Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Sáu, 3 tháng 11, 2017

Hướng dẫn Mục vụ Di dân

   ↓


Uỷ ban Mục vụ Di dân / HĐGMVN

Vị tử đạo tiên khởi thời hiện đại của Công giáo Ấn Độ

Vị tử đạo tiên khởi thời hiện đại của Công giáo Ấn Độ
Nữ tu dòng Phanxicô Clarist viếng thăm một phụ nữ trong làng Udainagar thuộc bang Madhya Pradesh, 
nơi nữ tu Rani Maria sẽ được tôn phong chân phước vào ngày 4-11. 
Ảnh: Saji Thomas/ucanews.com

Lễ tôn phong chân phước sắp tới cho một nữ tu Ấn Độ bị sát hại cách đây hơn 20 năm sẽ là nguồn cảm hứng cho các Kitô hữu bị ngược đãi ở Ấn Độ, theo các lãnh đạo Giáo hội địa phương.

Người Công giáo Ấn Độ đang chuẩn bị cho lễ tôn phong chân phước cho nữ tu Rani Maria Vattalil vào ngày 4-11. Chị bị một kẻ tấn công dùng dao đâm chết ngày 25-2-1995 khi đi xe buýt gần thành phố Indore, trên đường về quê nhà Kerala nghỉ phép.

Nữ tu Rani Maria thuộc dòng Phanxicô Clarist bản xứ trong giáo phận Indore, thuộc bang Madhya Pradesh, miền trung Ấn Độ. Lúc bị sát hại, chị được 41 tuổi.

“Rõ ràng tôn phong chân phước cho sơ sẽ là một nguồn cảm hứng lớn lao cho Giáo hội tại Ấn Độ vốn đối mặt tình trạng ngược đãi”, theo Paul Abraham, nhà văn Công giáo ở Madhya Pradesh, nơi thường xuyên báo cáo xảy ra các vụ tấn công Kitô hữu.

Abraham, cựu nhà báo theo dõi sát sao án phong thánh cho nữ tu anh hùng này, cho biết cuộc đời và cái chết của chị sẽ trở thành tâm điểm cho các cộng đồng Kitô hữu địa phương.

“Việc chị tận tâm giúp đỡ người nghèo khiến các địa chủ có quyền lực tức giận, và việc chị cương quyết chống lại các mối đe dọa đối với sứ mạng Kitô giáo của mình cho đến chết” sẽ truyền cảm hứng cho các Kitô hữu địa phương vốn đối mặt tình trạng quấy rối “hàng ngày”, ông nói.

Tháng 3 năm nay, Vatican thông báo tôn phong chân phước cho chị là vị tử đạo và như thế chị sẽ trở thành vị tử đạo tiên khởi trong thời hiện đại của Giáo hội Công giáo Ấn Độ. Vị thánh tiên khởi của Ấn Độ là Thánh Gonsalo Garcia đến từ Vasai gần Mumbai bị giết chết năm 1597 trong khi làm thừa sai tại Nhật Bản. Ngài được tuyên bố tử đạo năm 1862.

Samunder Singh, kẻ giết nữ tu, đã đâm chị trên xe buýt và trên đường lúc chị chạy ra khỏi xe. Tổng cộng chị bị đâm 54 nhát.

Singh được những kẻ cho vay tiền thuê giết nữ tu Rani Maria vì phản đối việc chị giúp đỡ dân làng nghèo có khả năng tự lực hơn. Sau đó ông hối hận trong tù và nói muốn gặp gia đình nữ tu. Chị của sơ Rani cũng là một nữ tu, đã cột rakhi (một sợi chỉ tượng trưng cho tình anh chị em ruột) lên tay Singh, chấp nhận ông vào gia đình mình.

Các nhóm Ấn giáo cực đoan

Các lãnh đạo Kitô hữu nói các nhóm Ấn giáo cực đoan ở Madhya Pradesh nhắm vào các tôn giáo thiểu số như Kitô hữu kể từ khi đảng ủng hộ Ấn giáo Bharatiya Janata lên nắm quyền trong bang cách đây 14 năm.

“Lễ tôn phong chân phước sẽ cổ võ tất cả các Kitô hữu, không chỉ người Công giáo, phản đối tình trạng bạo lực và quấy rối vì đức tin của mình. Nữ tu Rani Maria sẽ là mẫu gương”, Abraham phát biểu.

Riêng năm nay Kitô hữu đã ghi nhận ít nhất 80 vụ bạo lực trong bang này, bao gồm các vụ tấn công nhắm vào mục sư, nhà thờ và nhà nguyện. Ngoài ra còn có những lời vu khống liên quan đến vi phạm một đạo luật trong bang nói về cải đạo.

Silvester Gangle, lãnh đạo Công giáo, nói lễ tôn phong chân phước cho nữ tu còn giúp người dân trên khắp Ấn Độ hiểu được bản chất của các thừa sai Kitô giáo làm việc trong các làng mạc. Gangle cho biết những kẻ Ấn giáo cực đoan tuyên truyền rằng công tác xã hội của Kitô hữu chỉ là hoạt động bề ngoài dùng để cải đạo người dân nghèo.

