Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Năm, 5 tháng 1, 2017

Những thông tin lạc quan trong lĩnh vực tôn giáo của năm 2016

Đức giáo hoàng Phanxicô và Imam Ahmed Muhammad Al-Tayyib

WHĐ (02.01.2017) – Năm 2016 đã khép lại, bên cạnh những thông tin bi quan về những khủng hoảng và xung đột, vẫn có những thông tin đem lại niềm lạc quan, đặc biệt trong lĩnh vực tôn giáo; có thể kể ra các sự kiện:

1. Đức giáo hoàng tiếp tục đối thoại với Hồi giáo

Ngày thứ Hai 23 tháng Năm 2016 tại Vatican, Đức giáo hoàng Phanxicô đã tiếp kiến Sheik Ahmed Muhammad Al-Tayyib, Imam của Thánh đường Hồi giáo Al-Azhar. Đức giáo hoàng và vị Imam đã đề cao “ý nghĩa to lớn của cuộc gặp gỡ này trong khuôn khổ cuộc đối thoại giữa Giáo hội Công giáo và Hồi giáo”. Hai vị cũng nói đến “sự dấn thân chung của các vị lãnh đạo và các tín đồ của các tôn giáo lớn cho nền hoà bình thế giới, từ bỏ bạo lực và khủng bố, tình hình của các Kitô hữu trong bối cảnh xung đột và căng thẳng ở Trung Đông và việc bảo vệ họ”.

2. Đức giáo hoàng tham dự lễ kỷ niệm 500 năm Cuộc Cải Cách Tin Lành

Sự kiện chính trong lễ kỷ niệm 500 năm Cuộc Cải Cách tại Lund (Thụy Điển) là Tuyên bố chung được ký ngày 31-10-2016 giữa Đức giáo hoàng Phanxicô và Giám mục Mounib Younan, Chủ tịch Liên hiệp Tin Lành Luther thế giới.

Trong Tuyên bố chung được ký ở Nhà thờ chính toà Luther sau buổi Cầu nguyện đại kết, hai vị lãnh đạo Giáo hội nhận định rằng 50 năm đối thoại kiên trì và hiệu quả giữa người Công giáo và người Tin Lành Luther đã giúp hai bên vượt qua nhiều khác biệt, củng cố sự hiểu biết và tin tưởng lẫn nhau và đã xích lại gần nhau qua việc cùng phục vụ những người đang chịu đau khổ và bị bách hại. Hai bên khẳng định rằng “những gì liên kết chúng tôi thì lớn hơn những điều gây chia rẽ”.

Nhìn nhận đã làm tổn thương sự hiệp nhất hữu hình của Giáo hội, hai bên cùng nhau cam kết dứt khoát loại bỏ mọi hận thù và bạo lực, trong quá khứ cũng như hiện tại, đặc biệt là khi nó mang danh nghĩa tôn giáo.

Cuối cùng, hai nhà lãnh đạo kêu gọi người Công giáo và người Tin Lành Luther trên toàn thế giới tiếp tục dấn thân hợp tác và củng cố tình đoàn kết, cầu nguyện với nhau, lắng nghe nhau bằng cách sống tình yêu của Chúa Kitô trong các mối tương quan, để trở nên những sứ giả trung thành của tình yêu vô biên của Thiên Chúa cho toàn thể nhân loại.

3. Công đồng Toàn Chính Thống

Đại Công đồng thánh Toàn Chính Thống đã diễn ra ở Kriti (Hy Lạp) từ ngày 19 đến 26 tháng Sáu 2016; đây là Công đồng đầu tiên của Chính Thống giáo kể từ cuộc đại ly khai vào năm 1054. Kết thúc Công đồng, 200 nhà lãnh đạo và giám mục của 10 (trong 14) Giáo hội tự trị đã gửi cho thế giới một sứ điệp mang tính “ngôn sứ” với một ngôn ngữ “rõ ràng và đơn giản”.

Ngay từ các các đoạn đầu tiên của sứ điệp này, các Giáo hội Chính thống đã nhấn mạnh “tầm quan trọng đặc biệt” của cuộc đối thoại với các Kitô hữu khác. Tiếp theo là một lời mạnh mẽ gửi đến “những quyền lực mạnh mẽ trên trái đất”, kêu gọi hãy ngừng lại “việc bành trướng bạo lực quân sự”. Đặc biệt các Giáo hội Chính thống đòi hỏi phải bảo vệ các Kitô và các nhóm thiểu số bị đàn áp tại Trung Đông. Cuộc khủng hoảng người tị nạn vốn gây chia rẽ châu Âu và liên hệ đến nhiều quốc gia Chính thống giáo cũng là trung tâm của những mối quan tâm. Ngoài ra, sứ điệp còn đề cập đến một vấn đề lớn của Chính thống giáo ở đầu thế kỷ XXI này là tính độc lập của Giáo hội đối với chính quyền. Cuối cùng, một quan điểm toàn cầu của Giáo hội Chính thống lần đầu tiên được sứ điệp này nêu ra là về mối liên hệ giữa cuộc khủng hoảng sinh thái và khủng hoảng về mặt thiêng liêng, và cả những rủi ro mà một nền kinh tế “trở thành mục đích tự tại” đem đến cho con người, hay một nền khoa học thoát khỏi mọi đạo đức.

4. Người Hồi giáo ở Villeneuve-d’Ascq cầu nguyện cho cha Jacques Hamel

Thánh đường Hồi giáo Villeneuve-d’Ascq thuộc vùng Nord-Pas-de-Calais ở miền Bắc nước Pháp đã dành ngày thứ Sáu 29 tháng Bảy để cầu nguyện cho cha Jacques Hamel, người vừa bị sát hại 3 ngày trước tại nhà thờ Saint-Etienne-du-Rouvray ở gần Rouen, khi ngài đang cử hành Thánh lễ.

Tại buổi cầu nguyện quy tụ gần 400 tín đồ Hồi giáo, những người tham dự đã nghe đọc một thông cáo của các thánh đường Hồi giáo phía Bắc và dành một phút im lặng. Ngoài ra họ cũng có một lời cầu nguyện đặc biệt cho các nạn nhân của các vụ tấn công ở Bataclan (Pháp) hồi tháng Năm 2015.

Mohammed El Mokhtari, tổng thư ký của Thánh đường Hồi giáo Villeneuve-d’Ascq Mokhtari nhấn mạnh: “Chúng tôi rất nhạy cảm với tất cả những bi kịch quốc gia”. Ông cũng ủng hộ đề nghị của Hội đồng phượng tự Hồi giáo nước Pháp (CFCM) mời người Hồi giáo tham dự một Thánh lễ vào Chúa nhật 31-07, để tỏ tình liên đới với các Kitô hữu:“Tại Villeneuve-d’Ascq, chúng tôi đang thực hiện sự liên đới này từ nhiều năm nay. Tôi hoan nghênh phát biều gần đây của Đức giáo hoàng, ngài nói rằng chúng ta đang sống trong chiến tranh nhưng không phải chiến tranh tôn giáo”.

5. Kết thúc tháng chay Ramadan của Hồi giáo trong tình huynh đệ liên tôn

Ngày 07 tháng Bảy 2016, tại Lahore (Pakistan) các linh mục, các học giả, trẻ em, sinh viên của các trường Hồi giáo, phụ nữ và người trẻ, người Hồi giáo, Kitô giáo, Ấn giáo và người Sikh, đã tham dự bữa ăn Iftar kết thúc tháng chay Ramadan của Hồi giáo do Hội đồng Toà Thánh Đối thoại Liên tôn tổ chức.

Cuộc gặp gỡ bắt đầu với việc công bố các đoạn Kinh Thánh và Kinh Coran, do các người Kitô hữu và người Hồi giáo đọc, sau đó mỗi người đọc các kinh nguyện theo tôn giáo của mình.

Mọi người tham dự đã đưa ra lời kêu gọi “toàn thể đất nước hãy sống trong hoà bình”. Họ cầu nguyện cho sự tiến bộ, thịnh vượng và hoà bình của đất nước cũng như cho các lực lượng vũ trang trong cuộc chiến chống khủng bố.

Trước đó, ngày thứ Sáu 17 tháng Sáu, hưởng ứng lời mời gọi của Đức Tổng giám mục Louis Raphael I Sako, Thượng phụ Công giáo Babylon (nghi lễ Canđê), nhiều Kitô hữu Iraq cũng đã cùng ăn chay một ngày trong tháng Ramadan với những người Hồi giáo đồng hương. Hành động này nhằm thể hiện tình đoàn kết với tất cả những người Hồi giáo đang ăn chay và cầu nguyện để xin ơn hoà bình và ổn định cho Iraq và cho toàn vùng Trung Đông.

Minh Đức
Nguồn: http://hdgmvietnam.org/nhung-thong-tin-lac-quan-trong-linh-vuc-ton-giao-cua-nam-2016/8498.57.7.aspx

Thứ Tư, 4 tháng 1, 2017

Sách Nhịp Sống Tin Mừng số đầu tiên

WGPSG -- Được sự hướng dẫn và chuẩn nhận của Đấng Bản Quyền, sách NHỊP SỐNG TIN MỪNG (NSTM) số đầu tiên đã ra mắt quý Độc giả với ý hướng trình bày nội dung Tin Mừng có liên quan sâu sắc hơn đến cuộc sống đang diễn ra chung quanh, những chuyên đề phong phú thích hợp hơn, cùng hình thức tươi đẹp hấp dẫn hơn.
Sách Xuân Đinh Dậu và Năm Mới 2017 của NSTM gồm các phần:
-  TRANH CHỦ ĐỀ (tác phẩm của hoạ sĩ Pompeo Batoni về Mùa Xuân của Thánh Gia) và TRUYỆN TRANH (Thiên Chúa sáng tạo trời đất) để dẫn vào TIN MỪNG CHO THIẾU NHI, VĂN HOÁ TIN MỪNG, TIN MỪNG CHO NGƯỜI TRẺ và TIN MỪNG & BỐI CẢNH THỜI CHÚA GIÊSU.
BỐI CẢNH THỜI SỰ để dẫn vào GIA ĐÌNH & MÔI TRƯỜNG, GIÁO XỨ TRUYỀN GIÁO  TIN MỪNG THÁNH HIẾN.
Như vậy, phần TIN MỪNG TRONG PHỤNG VỤ (trong các sách TIN MỪNG CHÚA NHẬT trước đây - tiền thân của NSTM) đã được thay thế bằng TIN MỪNG & BỐI CẢNH THỜI CHÚA GIÊSU: trình bày Tin Mừng của các Chúa nhật & Lễ trọng trong tháng - cùng với những bối cảnh văn hoá Israel có liên quan đến những đoạn Tin Mừng ấy. Kết thúc mỗi bài suy niệm, độc giả được mời nhìn ngắm “Dung nhan Giêsu” và thưởng thức “Niềm Vui Tin Mừng” trước khi đi vào BỐI CẢNH THỜI SỰ rất đa dạng của ngày hôm nay.
Đặc biệt trong Số Xuân của NSTM này có các bài:
- Tết Xưa và Tông huấn Niềm Vui của Tình Yêu
- Năm Gà
- Những lời Chúc Xuân tuyệt diệu
- Chuyện tình muốn kể
- “Đấu trường Sinh Tử” và “Ngày Mai”
- Tin Mừng & Bối cảnh thời Chúa Giêsu
- Thời sự Công Giáo đáng nhớ
- Năng quyền xá giải vạ tuyệt thông tiền kết do tội phá thai
- Những kỷ niệm trên đường truyền giáo
- Giáo xứ Nữ Vương Hòa Bình
- Người tu sĩ với Chữ Hiếu.
Trong 3 năm (2017-2019), NSTM sẽ triển khai các chủ đề liên quan đến Gia Đình theo đề xuất của Hội đồng Giám mục Việt Nam.
Giá bán NSTM (4 trang bìa cứng 4 màu, 8 trang hình ảnh nghệ thuật thánh và truyện tranh Kinh thánh 4 màu, 96 trang nội dung 2 màu, in offset):

• 1 cuốn: 15.000 đồng;
• đặt mua trước cho cả năm (12 cuốn): 170.000 đồng;
• mua mỗi số từ 100 đến 500 cuốn: giảm 10% giá bán;
• mua mỗi số từ 501 đến 1000 cuốn: giảm 20% giá bán;
• nhận báo qua bưu điện: cộng thêm chi phí bưu điện.

