 69 ký giả cùng đi trong chuyến bay. Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn ĐTC:

Xây tường và hàng rào chống di dân

H. Trong diễn văn trước chính quyền tại Maroc, ĐTC đã nói: hiện tượng di dân không giải quyết được bằng những hàng rào thể lý, nhưng cạnh nước Maroc này, Tây ban nha đã dựng hai hàng rào kẽm gai có dao sắc bén để ngăn chặn những người muốn vượt qua. Và Tổng thống Trump của Mỹ trong những ngày này tuyên bố muốn hoàn toàn đóng biên giới và hơn nữa ông muốn ngưng viện trợ cho 3 nước Trung Mỹ. Vậy ĐTC muốn nói gì với chính phủ 3 nước ấy?

ĐTC: Trước tiên: những người xây tường, dù là bằng kẽm gai sắc bén hay bằng dao hoặc bằng gạch, sẽ trở thành tù nhân của những bức tường họ dựng lên. Thứ hai: tôi đã thấy một đoạn kẽm gai với những con dao sắc bén ấy. Tôi thành thực nói rằng tôi xúc động và rồi khi rời nơi ấy ra đi, tôi đã khóc. Tôi khóc vì không tưởng tượng nổi sự tàn ác như vậy. Tôi không tưởng nghĩ được sự kiện có những người chết đuối trong Địa Trung Hải. Chúng ta hãy lập những cây cầu ở các cửa.

Xây hàng rào và xây tường không phải là cách giải quyết vấn đề trầm trọng như vấn đề di cư. Tôi hiểu: đối với một chính phủ, vấn đề này giống như một củ khoai nóng bỏng phải cầm trong tay, nhưng họ phải giải quyết nó một cách khác, một cách nhân đạo. Khi tôi thấy những kẽm gai ấy với những con dao sắc bén, tôi không thể tin nổi. Rồi một lần tôi có dịp xem một phim về nhà tù với những người tị nạn bị xua đuổi, bị giam trong đó.

Có những nhà tù không chính thức, những nhà tù của những kẻ buôn người.. Những điều ấy làm đau lòng.. có những phụ nữ và trẻ em trong đó, có những người đàn ông, và những cuộc tra tấn mà đoạn phim trình bày thật là không thể tưởng tượng nổi. Đó là những phim quay lén, với những nhà vệ sinh..

Có nước không cho người di dân vào, vì không có chỗ. Nhưng có những nước khác, có tình nhân đạo của Liên hiệp Âu Châu, toàn Liên hiệp Âu Châu. Ta để cho họ chết đuối trên biển hay sao, ta đuổi họ đi dù biết rằng bao nhiêu người sẽ rơi vào tay những kẻ buôn người, những kẻ bán phụ nữ và trẻ em, họ sẽ giết hoặc tra tấn các đàn ông để biến thành nô lệ hay sao? Một lần tôi đã nói với một nhà lãnh đạo chính quyền mà tôi tôn trọng, tôi nói tên ông, ông là Alexis Tsipras [thủ tướng Hy Lạp] và khi nói về những điều ấy cũng như những hiệp định không để cho người di dân nhập cư, ông giải thích cho tôi về những khó khăn, nhưng ông cũng thành tâm nói câu này: “Các quyền con người ở trên những hiệp định”: câu nói này đáng được giải Nobel”.

Nhiều người Công giáo ủng hộ hạn chế di dân

** H. Chính trị Âu Châu hoàn toàn đi ngược lại những gì ĐTC nói. Âu Châu trở thành một pháo đài chống người di dân. Chính sách này phản ánh dư luận của các cử tri. Phần lớn các cử tri là những người Công Giáo. ĐTC cảm thấy thế nào trước tình trạng đau buồn ấy?