Lễ tôn phong chân phước này “sẽ là một đặc ân vì Giáo hội Công giáo đang chịu áp lực nặng nề từ các nhóm cuồng tín tiếp tục tuyên truyền chống lại các thừa sai Kitô giáo”, theo Gangle.

Abraham, cũng cùng quê Kerala với nữ tu, cho biết nữ tu xuất thân từ một gia đình giàu có và đáng lẽ có thể chọn “một cuộc sống gia đình thoải mái”.

“Nhưng chị đã quyết tâm đi tu, chọn các giáo điểm ở miền bắc Ấn Độ và trở thành tiếng nói đại diện cho những người thấp cổ bé họng”, ông nói.

Kitô hữu chỉ chiếm chưa đến 0,3% trong số khoảng 73 triệu dân trong bang Madhya Pradesh, còn lại đa số (90%) là người Ấn giáo, theo cuộc điều tra dân số ở Ấn Độ năm 2011.

500 năm nhìn lại Martin Luther

MainPic

Đúng 500 năm trước đây, việc Martin Luther công bố 95 luận đề của ông ở Nhà Thờ Chánh Tòa Wittenberg đã làm phát sinh cả một phong trào ly giáo rộng lớn ở Tây Phương. Từ đó, không biết bao nhiêu nhân tố đã góp phần tạo cho bức tường ly giáo ngày thêm kiên cố.

Tuy nhiên, nhiều cuộc cách mạng đủ loại từ đó tới nay đã góp phần làm cho con người khách quan hơn trong việc xét đoán người khác. Nhờ thế nhiều lớp áo giả tạo đã được tháo gỡ giúp người ta nhìn rõ sự thật hơn, sự thật về mình và sự thật về người khác, trong đó, có kẻ thù hay kẻ đối nghịch với mình. Chính trong chiều hướng này, Giáo Hội Công Giáo, mà thời tiền Vatican II vốn được coi là một xã hội hoàn hảo nhưng từ Vatican II trở đi được coi nhiều hơn như một dân lữ hành, và do đó, có thể phạm sai lầm, đã lên tiếng xin lỗi mọi người. Gần đây nhất, Đức Giáo Hoàng Phanxicô không những xin lỗi phong trào do Martin Luther khởi xướng mà còn chính thức tham dự việc tưởng niệm năm thứ 500 ngày ông phát khởi phong trào này nữa. 

Thiển nghĩ nhà lãnh đạo Giáo Hội Công Giáo, khi làm như trên, không có nghĩa thừa nhận Phong Trào Thệ Phản, mà là nhìn nhận phần trách nhiệm của mình trong việc phát sinh ra nó. 

Thực vậy, Tom Hoopes, chẳng hạn, cho rằng nguyên việc đóng đinh 95 luận đề lên cửa nhà thờ chính tòa Wittenberg ngày 31 tháng 10 năm 1517 mà thôi làm sao tạo ra được phong trào Thệ Phản. Việc này chẳng có chi là dạn dĩ, độc đáo cả, đó là cách thông thường để phổ biến tin tức vào thời ấy, một việc giới học thuật làm thường xuyên để khởi đầu một cuộc tranh luận. 

Thậm chí Glenn T. Stanton còn cho rằng: Martin không hề đóng đinh 95 luận đề của ông ở cửa nhà thờ chính tòa Wittenberg. Nói đúng hơn, ông có đóng đinh ở đấy 2 lá thư, và 1 trong 2 lá thư này có chứa 95 luận đề nổi tiếng về sau. Chúng tôi sẽ đề cập tới vấn đề này sau.

Bây giờ, xin trở lại với nhận định của Tom Hoopes về việc đóng đinh 95 luận đề. Ông cho rằng, chính việc người ta sao chép, dịch chúng sang nhiều thứ tiếng và phổ biến khắp nơi đã tạo nên làn sóng lớn, vượt quá cả chính 95 luận đề. Việc này khiến con người vốn có ý tốt lành Martin Luther thoạt đầu chỉ muốn giới hạn ân xá vào việc làm tốt và việc xưng tội, chứ không vào việc dâng cúng, nay trở thành quá khích, bác bỏ hết mọi thứ ân xá và việc làm tốt, chỉ còn sola gratia. Và càng được công chúng ủng hộ hoan hô, Martin Luther càng xa rời Giáo Hội mà ông vốn kính yêu như con thảo, đến không còn modestia (nhã nhặn) như nhận định của Erasmus. 

Trở lại với nhận định của Stanton cho rằng điều Luther đóng vào cửa nhà thờ chính tòa Wittenberg không phải 95 luận đề mà là hai phong thư gửi các vị giám mục hữu trách và 1 trong 2 phong thư này có chứa 95 luận đề. Tác giả này dựa vào hai công trình nghiên cứu mới đây để quả quyết như thế. Một là công trình của Richard Rex (The Making of Martin Luther), giáo sư về lịch sử phong trào Thệ Phản tại Đại Học Cambridge. Vị giáo sư này cho rằng “Gần như không hề có một chứng cớ nào cho thấy Luther thực sự tới và đóng đinh chúng vào cửa nhà thờ ngày đó, và ta có đủ lý do tin rằng ông không làm việc này”. Công trình thứ hai của Eric Metaxas: Martin Luther, The Man Who Rediscovered God and Changed the World cũng đồng ý như thế. 