Xin liên lạc tại:
Trung tâm Mục vụ TGP. Sài Gòn -TPHCM
  6bis Tôn Đức Thắng, Quận 1, TP.HCM,
   ĐT: 0909.459.222 (cô Thăng), (08)3600.7654, (08)3911.8864;
Toà Tổng Giám mục Sài Gòn -TPHCM
  180 Nguyễn Đình Chiểu, Quận 3, TP.HCM,
   ĐT: (08)3930.0492, (08)3930.4523.
Ban Biên tập rất mong quý Độc giả ủng hộ, gửi bài viết cũng như ý kiến đóng góp, để cùng nhau, chúng ta góp phần làm cho Lời Chúa đến được với nhiều người hơn.
Chân thành cám ơn quý Độc giả.
Ban Biên tập NHỊP SỐNG TIN MỪNG
Nguồn: http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20161228/37395

Các vụ Đức Mẹ hiện ra


** Khi tìm hiểu về Đức Mẹ, chúng ta không thể không đề cập đến các vụ Đức Mẹ hiện ra đó đây trên thế giới. Trong lịch sử dài hơn 2.000 năm của Kitô giáo có hàng ngàn vụ Đức Mẹ hiện ra, đó đây trên thế giới, nhưng chỉ có một số ít được Giáo Hội chính thức công nhận. Nhiều vụ hiện ra khác tuy không được chính thức công nhận, nhưng Giáo Hội cho phép tín hữu sùng kính và lui tới hành hương.


Rất nhiều đền thánh hay trung tâm hành hương nổi tiếng trên thế giới đã được xây cất kính nhớ các biến cố Đức Trinh Nữ Maria hiện ra. Chẳng hạn như tại Lourdes miền nam nước Pháp, Đức Đức Mẹ đã hiện ra với chị Bernadette Soubiroux năm 1858, và tại Fatima bên Bồ Đào Nha với ba trẻ mục đồng Lucia, Giacinta và Phanxicô năm 1917. Bên Mỹ châu Latinh biến cố Đức Mẹ hiện ra trên đồi Tepeyac bên Mehicô năm 1531 với ông Juan Diego Cuauhtlatoatzin, một thổ dân Aztec, làm nảy sinh ra đền thánh Đức Bà Guadalupe. Năm 1717 Đức Mẹ không hiện ra tại Aparecida bên Brasil, nhưng một nhóm dân chài đã tìm thấy một tượng Đức Mẹ nổi tiếng làm phép lạ làm nảy sinh ra đền thánh vĩ đại như chúng ta thấy hiện nay.

Các đền thánh nổi tiếng này hằng năm thu hút hàng triệu tín hữu và du khách hành hương đến cầu nguyện và kính viếng: 12 triệu tại Aparecida, 7 triệu tại Guadalupe, hơn 7 triệu tại Fatima, 5 triệu tại Lourdes.

Tại Việt Nam Đức Mẹ đã hiện ra với một số tín hữu bị bách hại chạy trốn vào rừng La Vang năm 1798. Đức Mẹ cũng hiện ra che chở tín hữu tại Trà Kiệu, khi họ bị 4.000 quân Văn Thân vây hãm năm 1855.

Tại Roma đêm mùng 4 rạng ngày mùng 5 tháng tám năm 352 Đức Mẹ hiện ra với ĐGH Liberio và với nhà quyền quý Giovanni, xin xây một nhà thờ kính Mẹ. Khi ĐGH hỏi: “Mẹ muốn xây ở đâu?”, thì Đức Mẹ trả lời sáng ngày mai con thấy tuyết rơi ở đâu thì xây nhà thờ ở đó”. Quả nhiên sáng mùng 5 tháng 8 năm 352 tuyết rơi ngay giữ mùa hè trên đồi Esquilino, và ĐGH đã cho xây Đền Thờ Đức Bà Cả ở đó. Gọi là Đức Bà Cả vì nó là đền thờ lớn nhất đầu tiên kính Đức Mẹ bên Tây Phương. Nhưng vì sự tích tuyết rơi nên đền thờ cũng còn được gọi là Đền thờ Đức Bà xuống tuyết. Hiện nay vào mỗi ngày mùng 5 tháng 8 lễ kính Đức Bà xuống tuyết vẫn được cử hành long trọng tại đây. Đền thờ cũng còn được gọi là đền thờ máng cỏ, vì có giữ hai thanh gỗ lấy ở máng cỏ Bếtlêhem.

** Tại Tre Fontane ở ngoại ô Roma ngày 12 tháng 4 năm 1947 Đức Mẹ cũng hiện ra với ông Bruno Cornacchiola và ba đứa con nhỏ của ông. Ông Bruno sinh năm 1913 và qua đời năm 2001. Ông đã từng tham chiến bên Tây Ban Nha và bị một binh sĩ gốc Đức lôi kéo theo Tin Lành Adventist và chống Giáo Hội công giáo. Ngày 12 tháng 4 năm 1947 ông đưa ba con đến ngọn đồi nhỏ ở Tre Fontane để chuẩn bị một diễn văn đả kích giáo lý của Giáo Hội Công Giáo liên quan tới sự trọn đời đồng trinh của Đức Maria, sự vô nhiêm nguyên tội và hồn xác lên trời. Gianfranco, đứa con trai bé nhất của ông, chơi chạy theo trái banh lọt vào trong một hang đá. Ông tìm thấy con qùy gỗi xuất thần trước hang đá miệng lẩm bẩm :”Bà Đẹp”. Hai đứa con khác cũng xuất thần quỳ xuống. Ông vào trong hang đá và trông thấy Đức Maria mặc áo trắng, thắt lưng mầu hồng có áo choàng xanh, tay ôm cuốn Thánh Kinh, biểu tượng cho sự mạc khải và nói với ông: “Ta là Đức Trinh Nữ của sự mạc khải. Con bách hại Ta. Bây giờ đủ rồi! Hãy vào trong chuồng chiên. Điều Thiên Chúa hứa là không thể thay đổi: chín thứ sáu kính Thánh Tâm mà vì tình yêu vợ ngưòi vợ trung thành của con đã thôi thúc con làm trước khi con vĩnh viễn theo con đường của lầm lạc, đã cứu con”. Khi nghe vậy, ông Bruno cảm thấy niềm vui sâu thăm trong tâm hồn, và ngửi thấy một mùi thơm êm dịu trong hang đá. Trước khi từ biệt Đức Mẹ cho ông một dấu chỉ để ông không còn nghi ngờ nguồn gốc thiên linh của thị kiến: đó là cuộc găp gỡ của ông với một linh mục. Và sự việc đã xảy ra như Đức Mẹ báo trước. Sau khi khước từ sai lầm, ông lại được tiếp nhận vào cộng đoàn công giáo. Ông cũng kể là đã trông thấy Đức Mẹ hiện ra trong các ngày mùng 6, 23 và 30 tháng 5 năm đó. Ngày mùng 9 tháng 12 năm 1949 khi gặp ĐGH Piô XII ông đã xưng thú là mưởi năm trước, khi từ cuộc nội chiến bên Tây Ban Nha về, ông đã có dự tính giết ngài. Theo miêu tả của ông một bức tượng đã được tạc và đặt trong hang đá. Cũng có một bảng khắc lời ông nói ghi nhớ biến cố Đức Mẹ hiện ra ngày 12 tháng 4 năm 1947. Tuy không được Giáo Hội chính thức công nhận, nhưng năm 1956 ĐGH Pio XII cho phép xây một nhà nguyện nhỏ kính Đức Mẹ và giao cho các tu sĩ Phanxicô viện tu trông coi. Năm 1997 ĐGH Gioan Phaolô II chấp thuận tên gọi nơi đây là “Thánh Maria của Ngàn năm thứ ba ở Tre Fontane”. Đã có rất nhiều tín hữu nhận đưọc các ơn lành với hàng ngàn tấm bảng tạ ơn Đức Mẹ.

** Thật ra, Đức Mẹ ra hiện ra tại rất nhiều nơi trên thế giới, và các vụ hiện ra đó đã đưọc thu thập trong hai cuốn sách dầy. Chúng chứng tỏ cho thấy tình yêu thương của Đức Maria Mẹ Thiên Chúa đối với tín hữu và con cái loài người. Đức Mẹ có thể hiện ra với một người hay nhiều người. Các vụ hiện ra có thể xảy ra một lần hay nhiều lần, tại những nơi chốn và thời điểm khác nhau. Thông thường chúng mang tên nới chốn xảy ra, hay từ tên do Đức Mẹ tỏ lộ cho trong lần hiện ra đó, hoặc từ khía cạnh được miêu tả. Đây là hiện tượng rất thường xảy ra trong lịch sử của Kitô giáo kể từ thế kỷ thứ IV và gia tăng mạnh mẽ trong thế kỷ XIX, và nhất là trong thế kỷ XX.

Theo từ điển Công giáo việc Đức Mẹ hiện ra là một thị kiến mà một hay nhiều người cho rằng họ đã trông thấy Đức Maria, Mẹ Chúa Giêsu Kitô, trong cử chỉ hướng tới họ với lời nói hay cử chỉ. Trong trường hợp trong đó các khẳng định được trình bầy không có thực tại hay hình ảnh, mà chỉ có trong hình thức các lời loan báo thôi, thì từ diễn tả đúng đắn nhất là kiểu nói, như xảy ra trong các kinh nghiệm thần bí, liên quan tới các sứ giả khác với Đức Maria.