ĐTC: Tôi thấy có bao nhiêu người thiện chí, không phải chỉ có người Công Giáo mà thôi, những người tốt lành, thiện chí, có phần bị sợ hãi xâm chiếm, và bài giảng thông thường của những người mỵ dân là sự sợ hãi. Người ta gieo vãi sự sợ hãi rồi đưa ra những quyết định. Sợ hãi là khởi đầu của những chế độ độc tài. Chúng ta hãy trở lại thế kỷ vừa qua, khi cộng hòa Weimar ở Đức sụp đổ, tôi nhiều lần lập lại điều này. Nước Đức bấy giờ cần có một lối thoát, với những lời hứa và sợ hãi, và Hitler tiến lên. Chúng ta biết kết quả của những sự kiện đó.

”Chúng ta hãy học bài học lịch sử, đây không phải là điều mới mẻ: người ta gieo sợ hãi và gặt hái sự tàn ác, khép kín và cả sự son sẻ. Các bạn hãy nghĩ đến mùa đông dân số ở Âu Châu. Cả chúng ta cũng có tình trạng đó ở Italia: mức gia tăng dân số dưới số không. Hãy nghĩ đến sự thiếu ký ức lịch sử: Âu Châu được thành hình nhờ di dân và đây là điều làm cho đại lục phong phú. Chúng ta hãy nghĩ đến lòng quảng đại của bao nhiêu nước, ngày nay đang gõ cửa Âu Châu, với những người di dân Âu Châu từ năm 84 ngược về trước, 2 thời hậu chiến tranh, những đợt di dân ồ ạt, Bắc Mỹ, Trung Mỹ, Nam Mỹ. Cha tôi đã di cư sang Nam Mỹ sau thế chiến thứ hai và được đón tiếp.. Tôi nhớ ơn..

Đúng vậy, để nói đủ hơn, hiện nay chúng ta không có nhu cầu tìm kiếm những người di cư vì chiến tranh hoặc vì đói.. Nhưng nếu Âu Châu rất quảng đại trong việc bán võ khí cho Yemen để sát hại các trẻ em, vậy điều mà Âu Châu đang làm có hợp lý không? Đó là một ví dụ, nhưng Âu Châu đang bán võ khí. Rồi có vấn đề đói khát. Nếu Âu Châu muốn là mẹ chứ không là bà nội bà ngoại, thì phải đầu tư, phải tìm cách giúp đỡ một cách khôn ngoan, nâng cao bằng giáo dục, bằng đầu tư. Đó không phải là lời của tôi nhưng là lời bà thủ tướng Melkel đã nói. Đó là điều mà bà thi hành khá nhiều: nghĩa là không dùng võ lực để ngăn chặn việc xuất cư, nhưng bằng quảng đại, đầu tư giáo dục, kinh tế, v.v. đó là điều rất quan trọng.

Thứ hai là phải hành động cách nào: Hiển nhiên là một nước không để nhận tất cả mọi người di dân, nhưng toàn Âu Châu có thể phân chia số người di dân, toàn Âu Châu. Vì sự đón tiếp phải thực hiện với con tim mở rộng, rồi phải đồng hành, thăng tiến và hội nhập. Nếu một nước không thể hội nhập thì phải nghĩ nay đến việc nói với các nước khác: Anh có thể nhận bao nhiêu, để mang lại một cuộc sống xứng đáng cho dân chúng. Cần có lòng quảng đại, ý muốn tiến bước, nhưng chúng ta không thể tiến bằng sự sợ hãi, với những bức tường, chúng ta sẽ bị nhốt trong các bức tường.

Củng cố đối thoại

** H. ĐTC đã gặp Vua Maroc và thấy ý chí của Nhà Vua muốn đối thoại. Vậy cần phải làm gì cụ thể để củng cố đối thoại?

ĐTC: Khi có một cuộc đối thoại huynh đệ, thì luôn có một tương quan ở nhiều cấp độ. Xin cho phép tôi dùng một hình ảnh: đối thoại không thể là điều ở trong phòng thí nghiệm, nó phải giống như con người, nghĩa là với tâm trí, với đôi tay, và ta ký những hiệp ước. Ví dụ lời kêu gọi chung về thành Jerusalem là một bước tiến không phải do chính quyền Maroc hay Vatican, nhưng là do những anh chị em tín hữu chịu đau khổ, khi thấy Jerusalem ”Thành Hy vọng” vẫn chưa có tính chất đại đồng như mọi người mong muốn: Do thái, Hồi giáo, Kitô. Tất cả chúng ta đều mong muốn điều đó. Vì thế chúng tôi đã ký kết ước muốn ấy: đó là một ước muốn, một lời kêu gọi tình huynh đệ tôn giáo là biểu tưởng tại Thành Jerusalem cũng là thành của chúng ta. Tất cả chúng ta là công dân của Jerusalem, tất cả các tín hữu.