Hai lá thư trên cảnh báo các vị giám mục hữu trách về các lạm dụng ân xá của một vị giảng thuyết “đắt khách” Johann Terzel hồi đó. Theo chính lời ông thuật lại (xem Sources for and against the Posting of the Ninety-Five Theses của Volker Leppin và Timothy J. Wengert, đăng trên tạp chí Lutheran Quarterly năm 2015), trước Vọng Lễ Các Thánh năm đó, Luther đã bắt đầu thuyết phục dân chúng đừng tin theo lời truyên truyền của các nhà “bán” ân xá vì có nhiều điều tốt hơn ân xá để làm như làm phúc bố thí chẳng hạn. Sau đó không lâu, ông viết hai lá thư, một gửi cho Đức Cha Albrecht, Tổng Giám Mục Mainz, một lá gửi cho Đức Cha Jerome Scultetus, Giám Mục sở tại Brandenburg. 

Cũng theo ông, trong lá thư gửi Đức Cha Albretch, Luther có kèm các Luận Đề, yêu cầu ngài ngưng việc cho phép Terzel rao bán ân xá, một việc ông cho là ngu đần, “nếu không nó sẽ tạo ra nhiều điều không làm ai vui lòng”. 

Phải nhận là Luther tôn trọng phẩm trật khi làm thế. Vả lại, ông làm thế không phải một cách bất kính hay trong tức giận, mà khá rụt rè là đàng khác. Thực vậy trong lá thư gửi Đức Cha Albretch, ông có những lời ca ngợi vị này, gọi ngài là “Cha rất đáng kính của con… (Cha) đáng tôn kính, sợ sệt và rất nhân hậu”, “Hoàng Tử Vinh Hiển Nhất” của Luther. Còn ông là “cặn bã của nhân loại”. Ông khiêm nhường xin đuợc tha thứ vì đã “dám bạo gan nghĩ đến việc gửi thư cho sự cao cả của Đấng Siêu Phàm”, xin Đức Tổng Giám Mục tốt lành “đoái nhìn một hạt bụi và vì lòng nhân lành của một vị giám mục lưu ý tới lời cầu xin của con”. Metaxas mô tả lá thư này không hơn không kém như một “kiểu mẫu nịnh nọt luồn cúi”. Điều này cho thấy Luther của ngày 31 tháng 10 năm 1517 như một con mèo con kêu rừ, rừ chứ không hề là một con sư tử kêu rống. 

Tinh thần thệ phản của ông mãi sau này mới nổi dậy và không hề chỉ do một biến cố lịch sử duy nhất tạo nên. Nó diễn biến từ từ trong các tuần lễ kế tiếp. Các lời cảnh báo của Luther bị để ngoài tai. Và mưu đồ thì lớn hơn cả trí tưởng tượng của ông, với Đức Cha Albretch chia phần “buôn bán” với Đức Giáo Hoàng trong khi Terzel được lãnh thù lao giảng thuyết. Đức Cha Albretch ngậm miệng ăn tiền, còn Đức Cha Jerome thì khuyên ông đừng gây sóng gío cho con thuyền. 

Sở dĩ ông cho công bố các luận đề sau đó, là vì chúng bị giáo quyền khinh bỉ. Ý định nguyên khởi của ông không phải là công bố chúng, nhưng ông buộc phải làm việc này như một hệ luận hợp luận lý. Căn cứ vào chính lời ông nói, ông không hề là một nhà cách mạng lôi đình, mà chỉ những cố gắng làm một người con ngoan của Giáo Hội Công Giáo. Không một học giả nghiêm túc nào về Luther hỗ trợ cái viễn tưởng về một chàng tuổi trẻ tiên tri múa búa vào Ngày Cải Cách. Đó chỉ là một truyện truyền kỳ tưởng tượng. Không một hành vi cải cách nào đã diễn ra vào ngày 31 tháng Mười năm 1517. Luther không trở thành “người thệ phản” vào hôm đó, dù chắc chắn sau đó ông đã trở thành con người này. 

Gần như không một chi tiết loan truyền nào về câu truyện hoang đường ở cửa nhà thờ Wittenberg là đúng sự thật cả. Văn kiện ư? Nếu có, thì đó chỉ là một đề xuất cho một cuộc tranh luận thần học có tính học thuật về ơn xá, không hề là hiệu lệnh cho một cuộc cách mạng. 

Lời mời gọi tranh luận này là việc làm bình thường của các giáo sư thời ấy, không có gì đáng lưu ý. Tiếc thay, cuộc tranh luận không bao giờ diễn ra. Vì không ai đáp lại lời mời. 

Còn chiếc cửa nhà thờ? Đây không hề là một điển hình của việc dám nói sự thật một cách công khai cho giáo quyền bằng cách trực tiếp đem vụ việc của mình dán ở cửa nhà thờ chính tòa thành phố để ai ai cũng thấy. Các yết thị được công chúng lưu ý đều được dán ở cửa chính nhà thờ. Cửa ấy được sử dụng như bảng yết thị của cộng đồng vì ít nhất một lần trong tuần dân thành phố đều đến đó. 