Say đây là một số vụ Đức Mẹ hiện ra đã được Giáo Hội chính thức chấp nhận: Đức Bà Canh Giữ tại Genova tây bắc Italia năm 1490; Đức Bà Guadalupe bên Mêhicô năm 1531; Đức Bà Laus bên Pháp trong các năm 1664-1718; Đức Bà cứu giúp Champion bên Hoa Kỳ năm 1859; Đức Bà Aparecida bên Brasil năm 1717; các vụ hiện ra với bà thánh Caterina Labouré bên Paris năm 1830 cũng gọi là Đức Bà Mề đai phép lạ; Đức Bà Phép Lạ hiện ra với Alphonse Marie Ratisbone tại Roma năm 1842; Đức Bà La Salette bên Pháp năm 1846; Đức Bà Lộ Đức bên Pháp năm 1858; Đức Bà Pontmain bên Pháp năm 1871; Đức Bà Gietrzwald bên Ba Lan năm 1877; Đức Bà Knock bên Ailen năm 1879; Đức Bà Fatima bên Bồ Đào Nha năm 1917; Đức Bà Beauraing bên Bỉ năm 1932-1933; Đức Trinh Nữ người nghèo tại Banneux bên Bỉ năm 1933; Đức Bà của mọi dân tộc tại Amsterdam bên Hoà Lan 1945-1959; Đức Bà Akita bên Nhật Bản năm 1973; Đức Maria Trinh Nữ và là Mẹ Hoà Giải mọi dân tộc và quốc gia tại Finca Betanaia bên Venezuela năm 1976; Đức Bà Kibeho bên Rwanda năm 1981; Đức Bà Mân Côi của thánh Nicolas bên Argentina năm 1983.

** Ngoài ra Giáo Hội cũng chính thức thừa nhận các vụ hiện ra sau đây: Nữ Vương các Thánh hay phép lạ thánh Ciriaco tại Ancona trung Italia năm 1796; Đức Bà làm phép lạ tại Taggia năm 1855; Đức Bà khóc tại Siracusa trên đảo Sicilia nam Italia năm 1953.

Liên quan tới các vụ Đức Mẹ hiện ra với thánh nữ Caterina Labouré năm 1830 tại Rue du Bac bên Paris, đã không thể có chứng tá của chị, nhưng bắt đầu từ thời ĐGH Gregorio XVI Giáo Hội có thái độ thuận tiện đối với Mề Đai làm phép lạ.

Có nhiều vụ hiện ra khác nữa tuy không được Giáo Hội chính thức thừa nhận, nhưng được phép sùng kính Đức Mẹ. Trong đó có Đức Bà Caravaggio bên Italia năm 1432; Thánh Maria tại Parete vùng Liveri Napoli, nam Italia năm 1514; Đức Bà các Thiên Thần tại Arcola năm 1556; Đức Bà Coromoto bên Venezuela năm 1652; Đức Bà của Lòng Thương Xót tại Rimini năm 1850; Đức Maria Rất Thánh Sầu Bi tại Castelpetroso Italia năm 1888; Đức Trinh Nữ Sầu Bi bên Quito năm 1906; Đức Bà Đá Tảng tại Belpasso 1981-1986.

Ngày 25 tháng 2 năm 1978 Bộ Giáo Lý Đức Tin đã công bố tài liệu “Các điều lệ việc tiến hành phán xử các vụ hiện ra hay các mặc khải trong đó có các khoản sau đây: ĐGM sở tại có thể bắt đầu một tiến trình do sáng kiến riêng của mình hay vi lởi xin của một tin hữu để điều tra các sự kiện liên quan tới một vụ hiện ra. Giám Mục có thể không xem xét vụ hiện ra nếu muốn, đặc biệt khi nghĩ rằng câu chuyện sẽ không đi đến đâu. Hội Đồng Giám Mục có thể can thiệp nếu Giám Mục sở tại yêu cầu, hay nếu biến cố trở thành quan trọng trên bình diện quốc gia, hay ít nhất trên bình diện rộng rãi hơn một giáo phận. Cả Toà Thánh cũng có thể can thiệp, nếu có lời xin của chính Giám Mục sở tại, hay do lởi thỉnh cẩu của một nhớm tín hữu, hay do sáng kiến của Toà Thánh muốn điều tra vụ hiện ra.

TMH 495

Linh Tiến Khải
Nguồn: http://vi.radiovaticana.va/news/2016/12/30/c%C3%A1c_v%E1%BB%A5_%C4%91%E1%BB%A9c_m%E1%BA%B9_hi%E1%BB%87n_ra/1282572

Trung Quốc: Nhà cầm quyền muốn Giáo hội Công giáo “độc lập” với Roma




WHĐ (03.01.2017) – TRUNG QUỐC: Từ 27 đến 29 tháng Mười Hai vừa qua, hơn 350 đại biểu đã quy tụ tại Bắc Kinh, tham dự Đại hội toàn quốc của Giáo hội được chính quyền công nhận, dưới sự chỉ đạo của các quan chức chính quyền.

Nội dung Đại hội tại Bắc Kinh

“Đại hội toàn quốc lần IX các đại biểu Công giáo” diễn ra từ ngày 27 đến 29 tháng Mười Hai, trong đó có 59 giám mục, theo yêu cầu của “Mặt trận thống nhất”, cơ quan thuộc chính quyền có nhiệm vụ giám sát các tôn giáo được công nhận tại Trung Quốc. Các đại biểu có nhiệm vụ chỉ định những người đứng đầu Hội Công giáo Yêu nước và hàng giám mục “chính thức”, quy tụ thành “Hội đồng Giám mục Trung Quốc” vốn không được Vatican thừa nhận.

Đại hội này rõ ràng là “một tổ chức được chính quyền Trung Quốc lập ra và điều khiển theo ý muốn của mình”, theo phân tích của Églises d’Asie, cơ quan thông tấn của Hội Thừa sai Paris. Trong số tám giám mục được tấn phong không được Roma chấp thuận, có sáu người tham gia ban lãnh đạo Hội đồng Giám mục và Hội Công giáo Yêu nước.

Qua Đại hội, Bắc Kinh muốn nhắn nhủ gì?

Người Công giáo phải “hoà nhập hơn nữa vào xã hội”, phải “kết hợp tinh thần ái quốc với lòng nhiệt thành đối với Giáo hội”, và “đoàn kết nhằm góp phần xây dựng chủ nghĩa xã hội mang đặc trưng Trung Quốc”, là những nội dung được ông Du Chính Thanh, một quan chức cao cấp trong chế độ cộng sản, Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương Chính trị Nhân dân Trung Quốc, nêu lên trong Đại hội này, và được cơ quan thông tin chính thức của Trung Quốc dẫn lại. Giáo hội Trung Quốc “phải tuân thủ nguyên tắc tự quản, tự mình lo liệu các việc đạo một cách độc lập và thúc đẩy các tín hữu hưởng ứng tiến trình ‘Trung Quốc hoá’ tôn giáo”, quan chức này nói thêm.

“Đằng sau hai ý niệm độc lập và Trung Quốc hoá này, chính là chính sách tôn giáo xuyên suốt của Đảng Cộng sản: các tôn giáo tại Trung Quốc chỉ được thừa nhận nếu không có bất kỳ mối liên hệ nào với mọi thế lực bên ngoài”, Églises d’Asie giải thích. Trung Quốc “hy vọng Vatican sẽ có cách tiếp cận mềm dẻo và thực tế hơn nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho việc cải thiện các quan hệ với chúng tôi, qua những hành động cụ thể”, ông Vương Tác An, Tổng cục trưởng Tổng cục Tôn giáo quốc gia, nhấn mạnh trong tuần này, và kêu gọi “một cuộc đối thoại xây dựng” với Roma. 

Phản ứng của Vatican

Hôm Chúa nhật 01-01-2017, Vatican đã không có những phản ứng chính thức trước những tuyên bố này. Nhưng trong một tuyên bố được đưa ra 10 ngày trước đó về tình trạng Giáo hội Công giáo tại Trung Quốc, Toà Thánh nhấn mạnh rằng: “tất cả tín hữu Công giáo tại Trung Quốc đang nôn nóng chờ đợi các dấu hiệu tích cực”.

Ông Greg Burke, Giám đốc Phòng Báo chí Toà Thánh, cho biết Toà Thánh còn chờ những tuyên bố của Đại hội Công giáo toàn quốc lần IX của Trung Quốc, và như thế Toà Thánh đang chứng tỏ thiện chí của mình. “Toà Thánh chờ đợi xem xét những gì đã được chứng minh trong thực tế”, ông nhấn mạnh.

Bang giao giữa Bắc Kinh và Vatican đang đi về đâu?

Những tuyên bố mới đây của Bắc Kinh rõ ràng gây cản trở những nỗ lực của Vatican nhằm tăng cường việc xích lại gần nhau trong những tháng gần đây.

Vatican và Bắc Kinh chính thức không còn quan hệ ngoại giao với nhau từ năm 1951. Từ lúc được bầu làm giáo hoàng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã có nhiều động thái đối với Trung Hoa, coi đây là một trong những mối quan hệ ngoại giao được ưu tiên trong triều đại giáo hoàng của ngài. Từ tháng Giêng 2016, các phái viên của Bắc Kinh và Vatican đã gặp nhau ít nhất bốn lần nhằm tìm sự đồng thuận về vấn đề gai góc là việc bổ nhiệm giám mục. Theo tờ Wall Street Journal, một bản dự thảo hiệp định đã từng được đệ trình Đức Thánh Cha vào đầu tháng Mười Một, khi ngài từ Thụy Điển trở về, dự kiến Roma chấp nhận tám giám mục của Giáo hội chính thức vốn đến nay chưa được Roma thừa nhận.

Đầu tháng Mười Hai, lại xuất hiện những căng thẳng sau khi giám mục Lôi Thế Ngân, do chế độ cộng sản đặt lên, tham dự lễ tấn phong của hai giám mục được Toà Thánh bổ nhiệm. Được biết, Lôi Thế Ngân là giám mục thuộc Giáo hội “chính thức” (của nhà nước), năm 2011 đã được truyền chức bất hợp pháp, không nhận được sự cho phép của Đức giáo hoàng, và vì thế đương nhiên bị vạ tuyệt thông.

(Nguồn: La Croix) 
Thành Thi chuyển ngữ
Đăng lại từ: http://hdgmvietnam.org/trung-quoc-nha-cam-quyen-muon-giao-hoi-cong-giao-%E2%80%9Cdoc-lap%E2%80%9D-voi-roma/8499.57.7.aspx

Thứ Hai, 2 tháng 1, 2017

Ý chỉ cầu nguyện truyền giáo tháng giêng 2017


Trong tháng giêng năm 2017 ĐTC mời gọi chúng ta cầu cho mọi kitô hữu trung thành với giáo huấn của Chúa, biết sống đời cầu nguyện và bác ái huynh đệ để tái lập sự hiệp thông trọn vẹn trong Giáo Hội, bằng cách cộng tác để đáp trả lại các thách đố hiện nay của nhân loại.