Ma quỷ và nạn lạm dụng tính dục

**H. ĐTC thường tố giác hoạt động của ma quỷ, như ngài đã làm trong Hội nghị thượng đỉnh mới đây về việc bảo vệ trẻ vị thành niên. Vậy phải làm gì để chống lại ma quỷ, nhất là về những xì căng đan lạm dụng tính dục trẻ em?

ĐTC: Sau bài diễn văn của tôi kết thúc Hội nghị thượng đỉnh về việc bảo vệ trẻ vị thành niên ấy, một tờ báo đã viết: Giáo Hoàng này ”ma giáo”, ban đầu ông nói lạm dụng tính dục trẻ em là một vấn đề của thế giới, rồi của Giáo Hội, và sau cùng rửa tay, gán tội cho ma quỷ.

Nhận định như thế thật là đơn giản hóa vấn đề! Một triết gia người Pháp, trong thập niên 1970, đã đưa ra một sự phân biệt mà tôi thấy là mang lại nhiều ánh sáng. Ông nói: ”Để hiểu một tình trạng cần phải trình bày tất cả những giải thích và tìm kiếm ý nghĩa của chúng”. Điều ấy có nghĩa gì về phương diện xã hội? về mặt bản thân hoặc tôn giáo? Tôi tìm cách đưa ra mọi giải thích. Nhưng có một điều mà người ta không thể hiểu nếu không để ý đến mầu nhiệm sự ác. Hãy nghĩ đến nạn ấu dâm, dâm ô trẻ em trên mạng. Đã có hai hội nghị quan trọng về vấn đề này, một tại Roma và một tại Abu Dhabi. Tôi tự hỏi làm sao nạn lạm dụng ấy trở thành điều xảy ra hằng ngày? Làm sao mà khi nói về các thống kê nghiêm túc, nếu bạn muốn thấy một vụ lạm dụng trẻ em trực tuyến thì có thể vào mạng, họ cho bạn thấy. Tôi không nói dối.

Tôi tự hỏi: các giới hữu trách có thể không làm gì sao? Trong Giáo Hội chúng tôi cố gắng làm tất cả những gì có thể để chấm dứt tai ương ấy, làm tất cả những gì có thể. Trong bài diễn văn vừa nói, tôi đã đề ra những biện pháp cụ thể. Trước Hội nghị Thượng Đỉnh, khi các vị Chủ tịch HĐGM gửi cho tôi danh sách những biện pháp, tôi đã chuyển cho tất cả mọi người? Phải chăng những kẻ trách nhiệm về những điều nhơ bẩn ấy là những người vô tội? Và những người kiếm lợi với những hành động ấy thì sao? Tại Buenos Aires, với hai vị hữu trách các thành phố, chúng tôi đã làm một qui định không có tính chất bó buộc đối với các khách sạn hạng sang, tại quầy tiếp khách của các khách sạn có đề bảng: ”tại khách sạn này không được phép có quan hệ tình dục với trẻ vị thành niên”. Nhưng không khách sạn nào muốn đặt bảng đó. Họ nói chống chế: ”không thể làm như vậy, nó có vẻ nói rằng chúng tôi là những người bẩn. Xin hãy biết rằng chúng tôi không để cho những quan hệ tình dục với trẻ em xảy ra tại đây, nhưng chúng tôi không đặt bảng như vậy”.