Các lời mời có tính học thuật trên cũng không được dán ở cửa một nhà thờ mà là tại cửa của mọi nhà thờ trong thành phố, đây là chính sách chung của các đại học thời ấy. Thành thử việc dán hay đóng đinh các lời mời này không hề là một biến cố lịch sử mà chỉ là vấn đề hành chánh thông thường.

Thế còn búa và đinh? Phần lớn người ta dán bằng hồ hay một đinh ghim. Còn người dán, thì thường không phải là một giáo sư danh tiếng, phần lớn là người giữ nhà thờ hay đại học. Có thể là một học trò của Luther, chứ không phại vị tiến sĩ giáo sư này. 

Các luận đề của Luther quả có mang sấm sét đến cho thế giới, phát động cả một phong trào thay đổi văn minh. Không ai chối cãi điều này và nó đáng được mừng kỷ niệm 500 năm. Nhưng nhất định không phải tiếng búa ở cửa nhà thờ Wittenberg mà tiếng leng keng của máy in hồi ấy mới là ngòi nổ. 

Thực vậy, các luận đề của Luther được in ấn và mang ra bán, dù chính Luther không biết và thỏa thuận, bởi các nhà in kinh doanh; các ấn phẩm của họ được loan truyền “khắp nước Đức trong vòng non hai tuần” như chính Luther cho hay. Công trình của ông loan nhanh như vi khuẩn (viral) dù chữ vi khuẩn hồi ấy chưa hề có và chính Luther không hề nhúng tay vào. Hậu quả làm chính ông ngạc nhiên y hệt các tác giả ngày nay bỗng nổi tiếng trên liên mạng. Chính Luther đã gọi việc in ấn và phân phối hợp thời các luận đề của ông như “những khởi đầu thứ nhất, có thực chất và nền tảng cho cuộc ‘náo động của Luther’”. Trước đó, sự việc khá trầm lặng.

Dù Luther không bao giờ nhắc đến việc đóng đinh các luận đề lên cửa nhà thờ chính tòa Wittenberg, người bạn trung thành Melanchthon của ông đã có công phát động màn kịch đó. Ông ta giải thích rằng với các luận đề và chiếc búa trong tay, Luther “đã công khai đóng chúng ở Nhà Thờ cạnh Lâu Đài Wittenberg vào ngày vọng Lễ Các Thánh năm 1517”. Melanchthon viết như thế ít năm sau ngày Luther qua đời dù không phải là nhân chứng nhãn tiền của biến cố. Và lời ông ta hoàn toàn khác với lời Luther.

Còn nội dung của 95 luận đề thì sao? Chúng có phải là một tổng thể gắn bó chống lại các vấn đề thần học và giáo hội học chính của Giáo Hội Công Giáo không? Không hẳn. Vì lúc ấy, ông chỉ quan tâm tới vấn đề ân xá và bản chất của việc ăn năn tội (contrition) đích thực, dù nghị trình Luthêrô chắc chắn lớn mạnh cùng với thời gian. 

Có người còn quả quyết rằng Luther không phải là một nhà cải cách của phái Luthêrô mà là của Công Giáo. Vì lúc đó, ông không quan tâm đến chính việc dùng ân xá mà đến việc chúng bị bán theo kiểu sơn đông mãi võ và thao túng. Các quan tâm này có tính Công Giáo hơn người ta tưởng và nhiều tín hữu Cải Cách thoải mái với nhận định này. Học giả về Luther là Timothy J. Wengert, trong cuốn Martin Luther's Ninety-Five Theses: With Introduction, Commentary, and Study Guide, cho hay một độc giả thời nay than phiền là các luận đề này “nghe không Luthêrô chút nào”. 

Theo Stanton, đúng như thế. Vì vào lúc đó, người tu sĩ trẻ tuổi Luther chỉ coi mình là một người Công Giáo cải cách, như một học giả của bài báo đã trích dẫn trên đây của tờ Lutheran Quarterly vốn quả quyết. Phần lớn các độc giả hẳn sẽ ngạc nhiên khi thấy Luther, trong các luận đề ấy, vẫn còn tin luyện ngục và thẩm quyền của Đức Giáo Hoàng. Tất cả, chẳng bao lâu sau, đã thay đổi. Sự mạnh bạo của Luther, một năm sau, sẽ lớn mạnh, dẫn đầu cho việc thoát xác của ông từ một nhà cải cách thân thiện trở thành môt người phản kháng đầy tính ngôn sứ. Chắc chắn ông ta không trở thành một nhà Thệ Phản, càng không trở thành người sáng lập ra phái Luthêrô vào Lễ Vọng Các Thánh năm 1517. Cùng lắm, chỉ có thể nói ngày ấy thực là Ngày Chuyển Hướng Về Phía Cải Cách. 

Tại sao phải nói thế? Stanton cho rằng không một huyền thoại nào về Luther đã phát khởi từ một ảnh hưởng duy nhất, dù đó là đức tin và thực hành Kitô Giáo mà là do đủ mọi ảnh hưởng chính trị, kinh tế, kỹ nghệ, giáo dục, phân phối chữ viết, nghệ thuật, địa vị phụ nữ, và bản chất cùng ý nghĩa của hôn nhân và gia đình… Ta chỉ có thể mừng kỷ niệm 500 Thệ Phản một cách trung thực khi đặt các huyền thoại này song song với các sự kiện do chính ông kể lại.