Kể từ khi được Chúa Giêsu Kitô thành lập cách đây hơn 2.000 năm, Kitô giáo đã trải qua nhiều cuộc khủng hoàng và chia rẽ. Ngay trong các thế kỷ đầu đã nảy sinh ra các lạc giáo liên quan tới thiên tính và nhân tính của Chúa Kitô. Và sự hiệp nhất hữu hình của Kitô giáo đã chỉ kéo dài cho tới năm 1054, khi hai Giáo Hội Đông Tây ra vạ tuyệt thông cho nhau, làm nảy sinh ra khối Giáo Hội Chính Thống. Các Giáo Hội Chính Thống đều là các Giáo Hội tự quản mà không có một cơ cấu trung ương hiệp nhất như trong Giáo Hội Công Giáo. Hơn thế nữa vào đầu thế kỷ XVI, lại xảy ra vụ Cải Cách do Martin Luther khởi xướng năm 1517. Đây là Phong trào phản đối cung cách sống xa rời Tin Mừng trong Giáo Hội, cách riêng là trong giáo triều Roma thời đó. Phong trào phản đối này sau đó được gọi chung là Tin Lành. Mười sáu năm sau vụ ly giáo của Luther (1533) vua Enricco VIII thành lập Giáo Hội Anh giáo, phủ nhận quyền của Đức Giáo Hoàng và tách rời khỏi Công Giáo. Với thời gian qua đi khối Tin Lành phân chia thành nhiều Giáo Hội Kitô khác nhau và hàng ngàn giáo phái kitô lớn nhỏ, có khi chỉ có vài chục ngàn tín hữu. Hiện tượng này rất thịnh hành bên Hoa Kỳ và lan sang nhiều nước Phi châu, Á châu và châu Mỹ Latinh. Các giáo phái này hoạt động mạnh để chiêu dụ tín đồ, thường khi đi kèm với các trợ giúp tiền bạc và vật chất đủ loại.

Kể từ thập niên 1950 và nhất là từ thời Công Đồng Chung Vaticăng II phong trào đại kết nảy sinh với nhiều sinh hoạt và cơ cấu khác nhau nhắm mục đích tìm hiệp nhất các kitô hữu. Hội đồng Toà Thánh hiệp nhất các kitô hữu đã được thành lập cho mục đích này. Trong 50 năm qua Uỷ ban đã có các cuộc đối thoại song phương với các Giáo Hội Kitô khác nhau và đã đạt được nhiều thành quả, giúp các Giáo Hội Kitô hiểu biết nhau và xích lại gần nhau hơn. Tuy nhiên, các hệ lụy chính trị, kinh tế, xã hội văn hóa và các khác biệt quan điểm thần học, tín lý và luân lý phát triển dọc dài các thế kỷ chia rẽ và xa cách nhau đã khiến cho cuộc đối thoại tìm về hiệp nhất bị trì trệ và còn rất nhiều vấn đề chưa tìm ra giải đáp.

Trong các khác biệt thần học và tín lý có vấn đề quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo Roma, mà các Giáo Hội Chính Thống và các Giáo Hội ly khai đã không bao giờ thừa nhận. Liên quan tới các bí tích có bí tích Thánh Thể, chỉ được các Giáo Hội Tin Lành coi như biểu tượng. Bánh và Rượu chỉ biểu tượng cho Mình và Máu Chúa Giêsu Kitô, chứ Chúa Kitô không hiện diện thực sự trong đó. Liên quan tới bí tích truyền chức thánh hiện nay các Giáo Hội Tin Lành chấp nhận truyền chức Linh Mục cho cả nữ giới, và vài Giáo Hội tin lành cũng có các nữ giám mục. Đây là một trong các khác biệt khiến cho việc tìm về hiệp nhất bị cản trở. Trong thời gian qua một số Giáo Hội Tin Lành cũng chấp nhận truyền chức linh mục và giám mục cho các ứng viên đồng tính, và thừa nhận hôn nhân đồng phái.

Bên cạnh các vấn đề lớn liên quan tới mọi Giáo Hội Kitô, trong mỗi hệ phái còn có nhiều khác biệt giữa các nhóm. Cũng giống như Giáo Hội Chính Thống có Thánh Công Đồng, các Giáo Hội Anh giáo có Hội Nghị Lambeth, nhưng các Giáo Hội đều tự quản, chứ không có một quyền bính trung ương như điểm tham chiếu. Hội Đồng Đại Kết các Giáo Hội Kitô có trụ sở bên Thụy Sĩ chỉ là tổ chức quy tụ các Giáo Hội Kitô lại với nhau nhằm đề ra và điều hành một số sinh hoạt đại kết, nhưng không có quyền pháp lý trên các Giáo Hội thành viên. Giáo Hội Công Giáo chỉ là quan sát viên nên không có quyền bỏ phiếu.

Từ nhiều thập niên qua thế giới tây âu bị chủ trương duy đời cực đoan khuynh đảo, dẫn đưa tới cuộc khủng hoảng đức tin của nhiều kitô hữu. Rất nhiều kitô hữu tây âu không thực hành đạo nữa. Kitô giáo chỉ còn là một yếu tố văn hóa truyền thống, mà không còn sức sinh động để lôi cuốn và hướng dẫn cuộc sống của tín hữu. Một trong các dấu chỉ của cuộc khủng hoảng này là trong Hiến pháp của Liên Hiệp Âu châu giới lãnh đạo chính trị không muốn nhắc tới gốc rễ kitô của Âu châu nữa. Họ cho rằng Kitô giáo và các tôn giáo chỉ là các giá trị riêng tư của cuộc sống cá nhân, chứ không được ảnh hưởng trên cuộc sống xã hội, lại càng không được có tiếng nói trong lãnh vực chính trị. Và thế là người ta chứng kiến cảnh nhiều thành viên đảng phái chính trị thi nhau chỉ trích và tấn công các Giám Mục, khi các vị lên tiếng về các vấn đề luân lý xã hội, kinh tế và chính trị. 

Trong bầu khí tục hóa và duy đời cực đoan đó, hơn bao giò hết các kitô hữu được mời gọi tái khám phá ra căn cước của mình, sống đạo xác tín, tuân giữ các giáo huấn của Chúa, và dấn thân thực thi tình bác ái kitô. Vì đó là cách thức cụ thể giúp làm chứng cho Chúa và góp phần tái tạo sự hiệp nhất trọn vẹn giữa các kitô hữu, trong một thế giới có quá nhiều chia rẽ, chiến tranh, bạo lực bất công tàn phá thê thảm như thế giới hiện nay.

Đây cũng chính là lý do khiến cho trong tháng giêng năm 2017 này ĐTC Phanxicô mời gọi chúng ta cầu xin cho mọi kitô hữu trung thành với giáo huấn của Chúa, biết sống đời cầu nguyện và bác ái huynh đệ để tái lập sự hiệp thông trọn vẹn trong Giáo Hội, bằng cách cộng tác để đáp trả lại các thách đố hiện nay của nhân loại.

Linh Tién Khải
Nguồn: http://vi.radiovaticana.va/news/2016/12/31/%C3%BD_ch%E1%BB%89_c%E1%BA%A7u_nguy%E1%BB%87n_truy%E1%BB%81n_gi%C3%A1o_th%C3%A1ng_gi%C3%AAng_2017/1282885

Bài giảng của Đức Thánh Cha Ngày Đầu Năm kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và cầu cho hòa bình thế giới


Lúc 10h sáng thứ Chúa Nhật 1 tháng Giêng, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chào đón năm mới với thánh lễ trọng thể kính Đức Mẹ là Mẹ Thiên Chúa và Ngày Hoà Bình thế giới lần thứ 50 tại Đền Thờ Thánh Phêrô.

Sứ điệp của Đức Thánh Cha Phanxicô cho dịp này, đã được công bố hôm 12 Tháng 12, có chủ đề là “Bất bạo động: một hình thái chính trị vì hòa bình”

Cùng đồng tế với Đức Thánh Cha có đông đảo các vị trong giáo triều Rôma. Tham dự thánh lễ cũng có các vị đại sứ trong ngoại giao đoàn và đông đảo các tín hữu ngồi chật bên trong đền thờ.

Trong bài giảng Đức Thánh Cha nói:

“Còn bà Maria thì hằng ghi nhớ mọi kỷ niệm ấy, và suy đi nghĩ lại trong lòng” (Lc 2:19) Trong những lời này, Thánh Luca mô tả thái độ của Đức Mẹ sau khi đã trải qua mọi sự trong những ngày đó. Vượt xa cố gắng để hiểu và làm chủ được tình hình, Đức Mẹ là người phụ nữ có thể lưu giữ, có thể nói được là, bảo vệ và giữ gìn trong trái tim Mẹ, đường lối của Chúa trong đời sống dân Ngài. Thẳm sâu trong lòng, Mẹ đã học cách lắng nghe nhịp tim của Con Mẹ, và điều đó lại dạy cho Mẹ, trong suốt cuộc đời mình, cách khám phá nhịp tim của Thiên Chúa trong lịch sử. Mẹ học được cách trở thành một người mẹ, và trong tiến trình học tập đó Mẹ đã cho Chúa Giêsu được trải nghiệm vẻ đẹp khi nhận ra làm một người con có nghĩa là gì. Nơi Mẹ Maria, Ngôi Lời vĩnh cửu không chỉ trở thành xác phàm, nhưng còn học biết sự dịu dàng từ mẫu của Thiên Chúa. Với Đức Maria, Hài Nhi-Thiên Chúa học cách lắng nghe những khát vọng, những long đong, những niềm vui và hy vọng của dân giao ước. Với Đức Maria, Ngài nhận ra chính mình là một người Con trong dân trung tín của Thiên Chúa.