Một chính quyền không thể khám phá ra nơi nào họ làm những phim dâm ô với trẻ em sao? Tất cả những phim ấy đều quay trực tiếp. Để nói rằng tai ương thế giới ấy thật lớn nhưng cũng để nói rằng ta không thể hiểu hiện tượng ấy nếu không nhắc đến ác quỷ, đó là một vấn đề cụ thể. Để giải quyết vấn đề đó, có hai bài báo mà tôi khuyên đọc, một bài của Gianni Valente đăng trên Vatican Insider nói về những người theo thuyết Donato. Nguy cơ đối với Giáo Hội là ngày nay người ta theo thuyết Donato, đề ra những qui luật nhân trần, mà quên đi các chiều kích khác. Cầu nguyện, thống hối đền tội, phải chăng chúng ta không quen làm những điều đó? Cần làm cả hai. Để chiến thắng thần dữ không phải là rửa tay khi nói ”ma quỷ làm điều ấy”: không phải vậy. chúng ta phải chiến đấu chống ma quỷ, nhưng chúng ta cũng phải đưa ra những biện pháp con người.

Tác phẩm thứ hai do báo Civilta Cattolia ấn hành. Tôi cũng đã viết một cuốn sách hồi năm 1987 ”Những lá thư sầu muộn”, đó là những lá thư của cha Tổng quyền dòng Tên khi dòng sắp bị giải tán. Tôi đã viết một lời tựa, các tu sĩ đã học hỏi về những thư mà tôi đã viết cho các GM và dân chúng Chile. Làm sao thực hiện cả hai phần: phần khoa học và phần thiêng liêng. Tôi cũng đã làm như vậy với các GM Mỹ: các đề nghị có tính chất quá phương pháp, nhưng không có ý chí, và chiều kích linh đạo bị lơ là. Tôi muốn nói với các bạn: Giáo Hội không phải là duy cộng đồng (congregazionista), nhưng là Công Giáo, trong đó GM và cả Giáo Hoàng phải hành động như một mục tử. Nghĩa là với những biện pháp kỷ luật, nhưng cả các biện pháp như thống hối, cầu nguyện, xưng thú tội. Tôi biết ơn nếu quí vị học hai điều: phần con người và phần thiêng liêng”.

ĐTC không chấp nhận đơn từ chức của ĐHY Barbarin

**H. Thưa ĐTC, liên quan ĐHY Philippe Barbarin, bên Pháp: tuần qua Hội đồng tư vấn giáo phận Lyon đã bỏ phiếu hầu như nhất trí yêu cầu tìm một giải pháp lâu dài cho việc ĐHY rút lui. ĐTC là người vẫn đề cao công nghị tính của Giáo Hội, ĐTC có thể lắng nghe lời kêu gọi này của một giáo phận ở trong một tình trạng khó khăn như thế hay không?

ĐTC: ĐHY Barbarin là một người của Giáo Hội, đã từ chức, nhưng tôi không thể chấp nhận việc từ chức ấy về phương diện luân lý, vì xét về mặt pháp lý, cả trong luật pháp truyền thống của thế giới, cũng có nguyên tắc một người được coi là vô tội bao lâu vụ án còn được cứu xét. ĐHY Barbarin đã kháng án và vụ án còn đang mở ngỏ. Sau khi tòa án cấp cao tuyên án, chúng ta sẽ xem điều gì xảy ra. Nhưng luôn luôn với nguyên tắc một bị cáo là vô tội cho đến khi có phán quyết chung kết. Đây là điều quan trọng vì đi ngược lại với sự kết án hời hợt của báo chí, của giới truyền thông. Có thể là ĐHY không vô tội, nhưng có nguyên tắc vừa nói. Một lần tôi đã nói về một vụ ở Tây Ban Nha, sự kết án của báo chí đã làm tàn đời các linh mục và sau đó tòa án đã xác nhận các LM ấy vô tội. Vậy trước khi báo chí lên án, chúng ta hãy suy nghĩ hai lần. ĐHY đã chọn một giải pháp lương thiện, nghĩa là nói: ”Tôi không rút lui, tôi chỉ tự ý nghỉ một thời gian và để cho vị Tổng đại diện điều hành giáo phận cho đến khi tòa án tuyên bố phán quyết chung kết”.