Vũ Văn An

Ngày Thế giới Người nghèo đầu tiên

Tòa Thánh cho biết hôm 24 tháng 10 rằng Đức Thánh Cha Phanxicô sẽ cử hành một Thánh lễ đặc biệt với người nghèo và những người đã giúp đỡ họ vào ngày 19 tháng 11, ngày Thế giới Người nghèo đầu tiên.

Thánh lễ sẽ được cử hành vào lúc 10h sáng bên trong Đền Thờ Thánh Phêrô.

Sau năm Thánh Lòng Thương Xót kéo dài từ ngày 8 tháng 12 năm 2015, là Lễ Đức Mẹ Vô Nhiễm, đến ngày 20 tháng 11 năm 2016, là lễ Chúa Kitô Vua, Đức Thánh Cha đã thiết lập một ngày để khuyến khích cuộc gặp gỡ, tình bạn, tình liên đới và sự hỗ trợ cụ thể cho người nghèo; gọi là ngày Thế giới Người nghèo. 

Trong ngày Thế giới Người nghèo đầu tiên này, Đức Thánh Cha Phanxicô theo dự trù sẽ có một buổi ăn trưa với 500 người tham dự thánh lễ, và Tòa Thánh hy vọng rằng tất cả các giáo xứ trên thế giới sẽ thực hiện những hoạt động tương tự như thế.

Đặng Tự Do

Thứ Tư, 1 tháng 11, 2017

Hội ngộ Liên tôn 2017 - Đồng tâm kiến tạo nhân hoà


Theo hướng đi của Giáo hội Công giáo toàn cầu và cách riêng thực hành của ĐGH Phanxicô, sự kiện GẶP GỠ LIÊN TÔN TẠI ASSISI CẦU NGUYỆN CHO HÒA BÌNH do sáng kiến của Thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II diễn ra ngày 27 tháng 10 năm 1986. Từ năm 2011 đến nay, Ban Mục Vụ Đối Thoại Liên Tôn TGP Sài Gòn đã liên tục tổ chức ngày HỘI NGỘ LIÊN TÔN (HNLT) tại Trung Tâm Mục Vụ TGP, số 6 bis Tôn Đức Thắng, quận I.

Năm nay, 2017, ngày HNLT đã quy tụ được nhiều thành phần tham dự đáng để Ban Tổ Chức vui mừng và cảm thấy được khích lệ rất lớn:

- Đức Hồng y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn, Đức Cha Stephanô Tri Bửu Thiên – Giám Mục Chánh Tòa GP Cần Thơ – Đặc trách Đối Thoại Liên Tôn thuộc Hội Đồng Giám mục VN, Đức Cha Giuse Đỗ Mạnh Hùng và Đức Cha Luy Nguyễn Anh Tuấn là hai Giám mục phụ tá của TGP Sài Gòn.


- Có Cha Giám Đốc Đại chủng viện Thánh Giuse TGP.SG và quý Đại chủng sinh Thần học năm ba tham dự. Có hơn 100 tu sĩ sinh viên thuộc Học Viện (HV) Liên dòng nữ Phaolô Nguyễn Văn Bình, HV Thánh Phaolô thành Chartres, HV Phanxicô,… tham dự. Có quý Cha Giáo, Cha Hạt trưởng, các Cha Trưởng Ban Mục Vụ, quý linh mục Giáo phận và Dòng, quý tu sĩ đại diện các Dòng khác, đại diện các Phong Trào, Đoàn, Hội trong TGP, Giáo dân của khoảng 5 Giáo xứ, 30 thành viên Lòng Chúa Thương Xót, 10 Hướng Đạo sinh Đạo Tân Định…

- Nhóm đạo hữu Baha’i đến rất đông, vì họ cũng mừng 200 năm ngày sinh Đức Giáo Tổ Baha’u’llah. Ngoài ra còn có nhiều “NGƯỜI CON ÁO TRẮNG” (tín đồ Cao Đài) từ các Thánh thất, Thánh tịnh trong Tp.HCM đến dự. Ngoài ra phải kể đến những vị thuộc Islam, Minh Lý Đạo, Phật giáo, Phật giáo Hòa Hảo và 2 vị Mục sư Tin lành cũng tham gia.


Nhìn chung vào thành phần tham dự HNLT lần này, Ban Tổ Chức cảm nhận một sự quan tâm hơn về hoạt động Đối thoại với các tôn giáo, một trong 3 cuộc đối thoại mà Liên Hội đồng Giám mục Á châu cổ vũ thực hiện khi loan báo Tin Mừng (Đối thoại với người nghèo, với các tôn giáo và với các nên văn hóa).

Nhìn từ phía Giáo Hội tại Việt Nam, thì sinh hoạt này đã nhận được sự khích lệ và tham gia từ các chủ chăn là các Đức Giám mục, đến quý linh mục, tu sỹ nam nữ, giáo dân và các Phong trào, đoàn thể. Đặc biệt là Ban Giám Đốc Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn.