Trong Phúc Âm, Đức Maria xuất hiện như một người phụ nữ kín tiếng, không có những bài phát biểu vang dội hay những hành động to tát, nhưng Mẹ có một cái nhìn chăm chú có thể bảo vệ cuộc sống và sứ mạng của Con Mẹ, và qua đó, là tất cả mọi thứ mà Ngài yêu mến. Mẹ đã có thể trông nom cho sự khởi đầu của các cộng đoàn Kitô hữu tiên khởi, và nhờ đó, Mẹ học được kinh nghiệm để trở thành mẹ của một đám đông. Mẹ đã gần gũi với các tình huống đa dạng nhất để gieo hy vọng. Mẹ đồng hành cùng những thập giá được vác âm thầm trong tâm hồn những con cái Mẹ. Cơ man những việc sùng kính, những đền thờ và nhà nguyện ở những nơi xa xôi nhất, và cơ man những ảnh tượng trong các ngôi nhà của chúng ta, nhắc nhở chúng ta về sự thật lớn lao này. Đức Maria đã cho chúng ta sự ấm áp của một người mẹ, sự ấm áp chúng ta có thể nương náu trong gian truân, sự ấm áp của Mẹ khiến bất cứ điều gì hay bất cứ ai cũng không thể dập tắt trong lòng Giáo Hội cuộc cách mạng đã được Con Mẹ khai mào. Nơi đâu có một người mẹ, nơi đó có sự dịu dàng. Qua tình mẫu tử của mình, Mẹ cho chúng ta thấy sự khiêm tốn và dịu dàng không phải là những đức tính của những kẻ yếu đuối nhưng là của những người mạnh mẽ. Mẹ dạy chúng ta rằng chúng ta không cần phải ngược đãi những người khác để cảm thấy mình là quan trọng (x. Niềm Vui Phúc Âm, 288). Dân thánh của Thiên Chúa đã luôn thừa nhận và ca ngợi Mẹ là Mẹ Thánh của Thiên Chúa.

Cử hành lễ Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa và là Mẹ chúng ta vào thời khắc bắt đầu một năm mới nghĩa là nhắc lại một xác tín luôn đồng hành trong đời chúng ta: đó là chúng ta có một người mẹ; chúng ta không phải là những đứa trẻ mồ côi.

Các bà mẹ là loại thuốc giải độc mạnh nhất để chữa trị khuynh hướng chủ nghĩa cá nhân và sự tự cao tự đại của chúng ta, để chữa trị sự thiếu cởi mở và thờ ơ của chúng ta. Một xã hội mà không có các bà mẹ thì không chỉ là một xã hội lạnh lùng, nhưng còn là một xã hội đánh mất con tim, và mất đi “cảm giác của gia đình.” Một xã hội mà không có các bà mẹ sẽ là một xã hội tàn nhẫn, một xã hội trong đó con tim chỉ có chỗ cho những tính toán và đầu cơ. Bởi vì người mẹ, ngay cả trong những thời điểm tồi tệ nhất, vẫn có thể làm chứng cho sự dịu dàng, cho sự hy sinh chính mình vô điều kiện, và cho sức mạnh của niềm hy vọng. Tôi đã học được rất nhiều từ những người mẹ có con em đang ở trong tù, hoặc nằm trên giường bệnh, hoặc dính líu với ma túy, nhưng, dù nóng, dù lạnh, dù mưa, dù nắng, không bao giờ ngừng đấu tranh cho những gì là tốt nhất cho con em họ. Hay những bà mẹ trong các trại tị nạn, hay thậm chí trong chiến tranh, không ngừng ôm ấp và nâng đỡ những đau khổ cuả con em họ. Có cả các bà mẹ thực sự hy sinh mạng sống của mình để không một đứa con nào của mình bị hư mất. Nơi nào có một người mẹ, nơi đó có sự hiệp nhất, có sự thuộc về nhau như những đứa con của cùng một mẹ.

Khi bắt đầu năm mới bằng cách nhắc lại sự tốt lành của Thiên Chúa nơi khuôn mặt từ mẫu của Đức Maria, khuôn mặt từ mẫu của Giáo Hội, và khuôn mặt các bà mẹ của chính chúng ta, chúng ta được bảo vệ khỏi một căn bệnh bào mòn chúng ta là bệnh “mồ côi tinh thần”. Đó là cảm giác mồ côi mà linh hồn trải qua khi nó cảm thấy không có mẹ và thiếu vắng sự dịu dàng của Thiên Chúa, khi cảm giác thuộc về một gia đình, một dân tộc, một đất nước, hay thuộc về Thiên Chúa trở nên mờ nhạt. Cảm giác mồ côi này chôn kín trong một con tim duy ngã chỉ có thể thấy chính bản thân mình và những lợi ích riêng của mình. Nó phát triển khi chúng ta quên mất rằng cuộc sống là một món quà mà chúng ta đã nhận được và còn nợ những người khác - một món quà mà chúng ta được mời gọi để chia sẻ trong ngôi nhà chung này.

Chính cái tình cảnh mồ côi tự coi mình là trung tâm ấy đã khiến Cain hỏi: “Tôi là người giữ em tôi à?” (St 4: 9). Hệt như muốn nói rằng: Nó không thuộc về tôi; Tôi không biết nó. Thái độ mồ côi tinh thần này là một căn bệnh ung thư âm thầm ăn mòn và làm băng hoại linh hồn chúng ta. Chúng ta trở thành hèn hạ hơn tới tận cùng, khi không ai thuộc về chúng ta và chúng ta cũng chẳng thuộc về ai. Tôi làm hư hỏng trái đất vì nó không thuộc về tôi; tôi làm băng hoại người khác vì họ không thuộc về tôi; tôi sỉ nhục Thiên Chúa bởi vì tôi không thuộc về Người, và cuối cùng chúng ta làm băng hoại chính bản thân chúng ta, vì chúng ta quên chúng ta là ai và quên cả cái “họ” (family name) linh thánh của chúng ta. Sự mất mát những mối giây ràng buộc chúng ta, rất tiêu biểu trong nền văn hóa bị phân mảnh và chia rẽ của chúng ta, làm gia tăng cảm giác mồ côi này, và kết quả là một cảm giác hư vô và cô đơn lớn lao. Thiếu các tiếp xúc vật lý (chứ không phải là ảo) sẽ đóng kín tâm hồn chúng ta (x Laudato Si ', 49) và làm cho chúng ta đánh mất đi khả năng dịu dàng, và ngạc nhiên, cảm thương và từ bi. Mồ côi tinh thần làm chúng ta quên đi những gì có nghĩa là con, cháu, cha mẹ, ông bà, bạn bè và các tín hữu. Nó làm cho chúng ta quên đi tầm quan trọng của chơi đùa, ca hát, mỉm cười, nghỉ ngơi, và biết ơn.

Cử hành lễ Mẹ Thánh của Thiên Chúa làm cho chúng ta mỉm cười một lần nữa khi chúng ta nhận ra rằng chúng ta là một dân tộc, chúng ta thuộc về nhau, và rằng chỉ khi chúng ta thuộc về một cộng đồng, một gia đình, chúng ta mới có thể tìm thấy “sự ấm cúng”, một “sự ấm áp” cho phép chúng ta phát triển trong tình nhân loại, chứ không phải là đối tượng để “tiêu thụ hay bị tiêu thụ”. Mừng lễ Mẹ Thánh của Thiên Chúa nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta không phải là một món đồ có thể trao đổi trong thương trường hay trong các bộ xử lý thông tin. Chúng ta là con cái, chúng ta là một gia đình, chúng ta là dân Thiên Chúa.

Cử hành lễ Mẹ Thánh của Thiên Chúa dẫn chúng ta đến việc tạo ra và chăm sóc cho những nơi công cộng có thể cung cấp cho chúng ta một cảm giác thuộc về nhau, có cùng cội nguồn, cảm giác ở nhà trong các thành phố của chúng ta, trong các cộng đồng hiệp nhất và hỗ trợ chúng ta (x Laudato Si', 151).

Chúa Giêsu, vào giây phút tự hiến tột cùng, trên thập tự giá, khi không còn giữ lại điều gì cho riêng mình, và sắp thở hơi cuối cùng, đã bàn giao Mẹ Ngài cho chúng ta. Ngài đã nói với Đức Maria: Đây là con trai của Mẹ; đây là con cái của Mẹ. Chúng ta cũng muốn tiếp rước Mẹ vào nhà mình, vào gia đình của chúng ta, cộng đồng và quốc gia của chúng ta. Chúng ta muốn gặp gỡ cái nhìn từ mẫu của Mẹ. Cái nhìn ấy giải phóng chúng ta khỏi tình trạng mồ côi; cái nhìn đó nhắc chúng ta rằng chúng ta đều là anh chị em, rằng tôi thuộc về bạn, và bạn thuộc về tôi, rằng chúng ta là cùng một xương một thịt. Cái nhìn đó dạy chúng ta rằng chúng ta phải học cách chăm sóc cho cuộc sống với cùng một sự dịu dàng như Mẹ, nghĩa là, bằng cách gieo niềm hy vọng, bằng cách gieo một cảm giác thuộc về nhau trong tình huynh đệ.

Cử hành lễ Mẹ Thánh của Thiên Chúa nhắc chúng ta rằng chúng ta có mẹ. Chúng ta không phải là những đứa trẻ mồ côi. Chúng ta có mẹ. Cùng nhau tất cả chúng ta hãy tuyên xưng chân lý này. Tôi mời các bạn tung hô ba lần, xin tất cả cùng đứng, như các tín hữu Êphêsô đã từng làm: Mẹ Thánh của Thiên Chúa, Mẹ Thánh của Thiên Chúa, Mẹ Thánh của Thiên Chúa.


J.B. Đặng Minh An dịch
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/211622.htm

Chào 2017, bầy vịt mừng nhau trên đỉnh lũ

Ghi vội mùa Giáng sinh 2016


Trên đường đến Bêlem, một thiên sứ nhí hỏi

- Nếu những người chăn chiên đang ngủ, làm sao mình báo tin cho họ được?

Một Sêraphim đáp:

- Thì mình thổi loa đánh thức họ dậy.
(Vô Ngôn Thư)

Sau bữa sáng 24-12-2016, một nữ tu ở Tòa Giám mục Qui Nhơn đặt tượng Hài đồng tí teo vào cái nôi nhựa nhỏ, phủ giấy bóng gương lên và thả xuống bể cạn trong hòn non bộ cạnh nhà hưu dưỡng. Hệt như người đàn bà họ Lêvi đem đứa con đỏ đặt vào thúng, thả vào đám sậy trên sông Nil. Lúc người nữ tu thả chiếc nôi xuống nước và lặng ngắm Đấng Emmanuel chia sẻ thân phận bèo trôi của người dân miền Trung khốn khổ, cũng là lúc tôi lên đường cử hành lễ Giáng sinh với anh chị em ở một họ đạo xa xôi hẻo lánh vừa bị nhận chìm trong lũ lụt. 

NOEL VÙNG LŨ

Tỉnh lộ 639. Km 44,100 - rẽ trái, gặp ngã tư - rẽ phải 100 mét, có ngã ba bên trái. Tôi tiến vào khuôn viên nhà thờ An Mỹ, một Giáo họ biệt lập của Giáo xứ Phù Mỹ, nằm trên địa bàn thôn An Mỹ, xã Mỹ Cát, huyện Phù Mỹ, tỉnh Bình Định. Ngoại trừ nhà thờ, tất cả các nhà khác, kể cả nhà xứ, còn in ngấn nước trên tường 3 tấc, 5 tấc, một mét hoặc hơn... Nước lũ chỉ mới buông tha cho giáo họ chưa được 5 ngày để vừa quét dọn vừa chuẩn bị trang trí mừng lễ Giáng sinh. Chiều 24, gần 5 giờ cha quản nhiệm vẫn còn tất bật ở “công trường”. Hai nữ tì Chúa Giêsu Tình Thương và thầy xứ làm việc quần quật, chạy vào ăn vội chén bún rồi chạy ra lo cho các em nhỏ trong đội văn nghệ.

Bảy giờ, trời lại mưa. Đám đông chạy dạt lên hè nhà thờ, nhưng chỉ chừng 15 phút là thôi mưa, trời ấm. Lời chúc và thông điệp Giáng sinh được trao tận tay từng người qua cánh bướm màu photocopy. Chương trình canh thức lược tóm lịch sử cứu rỗi, nhấn vào chủ đề hạnh phúc gia đình. Giáo họ chỉ đếm được 300 người lớn nhỏ nhưng vẫn đủ những mục hát múa và thoại kịch đông vui. Nhiều người nhà xa hằng chục cây số vẫn có mặt trên sàn diễn. Bà con đến xem đứng chật sân nhà thờ. Sau diễn nguyện, các em nhỏ chen nhau nhận quà. Cộng đoàn chia tay bà con lương dân, rồi vào nhà thờ cử hành thánh lễ.

Sáng ngày 25, không có thánh lễ. Hai nữ tu sẽ về lại cộng đoàn ở Làng Sông trong buổi sáng, do đó giờ ăn sáng cũng là lúc nhìn lại mọi việc để rút kinh nghiệm cho năm sau. Ban chiều, lễ ở đây xong, cha quản nhiệm sẽ đi cử hành lễ Giáng sinh tại giáo điểm Mỹ An, cách nhà thờ hơn 20 cây số. Nghe nói sẽ có rửa tội cho hai gia đình, 10 người, tôi rất muốn tham dự, thế nhưng đã trót hẹn, phải về lại Qui Nhơn.

Tôi nhờ thầy xứ chở bằng xe máy ngược đường tỉnh 639 để thăm một vài gia đình. Nhà anh Tưởng cách nhà thờ hơn chục cây số, mới được ơn trở lại, đang học giáo lý. Do bị mất giống lần thứ ba, vừa sạ lại, sáng nay vợ chồng anh tranh thủ ra thăm nước. Ở nhà chỉ có người con dâu và bà cụ, gần 90 tuổi, bị lòa. Nghe có linh mục đến thăm, bà mừng muốn khóc:

- Cha ơi, tôi không thấy gì cả, nhưng mừng lắm. Cha thằng Tưởng mất khi nó mới bốn tuổi, nay nó đã 56. Sau 75, đâu còn nhà thờ nhà thánh gì, tôi ở đây một mình, chỉ đọc kinh sáng kinh tối một mình. Ăn cơm, tôi làm dấu, con nó hỏi, phải nói tránh đi: Cứ gần ăn cơm là má bị ngứa trán, má gãi chút mà! Bây giờ nó được ơn trở lại, có cha có thầy đến, mừng sao là mừng.

CHÚT LÒNG MUỐN NGHE TRONG CÕI VẮNG

Về nhà đã 12 giờ. Tôi ghé hòn non bộ viếng Chúa Hài Nhi. Lá rơi trên bể cạn, chiếc nôi bập bềnh thê lương, có lẽ đã chẳng mấy ai để ý. Cơn lũ giết người cũng lùi vào quá khứ, những nạn nhân của nó chỉ mới hơn một tuần cũng đã bị trôi dần vào quên lãng. Chúa Hài Nhi của người nữ tu bị bỏ rơi trong góc vắng. Phải chi đêm qua tôi ở nhà, hẳn tôi đã làm cái gì đó để các bạn trẻ chú ý tới tác phẩm của chị. Họ sẽ kéo nhau đến chụp hình. Tôi sẽ kể cho họ câu chuyện Môsê ngày xưa và Môsê của thời Tân ước. Rồi chờ khi họ động lòng với câu chuyện, tôi sẽ bảo họ:

- Này em, tên của Hài Nhi là Emmanuel, nghĩa là Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Ngài vẫn ở với em trên mọi nẻo đường, cả khi em chới với một mình giữa mưa dày lũ cuốn. Hãy thầm nói với Ngài một đôi lời rồi em sẽ thấy sáng bừng lên sự thật, và em sẽ hiểu ra Ngài chấp nhận bị bỏ rơi để cho em cũng như bất cứ ai khác trong loài người không còn thấy lẻ loi giữa những bế tắc trong cuộc sống.

Lời đã làm người. Lời đang gọi nhưng hỏi có ai nghe chăng? Thưa có. Trên điện thoại của tôi, có không ít tin nhắn và cuộc gọi của anh chị em lương dân hướng về niềm vui ngày lễ, và một cách nào đó cũng là đang hướng về Chúa Cứu Thế.

Hai giờ có điện thoại. Một giảng viên Đại học hẹn gặp. Ba giờ chiều, chị đến cùng một bạn đồng nghiệp, cũng là tín hữu. Ồ, tại sao các chị lại chọn lúc này mà đến thăm? Có biết bao bạn hữu của các chị, đã ghé tới khuôn viên các nhà thờ đêm qua, và hôm nay đang mở lòng muốn nghe các chị nói! Tại sao các chị không đáp ứng? Tôi chỉ nghĩ thế thôi, không nỡ nói ra điều mình nghĩ. Có lẽ Chúa đang gửi họ đến cho tôi như một món quà, như một gợi ý và cũng để tôi giúp họ đôi phần trong nỗi băn khoăn của người tín hữu trí thức. Phố thị bên ngoài ồn ã, nhưng tại những góc thinh lặng nào đó, không thiếu những con cái Chúa đang đến với nhau trong đức tin và đức mến. Trong cái vắng lặng của nhà hưu dưỡng này cũng thế, có hai tâm hồn đang muốn biết mình phải làm gì cho Chúa. Tôi đã lắng nghe và chia sẻ với họ gần một tiếng đồng hồ.

Đúng 5 giờ, anh T. nhờ một người bạn đến đón tôi. T. tổ chức bữa ăn mừng lễ với một nhóm bạn. Ngoài chủ nhà, có một giáo dân “đạo gốc”, chính là người vừa làm tài xế xe ôm đón tôi, một vị lão thành mới lãnh bí tích thánh tẩy hơn ba năm, một người sau nhiều năm lưu lạc nay đang trên đường hội nhập lại vào đời sống Hội thánh, một dự tòng, một nhà báo rất gần gũi với Đạo Chúa và một linh mục. Người trẻ nhất trong nhóm đã hơn năm mươi tuổi. Trong bầu khí ấm áp, chúng tôi chia sẻ cho nhau những ghi nhận, suy tư và cảm nghiệm về cuộc sống, về nỗi đau của con người và về ơn cứu rỗi. Các bạn cũng nêu những câu hỏi liên quan đến Kinh thánh để mọi người cùng góp ý.

Tôi hỏi anh T., tổ chức bữa ăn Giáng sinh gia đình, sao lại không có ai khác trong nhà cùng tham dự? Câu trả lời thật bất ngờ:

- Vị lão thành trong bàn ăn hôm nay là một Phật tử kỳ cựu, đọc nhiều hiểu rộng, đến tuổi 72 mới ngộ ra rằng ngoài Chúa Kitô, không thể tìm thấy ai khác là Đấng Cứu Rỗi. Thế nhưng cụ vẫn còn phải mất hai năm để chọn giữa những hướng tuyên xưng khác nhau trong Kitô giáo. Trước đó, một người con rể của cụ là thành viên “Chứng nhân Giê-hô-va” đã từng thuyết phục cụ theo giáo phái này nhưng cụ không quan tâm. Cuối chặng đường đời, sự ngập ngừng của cụ là giữa Hội thánh Tin lành Việt Nam và Hội thánh Công giáo. Năm qua, người con rể từ Úc về thăm mấy tháng, đã mượn phòng khách nhà bố vợ, quy tụ một số người vào chiều Thứ Bảy hằng tuần để diễn giải Kinh thánh. Con may mắn có mặt ở đó kể như từ đầu. Sau mấy lần tham dự, con tự thấy nhu cầu phải tìm hiểu Kinh thánh, đồng thời tự hỏi: Người ấy có khác gì mình đâu? Anh ta chỉ là một thành viên thường, không phải là chức sắc gì của giáo phái, tại sao anh ta làm chứng nồng nhiệt đến thế, còn mình dù từ nhỏ đã biết đến sứ mạng làm chứng của người tín hữu mà mãi gần cuối đời vẫn còn ngập ngừng chưa dám nói và chưa biết nói về Đấng Cứu Thế của mình? Thưa cha, lý do là như thế.

Dự tính ban đầu của tôi cho chiều ngày lễ Giáng sinh là cùng đi với một anh em linh mục tới dự giờ hát thánh ca và chia sẻ của một Hội thánh Tin Lành nhưng rồi “mộng chưa thành”, tôi nhận lời dự buổi chia sẻ ở nhà anh T. Ai ngờ tại đây Chúa đã cho tôi được gặp những anh chị em các hệ phái khác qua một đường dây vô hình. Mà sao vẫn cứ thấy còn ray còn rứt? Hình như chỉ gặp gỡ trong tâm tưởng thôi không đủ, bởi lẽ: “Chỉ có một thân thể, một Thánh Linh... Chỉ có một Chúa, một đức tin, một phép báp-têm; chỉ có một Đức Chúa Trời và một Cha của mọi người, Ngài là trên cả mọi người, giữa mọi người và ở trong mọi người” (Ê-phê-sô 4,4-6 - Các trích dẫn Kinh thánh trong bài đều trích theo bản dịch Tin lành, ấn bản 1990). Những người tôi gặp chiều nay đều là trí thức, nếu họ hỏi tại sao các môn đệ Chúa lại chia rẽ, tôi có thể trả lời không khó. Thế nhưng làm sao trả lời gãy gọn được nếu một học sinh hỏi rằng: “Mấy người cứ bảo là đạo yêu thương, thế tại sao người Công giáo lại bôi bác người Tin lành và người Tin lành lại bêu xấu người Công giáo?” “Mấy người đã rủ người lương chúng tôi đi cứu trợ lũ lụt, còn Công giáo và Tin lành sao chưa thấy rủ nhau?” 

Hơn 9 giờ tối, tôi qua cổng nhà thờ lớn về lại nhà hưu dưỡng. Trong khuôn viên nhà thờ Chính Tòa và chủng viện, người lương đi chơi lễ thật đông, đa số là thanh niên nam nữ và các phụ huynh trẻ. Phải chi tôi kịp lôi những tấm panô ở An Mỹ về đây giăng đầy dãy hàng rào xung quanh để khách đi chơi có cơ hội học biết sứ điệp Giáng sinh. Phải chi tôi còn trẻ, tôi sẽ đứng đây đến khuya, đến lúc người khách cuối cùng ra về, tôi sẽ rao bán Kinh thánh với một giá rẻ rề và sẽ cho người mua cả số điện thoại của tôi để họ có thể gọi bất cứ lúc nào họ cần đến. Thế nhưng, rồi chợt thấy nặng lòng: Làm sao người ta có thể tin được khi chính các con cái Chúa chưa yêu thương hiệp nhất với nhau?