Nhìn từ phía các tôn giáo bạn, các đạo hữu đến tham dự HNLT như một sinh hoạt định kỳ hằng năm. Vì thế, càng ngày họ càng đến đông hơn và bầu khí huynh đệ đại đồng cũng được biểu tỏ cách sống động, chân thành, cởi mở và năng động hơn.


Giao lưu giữa tín đồ các tôn giáo trong giờ giải lao


Chương trình HNLT được tổ chức lần này nhằm tưởng nhớ 120 năm ngày sinh của Đức Chân Phước Giáo hoàng Phaolô VI – CON NGƯỜI KIẾN TẠO NHÂN HÒA. Chủ đề của ngày hội ngộ là ĐỒNG TÂM KIẾN TẠO NHÂN HÒA. Nội dung được chia thành ba phần:

PHẦN I: Khai mạc và Hội thảo riêng theo bốn chuyên đề: Nhân hòa theo tôn giáo Baha’i, Nhân hòa theo tôn giáo Cao Đài, Nhân hòa theo Phật giáo, Nhân hòa theo Kitô giáo. Mỗi đề tài đều do chuyên viên của tôn giáo đó thuyết trình. Vì đa số tham dự viên là người Công giáo, nên chúng tôi cũng ghi nhận được là số người đến nghe ở các chuyên đề của Phật giáo, Cao Đài, Baha’i rất đông.


Phòng Hội thảo "Nhân hòa theo giáo lý Cao Đài


Phòng Hội thảo "Nhân hòa theo giáo lý Baha'i

PHẦN II: đúc kết Hội thảo nhóm và sinh hoạt chung. Trong phần này có sự tham gia của nhóm trẻ thuộc Ủy Ban Mục Vụ Giới Trẻ. Họ đến để nói về kinh nghiệm sau chuyến đi tham dự Đại hội Giới Trẻ Châu Á tại Inđônêxia vào tháng 8/2017. Đặc biệt là cảm nghiệm của họ sau khi đã tương tác trong hoạt động với người trẻ Islam. Trong phần này còn có sự tham gia chia sẻ về kinh nghiệm Đối Thoại Liên Tôn của Phong Trào Focolare.


Có bài chia sẻ về Thiên Thời – Địa Lợi – Nhân Hòa theo cái nhìn của Minh Lý Đạo. Bài hát “Chúng ta là nhân loại” của Tập Đoàn Giáo Sỹ Cao Đài. Vũ khúc của giới trẻ Công Giáo trong TGP SG.


Điểm đặc biệt thu hút sự quan tâm của mọi giới là chứng từ của hai cặp vợ chồng: chồng người Pháp – vợ Việt Nam, chồng người Ba Lan – vợ người Việt. Họ chia sẻ về kinh nghiệm sống với nhau thế nào cho hạnh phúc giữa những khác biệt về văn hóa, tôn giáo…


Đôi vợ chồng Ba Lan - Việt Nam


Đôi vợ chồng Pháp - Việt

PHẦN III: Cầu nguyện cho Nhân hòa

Trong khung cảnh lễ đài để một lư hương, mỗi tôn giáo lên lễ đài cầu nguyện, múc một thìa trầm hương để vào lư và cầu nguyện theo niềm tin tôn giáo của mình. Cầu cho quốc thái dân an, mọi người chung sống hòa bình và thế giới chấm dứt chiến tranh. Những khoảnh khắc lắng đọng và thánh thiêng nhất đã được ghi nhận ở giây phút này. Mọi người cùng hát “Xin cho con yêu thương mọi người, biết quên mình phục vụ anh em” sau mỗi lời nguyện. Cầu nguyện giúp mắt mọi người mở ra nhìn lên Trời cao, và lòng mọi người mở ra đón nhận nhau là anh em.


Ngày HNLT lần thứ VII khép lại với KINH HÒA BÌNH và bữa cơm chay thắm tình huynh đệ.

Ban Tổ Chức chân thành cảm ơn quý Đức Cha, quý Cha, quý Tu sĩ nam nữ, quý Đoàn Hội, quý Chức Sắc, chức việc, tín hữu của các tôn giáo đã hiện diện, chung tay làm nên thành quả của buội gặp gỡ.

Xin chân thành ghi nhận những đóng góp quý giá của Ban Mục Vụ Truyền Thông, Ban Mục Vụ Giới Trẻ, Phong trào Focolare, Cộng đoàn Lòng Chúa Thương Xót TGP, Hướng Đạo, nhân viên phụ trách âm thanh, Phòng học vụ và Cantin cùng biết bao đạo hữu âm thầm phục vụ hay cầu nguyện…


LỜI KẾT

Cảm nhận được hoa trái của cuộc gặp gỡ giữa tín đồ các tôn giáo tại thành phố: tình thân, hiểu biết và niềm vui hội ngộ, là ấn tượng chung của những đạo hữu tham dự, chứ không chỉ riêng anh chị em Công giáo. Ban Mục vụ đối Thoại Liên Tôn TGP SG chỉ biết trông lên Trời cao mà dâng lời tạ ơn Thiên Chúa Ba Ngôi, Mẹ Maria, chư thánh. Đồng thời xin trao gửi vào tâm trí mọi người tình thương mến như anh chị em một nhà.