XIN CHO HỌ ĐƯỢC NÊN MỘT ĐỂ THẾ GIAN TIN

Tối 27-12. Đèn màu của chủng viện và nhà thờ Chính tòa vẫn còn thu hút một số người đến chụp hình và xem hang đá. Phải chăng đây là những người đã “nghe chuyện bọn chăn chiên nói và lấy làm lạ” (Lu-ca 2,18). Tôi nhìn quanh không thấy “bọn chăn chiên” đâu cả. Nhưng kìa, đã có em bé vừa sinh giữa cánh đồng Bết-lê-hem (x. Ma-thi-ơ 2,1), để sẽ trở thành người chăn chiên đích thật và duy nhất (x. Giăng 10,2). Tôi chợt nghe văng vẳng: “Ta là người chăn hiền lành; người chăn hiền lành vì chiên mình mà phó sự sống mình. Ta là người chăn hiền lành, ta quen chiên ta, và chiên ta quen ta. Ta còn có chiên khác chẳng thuộc về chuồng nầy; ta cũng phải dẫn nó về nữa, chiên đó sẽ nghe tiếng ta, rồi sẽ chỉ có một bầy, và một người chăn mà thôi” (Giăng 1,11.14.16).

Tôi thấy tiếc nhớ làm sao cái dự định không thành, muốn thông công đôi chút với anh em Tin lành nhân mùa Giáng sinh, trước khi bước vào thời khắc kỷ niệm 500 năm cuộc Cải Cách của Martin Luther và 50 năm hành trình tìm về đoàn tụ. Hầu như ai cũng biết các môn đệ của Chúa Cứu Thế đã chia rẽ nhau nhưng ít ai biết rằng hơn một thế kỷ nay, Đức Thánh Linh/Chúa Thánh Thần đã thổi xuống trên tâm hồn các Cơ đốc nhân/Kitô hữu một luồng gió mới, một nỗi khát khao hiệp một/hiệp nhất. Thế nhưng ít ai biết được, trong 50 năm qua, cuộc đối thoại giữa Hội thánh Công giáo và các hệ phái ly khai đã tiến nhanh tới mức nào. Cụ thể tại Việt Nam này, rất ít ai biết, kể cả giữa vòng các tín hữu Tin lành và Công giáo. Hỏi mấy ai biết đến bản tuyên bố chung 1999 giữa Công giáo và Tin lành cùng khẳng định một giáo lý về ơn cứu rỗi (trong tiếng Anh và tiếng Pháp là “justification”, còn trong tiếng Việt, thuật ngữ Tin lành gọi là “sự xưng công nghĩa”, thuật ngữ Công giáo gọi là “ơn công chính hóa”)? Hỏi mấy người đọc được nó khi mà đã 17 năm rồi nó vẫn chưa được dịch sang tiếng Việt? Tôi thấy mình đang cùng thổn thức với Đấng Christ/Đức Kitô Cứu Thế qua ý nguyện của Ngài trong đêm cuối đời: “Ấy chẳng những vì họ mà Con cầu xin thôi đâu, nhưng cũng vì kẻ sẽ nghe lời họ mà tin đến Con nữa, để cho ai nấy hiệp làm một, như Cha ở trong Con, và Con ở trong Cha; lại để cho cả họ cũng ở trong chúng ta, đặng thế gian tin rằng chính Cha đã sai Con đến” (Giăng 17,20-21).

Tôi muốn tìm một ai đó đã dự một phần trong các cử hành Giáng sinh năm nay của anh em Tin lành để hỏi thăm, nhưng rồi lại tự nhủ: tại sao mình không đến thẳng nhà thờ Tin lành mà hỏi? Phút chốc, tôi rời cổng nhà thờ Chính tòa, thả bộ lên Hội thánh Tin lành ở đường Hai Bà Trưng. Mặt tiền và khuôn viên nhà thờ đã trở lại dáng vẻ ngày thường, như một Bêt-lê-hem thầm lặng, không đèn hoa nào lôi cuốn người qua đường phải chú ý. Riêng văn phòng Mục sư vẫn mở cửa, sáng đèn. Cổng lớn đóng nhưng may mắn, cổng nhỏ đang mở. Tôi vừa chào, Mục sư Nguyễn An Toàn đã nhận ra. Ba năm trước đây, tôi đã có lần cùng cụ Trương Hồ đến thăm Mục sư.

Hằng tuần vào tối thứ Ba, cả trong và ngoài Thành phố có 17 nhóm học Kinh thánh dành cho chị em phụ nữ, mỗi nhóm vài ba chục người, tất cả đều học đồng loạt vào cùng một giờ để vừa học, vừa hiệp thông trong tâm tình cầu nguyện. Tối Thứ Ba nào Mục sư Toàn cũng đi dự giờ học với một nhóm, riêng tối nay người đứng đầu lớp học tại đây vắng mặt, vị Mục sư phải ở nhà giúp thay. Có thế, chúng tôi mới may mắn được gặp nhau.

Tôi hỏi thăm và vui mừng tạ ơn Chúa vì những ơn lớn lao Thiên Chúa đang ban cho Hội Thánh Tin Lành Quy Nhơn. Chỉ khoảng nửa giờ thôi nhưng tôi nhận được nhiều thông tin lý thú. Nhiệm kỳ phục vụ của các mục sư tại mỗi Hội thánh là 4 năm. Mục sư Toàn về đây được 5 năm, đang phục vụ năm đầu của nhiệm kỳ thứ hai. Với những Hội thánh còn ở giai đoạn tự dưỡng, Hội đồng Tổng liên hội chủ động bổ nhiệm mục sư, không cần hỏi ý kiến tín hữu. Với những Hội thánh đã có khả năng tự trị, Tổng liên hội cử đến ba ứng viên để anh chị em tín hữu bầu chọn. Mỗi vị trong ba ứng viên sẽ giảng lễ một chúa nhật, rồi tín hữu bỏ phiếu. Vị nào được nhiều phiếu hơn cả, và phải hơn 50% số phiếu, sẽ được bổ nhiệm. Hết nhiệm kỳ I, sẽ có bỏ phiếu tín nhiệm, phải được hơn 60% số phiếu, vị mục sư mới có thể tiếp tục nhiệm kỳ II. Sau nhiệm kỳ II, phải đạt tới 80% số phiếu mới có thể tiếp tục nhiệm kỳ III. Cách làm việc này tạo điều kiện thuận lợi cho sự hiệp nhất mạnh mẽ giữa mục sư và cộng đồng tín hữu.

Ngày Mục sư Toàn mới nhận nhiệm sở, mọi hoạt động đều tập trung tại nhà thờ ở đường Hai Bà Trưng này. Nay thì nhà thờ ở Chợ Dinh đã là trụ sở của một Hội thánh tự trị. Mục sư Toàn phụ trách mười điểm nhóm tại nội thành Quy Nhơn và trên địa bàn huyện Tuy Phước, mấy năm qua đã có thêm nhà nguyện tại Phú Tài và Phước Sơn. Mùa Giáng sinh năm nay, do chỉ có một mình, vị Mục sư phải phân bố cả một chương trình 8 ngày, từ 17 đến 25-12, mới truyền giảng đều khắp cả mười điểm nhóm. Không riêng tại Quy Nhơn và Tuy Phước, khó khăn lớn chung cho Hội thánh Tin lành Việt Nam hiện nay là thiếu nhân sự. Vừa qua, một trường đào tạo trung cấp đã được mở tại Đà Lạt. Các học viên học hai năm, thực tập hai năm rồi quay lại học thêm một năm, mới có thể ra trường làm Thầy Truyền đạo. Nói chung, những năm gần đây, nhờ ơn Chúa, Hội thánh Tin lành đang lan rộng.

Đầu tháng 12, cha Lê Kim Ánh, cha sở Chính Tòa và là Hạt trưởng Giáo hạt Qui Nhơn đã trao đổi với Mục sư Toàn để thực hiện một buổi hát thánh ca chung mừng lễ Giáng sinh 2016, nhưng thời giờ quá eo hẹp, không kịp chuẩn bị, nên năm nay dự án tốt đẹp ấy chưa thực hiện được. Tuy nhiên, trước mắt chúng ta sắp có tuần lễ cầu nguyện cho sự hiệp một các Cơ đốc nhân (nói theo người Công giáo là sự hiệp nhất các Kitô hữu), 18-25 tháng Giêng, nếu xúc tiến ngay thì vẫn không muộn để đánh dấu kỷ niệm lịch sử của 500 năm chia cách và 50 năm tìm về đoàn tụ.

Câu chuyện chia sẻ tới đây thì chị em học viên của lớp giáo lý bắt đầu đến. Tôi lưu luyến ra về để Mục sư bắt đầu giờ lớp.

NHỮNG BẦY VỊT VÀ CƠN LŨ

Rời phòng khách vị Mục sư, tôi có một niềm vui rất siêu nhiên, đồng thời cũng có một nỗi buồn vừa rất siêu nhiên vừa có phần nhân loại. Niềm vui là niềm vui Thánh Phaolô nói trong thư Phi-líp: “Song có hề gì! Dẫu thế nào đi nữa, hoặc làm bộ, hoặc thật thà, Đấng Christ cũng được rao truyền; ấy vì đó tôi đương mừng rỡ, và sẽ còn mừng rỡ hơn nữa” (Phi 1,18). Kết quả việc truyền giảng những thập niên qua của anh em Tin lành rất cao. Những con số thống kê cho phép người ta dự đoán rằng muộn lắm là 15 năm nữa, số tín hữu Tin lành tại Việt Nam sẽ đạt tới 10 triệu người.

Nỗi buồn của tôi là, với cách nói, cách làm, cách nghĩ và cách sống hiện nay, vào cũng thời điểm ấy, liệu Giáo hội Công giáo có đạt tới con số ấy chưa? Mà đó lại chính là lúc người Công giáo đang nô nức kỷ niệm 500 năm Tin mừng đến với Dân tộc (1533-2033)! Thiên Chúa và tiền nhân đang đợi chờ gì nơi ta vào thời điểm ấy? Có phải lúc ấy Giáo hội trên khắp 26 giáo phận Việt Nam sẽ dâng lên Chúa Cứu Thế cái cảnh nức lòng, đâu đâu cũng nườm nượp những đoàn người gánh lúa về kĩu cà kĩu kịt? Hay lại cũng chỉ có những lễ hội hoành tráng như bao nhiêu lễ hội hoành tráng khác đã qua đi, chỉ nửa ngày sau khi bế mạc là trôi theo cơn lũ, để lại những rệu rã, mệt mỏi, chán chường và phân hóa?

Tôi không thể không nghĩ tới kinh nghiệm ở Hàn Quốc. Người Tin lành đến Hàn Quốc (1884) sau người Công giáo (1603) đúng 281 năm, và rồi “vào năm 1945 cả hai hệ phái (Công giáo và Tin lành) chiếm khoảng 2% dân số. Sau đó họ tăng trưởng rất nhanh: năm 1991, có 18,4% dân số (8,0 triệu) là Tin Lành, và 6,7% (2,5 triệu) là Công giáo” (wikipedia.org). Theo thống kê mới cập nhật tháng 8-2016 thì hiện nay Công giáo chỉ chiếm 7.6% dân số, đang khi Tin lành chiếm 24% (indexmundi.com).

Trong những yếu tố đem lại kết quả cho mùa gặt Tin lành tại Hàn, có một chi tiết rất đáng ghi nhận: “Năm 1924, người Tin Lành thành lập Hội đồng Kitô giáo Toàn quốc Hàn để điều phối hoạt động bằng cách chia thành các khu vực được phân công cụ thể cho các hệ phái Tin Lành khác nhau” (wikipedia.org). 

Tôi nhớ câu chuyện một mục sư trẻ đã kể cho tôi. Ở một vùng nọ người ta nuôi rất nhiều vịt. Mỗi bầy vịt có một người lùa đi ăn, rồi lại lùa về chuồng. Bọn vịt chỉ nhìn thấy những bầy vịt khác từ xa, chẳng khi nào có dịp giao lưu gặp gỡ. Một hôm chẳng biết do đâu, lũ về dâng cao đột ngột. Ai nấy hớt hải chạy người, chạy của. Trâu, bò, mèo, chó, heo, gà đều hoảng hốt tìm đường sống sót. Chỉ có bọn vịt là nước càng lớn, càng mừng reo thỏa thích. Rồi mọi hàng rào của các chuồng vịt đều lần lượt bị nhận chìm dưới sâu, những người chăn vịt bó tay, mọi con vịt đều đang bơi trên đỉnh lũ, chúng í ới chào gọi nhau, chẳng còn ai phân biệt được vịt nào của chuồng nào... 

Chẳng biết có sự kiện nào tương tự xảy ra tại Bình Định này trong đợt cuồng lũ cuối năm nay chăng nhưng trên thế giới thì có. Cơn lũ tục hóa đã khiến nhiều bầy vịt là con cái Chúa bị bó buộc phải gặp nhau. Đức Thánh Cha Phanxicô đang hô hào sự gặp gỡ, đang lớn tiếng kêu gào các bầy vịt ngoi đầu lên khỏi cơn lũ, bơi xích lại gần nhau. Kính thưa Đức Thánh Cha, nghe lời Cha, đêm nay ở cái xứ sở năm nào cũng lũ lụt này, có một con vịt Công giáo bơi sang thăm chuồng vịt Tin lành.

RỒI SẼ CHỈ CÓ MỘT BẦY VÀ MỘT NGƯỜI CHĂN

Tôi về đến nhà thờ Chính Tòa mới hơn 8 giờ. Điện vẫn sáng choang rực rỡ. Các cây xanh ở chủng viện vẫn thả xuống những chuỗi đèn màu huyền hoặc. Tại khuôn viên Tòa Giám mục chỉ có mấy dây đèn màu trên hòn non bộ. Tôi nhìn xuống kiếm tìm, phải chú ý lắm mới thấy chiếc nôi của Chúa Cứu Thế dạt vào một mé của bể nước. Bóng điện nhỏ đặt trên chiếc nôi chiếu sáng khuôn mặt Hài Nhi đã hết pin, mấy bóng màu chớp nháy trên khối đá không đủ soi xuống bể nước. Chính lúc này, hình ảnh những trẻ sơ sinh bị bỏ rơi và những thai bị gạt khỏi cuộc sống, mới xoáy sâu vào lòng tôi.

Mầu nhiệm Giáng sinh là mầu nhiệm người chăn cừu trở thành con cừu và nói bằng tiếng nói loài cừu, người chăn vịt trở thành con vịt và dùng ngôn ngữ của vịt, Đấng làm ra con người trở thành con người cho ta được mắt thấy tai nghe. “Ngôi Lời đã trở nên xác thịt, ở giữa chúng ta, đầy ơn và lẽ thật; chúng ta đã ngắm xem sự vinh hiển của Ngài, thật giống như vinh hiển của Con Một đến từ nơi Cha” (Giăng 1,14).

Nơi chiếc nôi bé bỏng, tôi hiểu ra rồi. “Vì chúng ta không có thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thương sự yếu đuối chúng ta, bèn có một thầy tế lễ bị thử thách trong mọi việc cũng như chúng ta, song chẳng phạm tội” (Hê-bơ-rơ 4,15). Tôi hiểu ra rằng chính là để đoàn tụ chúng ta mà Chúa Cứu Thế đã sẵn lòng để mình bị bỏ rơi. “Thật người đã mang sự đau ốm của chúng ta, đã gánh sự buồn bực của chúng ta; mà chúng ta lại tưởng rằng người đã bị Đức Chúa Trời đánh và đập, và làm cho khốn khổ. Nhưng người đã vì tội lỗi chúng ta mà bị vết, vì sự gian ác chúng ta mà bị thương. Bởi sự sửa phạt người chịu, chúng ta được bình an, bởi lằn roi người, chúng ta được lành bịnh. Chúng ta thảy đều như chiên đi lạc, ai theo đường nấy: Đức Giê-hô-va đã làm cho tội lỗi của hết thảy chúng ta đều chất trên người” (Ê-sai 53,4-6). “Đức Chúa Jêsus sẽ vì dân mà chết; mà không những vì dân thôi, mà cũng để nhóm con cái Đức Chúa Trời đã tản lạc lại làm một đoàn” (Giăng 11,51-52).

Tất cả những hang đá huy hoàng trong mọi nhà thờ trên thế giới đều bắt nguồn từ một giờ chiêm niệm của Thánh Phanxicô Assisi. Cả Thánh Gioan Thánh Giá cũng lắm lần ngắm nhìn ngây ngất, rồi ôm lấy Hài Nhi vào lòng mà múa nhảy. Thế nhưng ngày nay, dưới những ánh điện sáng choang, hang đá Bê Lem có còn đủ sự giản đơn nghèo khó để dọi ánh sáng vào lòng người tăm tối? Cả tiếng chuông vang, cả lời kinh ngân nga dìu dặt, những bài thánh ca và âm nhạc đã từng có sứ mạng dẫn dắt lòng người vào chiều sâu chiêm niệm, nhưng thử hỏi ngày nay chúng còn đóng đúng vai trò ấy chăng hay chỉ là những lợi khí giúp cuộc đời biến việc cử hành lễ Giáng sinh thành một lễ hội dân gian trần tục? Cứ đều đặn hằng năm, khi mùa đông đến, người ta lại theo thông lệ rước tượng Hài Đồng về để tổ chức lễ hội. Ôi Chúa Cứu Thế, Đấng Emmanuel, khi được long trọng mời về dự ngày lễ của chính Người, Người buồn hay vui?

Hãy để cho lễ hội qua đi. Hãy về lại với đêm sâu chiêm niệm. Hãy nghe điều Thánh Gioan Thánh Giá nói: “Chúa Cha chỉ nói một lời rằng đó là Con Ngài. Ngài hằng nói lời ấy mãi trong thinh lặng vĩnh cửu, thì linh hồn cũng phải lắng nghe Ngài trong thinh lặng” (Châm ngôn, 99).

MẸ ƠI, MẸ Ở ĐÂU?

Sáng 30-12, nơi hang đá trong phòng nguyện nhà hưu dưỡng, Chúa Hài Nhi tỏa ánh sáng ấm cúng của Ngài, chiếu lên khuôn mặt Thánh cả Giuse và Đức Mẹ. Gia đình bé nhỏ này thật sự là Thánh vì có Chúa Giêsu ở giữa. Khuôn mẫu ấy gợi hứng cho các gia đình con cái Chúa hướng về hạnh phúc thật. Sau thánh lễ, tôi dừng chân trước máng cỏ cầu nguyện cho các gia đình trên thế giới. Tôi nhớ đến những gia đình ở An Mỹ. Chiều hôm qua cha Mai gọi vào cho biết, gió quá mạnh đã thổi bay cả hang đá ngoài sân nhà thờ, Thánh Gia lâm cảnh màn trời chiếu đất. Bão nữa chăng? Tôi ra ngoài, lân la lại gần bên ngọn non bộ. Chiếc nôi bị bỏ quên trong bể cạn, chiếc nôi được cảm hứng từ câu chuyện của em bé người Hípri mới ba tháng tuổi. Ba tháng, em chưa có từ và chưa có ý nhưng đã có cảm xúc. Tôi lặng nhìn và đọc ra nơi tâm hồn bé bỏng ấy cái chấn động thảng thốt: “Mẹ! Mẹ! Mẹ ở đâu? Mẹ ở đâu?”

Ở nhà, Mẹ của bé đứng ngồi không yên, thấp thỏm mong chờ đứa con gái đem tin lành về. Đang khi đó, bên bờ sông, chị đứa bé làm như đang ngồi vọc cát, mắt không ngừng hướng về phía chiếc nôi, miệng cứ mấp máy: “Em ơi, đừng sợ! Mẹ đang lo cho em và đang có chị ở đây!”

Tôi nhìn chiếc nôi Hài Nhi lênh đênh trong bể cạn mà hiểu ra người mẹ của Hài Nhi không xa đây, và hơn nữa tôi còn hiểu ra mẹ của Hài Nhi cũng là mẹ của tôi, mẹ của Đầu cũng là mẹ của mọi chi thể, cả Công giáo lẫn Tin lành. Làm sao chúng ta có thể ngập ngừng không dám gọi Mẹ Đấng Cứu Thế là mẹ chúng ta khi mà chính Ngài không thẹn gọi chúng ta là anh em Ngài? (x. Hê-bơ-rơ 2,11). Bất giác, tôi nhớ ra một điều kỳ diệu: ngày đầu năm dương lịch này, bắt đầu kỷ niệm 500 năm chia cắt và 50 năm tìm gặp lại, cũng là ngày lễ của Mẹ và cũng là bắt đầu kỷ niệm 100 năm Mẹ ngỏ lời tại Fatima để ủi an và gọi mời nhân loại. Thì ra, Mẹ ở đây. Mẹ vẫn ở đây với chúng con, chăm lo cho chúng con, để giữa lũ chồng lũ, chúng con tìm thấy suối hồng ân, và sau cuồng phong bão táp lại là ngọn gió yên lành của Thánh Linh Thiên Chúa .

Qui Nhơn, 01-01-2017

Linh mục Trăng Thập Tự
Nguồn: http://conggiao.info/chao-2017-bay-vit-mung-nhau-tren-dinh-lu-d-39656