Mong sao nhà nhà đều nghe được tiếng gọi Đối Thoại Liên Tôn như Thiên ý, người người cùng thực hành Đối Thoại Liên Tôn, để ai ai cũng sống và cảm nếm được NHÂN HÒA!

(Nguồn: ttmucvusaigon.org)

TGP SÀI GÒN: HỘI NGỘ LIÊN TÔN LẦN VII

Đóng góp của Kitô giáo cho tương lai của châu Âu



WHĐ (30.10.2017) – “Điểm đầu tiên và có lẽ là đóng góp lớn nhất mà người Kitô hữu có thể cống hiến cho châu Âu ngày nay là nhắc cho châu Âu nhớ rằng châu Âu không phải là một tập hợp các con số hay các tổ chức, nhưng được làm nên từ những con người”, đó là khẳng định của Đức giáo hoàng Phanxicô trong bài diễn văn quan trọng tại Hội nghị “Xem xét lại châu Âu. Đóng góp của Kitô giáo cho tương lai của dự phóng về châu Âu”.

Hội nghị là cuộc đối thoại cấp cao giữa Giáo hội và các nhà hoạt động chính trị do Uỷ ban các Hội đồng Giám mục trong Liên minh châu Âu (COMECE) tổ chức tại Roma từ 27 đến 29 tháng Mười 2017.

Theo thông cáo báo chí, tham dự Hội nghị này có khoảng 350 người, gồm 28 phái đoàn của tất cả các nước trong Liên minh châu Âu (EU), trong đó có các chính trị gia cấp cao của EU, các hồng y, các giám mục, linh mục, đại sứ, các học giả, đại diện của các tổ chức và nhiều phong trào Công giáo và các hệ phái Kitô giáo.

Đến tham dự Hội nghị lúc 17g30 thứ Bảy, 28-10, Đức giáo hoàng Phanxicô đã đọc một bài diễn văn khá dài; đây là diễn văn lớn thứ 5 của ngài về châu Âu.

Mở đầu bài diễn văn, Đức giáo hoàng nói rằng “Thật là ý nghĩa khi Hội nghị này trước hết muốn là một cuộc đối thoại trong tinh thần thảo luận tự do và cởi mở, để làm phong phú lẫn nhau và để làm sáng tỏ con đường tương lai của châu Âu, đó là con đường mà tất cả chúng ta được kêu gọi cùng đi với nhau để vượt qua cuộc khủng hoảng mà chúng ta đang phải đối mặt và trước những thách đố đang chờ đợi chúng ta”.

Khởi đi từ hình ảnh của Thánh Bênêđictô, bổn mạng của châu Âu, Đức giáo hoàng nói: “Thánh Bênêđictô không quan tâm đến vị trí xã hội, sự giàu có hay quyền lực của một người. Ngài căn cứ vào bản tính chung của mỗi con người, vốn luôn yêu mến sự sống và muốn sống hạnh phúc, dù họ ở trong hoàn cảnh nào. Đối với Thánh Bênêđictô điều quan trọng không phải là nhiệm vụ, nhưng là những con người, không phải là tính từ, mà là danh từ. Đây là một trong những giá trị cơ bản mà Kitô giáo mang lại: ý thức rằng con người được tạo dựng theo hình ảnh của Thiên Chúa. Nguyên tắc này dẫn đến việc xây dựng các tu viện, để rồi trở thành cái nôi của con người, của văn hoá, của sự phục hưng tôn giáo và kinh tế của lục địa này”.

Từ đó, Đức giáo hoàng nhấn mạnh đến hai đóng góp chính mà Kitô giáo cống hiến cho Châu Âu, và có thể trong tương lai nữa. Thứ nhất, “và có lẽ là sự đóng góp lớn lao nhất” của Kitô giáo đối với châu Âu là “nhắc cho châu Âu nhớ rằng châu Âu không phải là một tập hợp các con số hay các tổ chức, nhưng được làm nên từ những con người”. Tiếp theo,“nhìn nhận người khác trước hết là một con người nghĩa là đề cao điều liên kết tôi với người ấy. Sự kiện chúng ta là những con người nối kết chúng ta với người khác, làm cho chúng ta trở thành một cộng đồng. Vì thế, đóng góp thứ hai mà Kitô giáo có thể cống hiến cho tương lai của châu Âu là tái khám phá ý thức thuộc về một cộng đồng”.

Các Kitô hữu khám phá rằng “căn tính của họ trước hết có tính tương quan. Họ liên kết với người khác như những thành phần của một thân thể là Hội Thánh (x. 1 Cr 12,12), và mỗi người, với căn tính độc đáo và tài năng của mình, sẵn sàng chia sẻ vào công việc chung là xây dựng thân thể ấy”. 

Và “Gia đình, như cộng đoàn đầu tiên, vẫn là nơi cơ bản nhất của khám phá này. Nét đa dạng ở nơi gia đình được đề cao và đồng thời hiểu được trong sự hiệp nhất. Gia đình là sự kết hợp hài hoà những khác biệt giữa người nam và người nữ, sự kết hợp ấy càng xác thực và sâu xa hơn khi nó sinh sôi, có khả năng mở ra cho sự sống và cho người khác. Cũng vậy, một cộng đồng dân sự sẽ đầy sức sống nếu biết mở ra, nếu biết đón nhận sự đa dạng và tài năng của từng người, đồng thời nếu biết sản sinh sự sống mới, cũng như tạo ra phát triển, việc làm, đổi mới và văn hoá”.

“Như thế, con người và cộng đồng là những nền tảng của châu Âu mà người Kitô hữu chúng ta muốn và có thể đóng góp vào việc xây dựng những nền tảng ấy. Những viên đá của toà nhà này là: đối thoại, hòa nhập, liên đới, phát triển và hoà bình”.

Trong phần cuối diễn văn, Đức giáo hoàng trích dẫn Thư gửi Diognetus, một tài liệu có từ thời đầu của Kitô giáo, như sau: “linh hồn là gì đối với thể xác, thì người Kitô hữu đối với thế giới cũng như vậy” (Thư gửi Diognetus, VI). Và Đức giáo hoàng nói: “Lúc này, người Kitô hữu được kêu gọi mang lại cho cho châu Âu một linh hồn, thức tỉnh lương tâm của châu Âu, không phải để bành trướng –như thế là lôi kéo tín đồ– nhưng là để khuyến khích các tiến trình (x. Tông huấn Evangelii Gaudium, 223) sẽ tạo ra những động lực mới trong xã hội. Đây đúng là điều mà Đức Phaolô VI, không phải ngẫu nhiên, đã công bố Thánh Bênêđictô là bổn mạng của châu Âu: Thánh nhân không quan tâm đến việc bành trướng giữa một thế giới đang mất phương hướng và rối ren. Được đức tin nâng đỡ, ngài đã nhìn xa hơn và từ một hang động nhỏ Subiaco ngài đã khai sinh một phong trào có sức lan toả và lôi cuốn, vẽ lại khuôn mặt của châu Âu”.

Cuối cùng Đức giáo hoàng dâng lời cầu nguyện: “Xin thánh Bênêđictô –là sứ giả hoà bình, là người xây dựng sự hiệp nhất và bậc thầy của nền văn minh – cho chúng ta là những Kitô hữu của thời nay, hiểu rõ rằng một niềm hy vọng vui tươi, xuất phát từ đức tin, có thể thay đổi thế giới ra sao.

Minh Đức

Giám mục Colombia phản đối luật áp dụng eutanasia đối với trẻ vị thành niên


“Đó là sự vi phạm trầm trọng phẩm giá của con người”, Hội đồng Giám mục Colombia đã phê bình như thế về quyết định mới đây của Bộ Lập pháp Colombia, cho phép áp dụng "eutanasia" (giúp cho chết êm dịu) ngay cả với những trẻ em vị thành niên.

Trong thông cáo được đức cha chủ tịch Oscar Urbina – tổng giám mục giáo phận Villavicencio, đức cha Ricardo Tobón – tổng giám mục giáo phận Medellín và đức cha tổng thư ký Elkin Alvarez – giám mục phụ tá giáo phận Medellín, đồng ký tên, các đức cha nói rằng: “Chúng tôi nhận thấy rằng quyết định mới đây của Tòa án về việc điều chỉnh vấn đề này đi ngược với nguyên tắc của hiến pháp là bảo vệ sự sống (điều 11) và mở ra một thực tế là xã hội đi đến chỗ hợp pháp hóa việc loại trừ một số người, đặc biệt những người yếu đuối và cần được giúp đỡ.”

Các đức cha mời gọi nhấn mạnh rằng sự sống là món qua vĩ đại tuyệt vời của Chúa và yêu cầu dùng mọi nỗ lực để bảo vệ các phúc lợi tương xứng, hiệu quả và nhân bản trong chăm sóc sức khỏe, gia tăng các hoạt động đồng hành và giảm nhẹ đau đớn cho bệnh nhân.

Cuối cùng, các giám mục kêu gọi các nhà làm luật và những người hoạt động trong lãnh vực y tế nhớ lời mời gọi của Đức Giáo hoàng Phanxicô để có “những quyết định can đảm và đi ngược dòng” để bảo vệ sự sống, đặc biệt của người nghèo và yếu đuối nhất.

Tại Colombia, eutanasia (làm chết êm dịu) đã được hợp pháp hóa từ năm 2015, nhưng chỉ đối với người trưởng thành. Vì vậy, bộ lập pháp đã yêu cầu “điền vào luật còn trống” này. Theo các quan tòa, trên thực tế, việc “cung cấp cái chết” tránh cho những trẻ vị thành niên khỏi những phương pháp điều trị độc ác và vô nhân đạo.

Luật pháp đòi phải đáp ứng những yêu cầu cụ thể: đó phải là một người bệnh ở giai đoạn cuối, bày tỏ sự ưng ý và tự do, được thông báo rõ ràng và nếu bệnh nhân không thể diễn tả ý mình rõ ràng thì sự chấp thuận của người đại diện phải được đánh giá nghiêm ngặt. (REI 27/10/2017)

Hồng Thủy