Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tấm lòng người mẹ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tấm lòng người mẹ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2020

[Vui bước Tin Mừng] Tấm lòng của Mẹ

2020.06.07 Sr. Theresa – Vietnamita

Tôi muốn kể về bước đường sứ vụ của người nữ tu, sơ Thérèse, một người Mẹ suốt đời ôm ấp và chăm sóc những con người nghèo khổ chốn rừng sâu heo hút.


Đaminh Trần Văn Tân, SJ.
Mùa Phục Sinh 2020
Mục Vui bước Tin Mừng là sự cộng tác giữa Vatican News Tiếng Việt và Uỷ ban Loan báo Tin Mừng của Hội đồng Giám mục Việt Nam với những chia sẻ kinh nghiệm sống động của những người đặt bước chân mình trên "cánh đồng".

Những năm tháng còn rất trẻ, Mẹ đã cùng với các chị em khác rảo gót khắp cánh đồng của bà con sắc tộc, từ Dalat tới Phú Sơn, qua Di Linh tới Đăk Blao và cuối cùng là Đăk Nông. Tại Dak Nông, có lẽ đây là thời gian dài nhất, mẹ được sai đến với bà con người M’nông và Mạ. Nhưng sau đó Mẹ phải rời bỏ vùng này vì chiến tranh.

Dù sao, sau 5 năm sống với bà con vùng này, từ Dak Blao tới Quảng Sơn, Quảng Khê, qua Dak Hà, Dak Nia, với bà con người Mạ. Tiếp đó từ Gia Nghĩa tới Kiến Đức vô Quảng Trực với bà con người M’nông, Mẹ đã học để nhận biết cách Chúa hiện diện và yêu thương chăm sóc những người con tản mác lưu lạc trong cảnh chiến tranh loạn lạc.

Từ khi cuộc chiến trở nên khốc liệt, và sau những năm chiến tranh, mẹ con lại phải chia tay nhau. Chia tay mà không hẹn ngày gặp lại. Mẹ cứ xa biền biệt, bỏ đi mà lòng quặn đau, biết rằng vắng Mẹ con cái sẽ bơ vơ. Bỏ lại cả một vùng đất mênh mông, con cái không có nhà thờ, cũng chẳng có bóng dáng linh mục.

Tại Thôn 1 Quảng Sơn, bà con làm một cái chòi nhỏ cắm rào chung quanh, tới giờ cầu nguyện mới đem tượng ra đặt; Cầu Gãy cũng thế, nhà nguyện lấy trời làm mái che. Đấy là những điểm tương đối dễ dàng, chứ ngay như Bon Phi Nao sát đường lộ, ngôi nhà để họp nhau cầu nguyện phải ẩn mình giữa mọi nhà…

Cũng may, trong giai đoạn này, bà con sống thành thôn theo bon của mình, chẳng hạn như thôn 4 Quảng Tín gồm 2 bon là Bù Tung và bù On; thôn 5 là Bù Sre, nhờ đó vẫn có thể nâng đỡ nhau vể đời sống đức tin, tuy nhiên các trẻ em thì chẳng được học giáo lý.

Mãi cho tới năm 1991, Mẹ mới mạnh dạn đi thăm các con và chỉ cho các con thấy nơi ở hiện tại của Mẹ, cạnh nhà thờ Lái Thiêu. Con cái bắt đầu bảo nhau tìm về với Mẹ, đem theo đói nghèo và bệnh tật, bao gồm cả những thương tật do dùng bùa ngải để hại nhau. Ngải độc, đó là một thứ vũ khí xa xưa bà con hay dùng để tự vệ, nhưng cũng dùng để hại người cho bõ ghét. Bà con bỏ bùa ngải lâu rồi, tuy nhiên, sau mười mấy năm xa mẹ vắng cha, đâu đó lại có người lén lút mua về.

Bệnh tật thông thường thì Mẹ lo được, chỉ cần dựng thêm mấy gian nhà làm trạm xá, đích thân Mẹ chữa trị, vì trước kia Mẹ cũng đã có thời gian làm bệnh viện, bệnh nặng thì đưa ra bệnh viện huyện, hoặc nếu cần chuyển lên thành phố. Cũng chịu Mẹ thôi, đi tới đi lui chỉ có chiếc xe gắn máy.

Thế còn những căn bệnh do ngải độc thì sao, những con bệnh mà khi gặp bác sĩ hỏi chỗ nào cũng khai đau, chụp chiếu thì chẳng thấy gì làm bác sĩ cuối cùng bó tay. Mẹ lại phải đem về đưa đi thầy ngải. và thật may mắn, thời gian này có thầy Vĩnh cũng quê gần Lái Thiêu, trước kia thầy tu ở dòng Don Bosco, sau này về trở thành thầy lang, và được ơn trừ ngải, luôn sẵn lòng chữa trị cho bà con.

Con cái càng lúc càng về đông, thêm các cháu nhỏ ở lại học nội trú, và đặc biệt, khắp các bon làng đã từ lâu khát lời Chúa, phải mở các lớp đào tạo giáo lý viên, có nghĩa là phải mở tung cửa nhà để đón con cái. Nhà Mẹ từ từ trở thành MÁI ẤM DÂN TỘC là lẽ đương nhiên. 

Chuyện kể nghe đơn giản thế đấy, nhưng trong thực tế thì sao? Cũng đơn giản lắm, vì một khi Mẹ sẵn tấm lòng bao la như biển thái bình thì làm sao tát nổi: càng xót thương con cái, Mẹ càng hết lòng tin tưởng và vững dạ cậy trông nơi Chúa.

Chuyến đi mới nhất của sơ Thérèse

Lòng Mẹ bao la, nhưng vòng tay nhỏ bé. Không sao, những năm tháng len lỏi giữa đoàn con nghèo khổ, đã lắm phen Mẹ ngẩn ngơ khi thấy bàn tay của Thiên Chúa vô hình định liệu và sắm sẵn tất cả, phải nói, Chúa thương người nghèo lắm, và luôn dành cho họ chỗ đặc biệt trong trái tim của Người.

Chuyến đi mới nhất của sơ Thérèse

Thời gian này chẳng hạn, khi cần một thầy dạy giáo lý, Chúa gửi đến một ông bố có khả năng truyền đạt và biết cách dẫn dắt bà con vào đời cầu nguyện, vì thế việc đào tạo các tay thợ cho cánh đồng lúa mới rất lẹ làng. Sau hơn một năm trời đào tạo, số giáo lý viên cho các làng cũng được khoảng một trăm, tất cả đã sẵn sàng cho một vụ mùa mới, không chỉ lo củng cố đời sống đạo của bà con, mà là đồng loạt lên đường vào ngày 01/01/1994, khắp nơi như mở hội vì người tin theo rất đông, tính đến ngày 01/01/1995, số người trở lại đã được trên ba ngàn, nhiều nhất là vùng Bù Đăng, Đak Nhau, vùng đất trước năm 1975, Mẹ vừa đặt chân tới chỉ được mấy tháng đã vội đi.

Lời Chúa lan tràn đến đâu, phải chọn một nhà để bà con họp nhau cầu nguyện, phải tuyển chọn người làng mới để đào tạo thành giáo lý viên, và nhà Mẹ lại phải mở rộng hơn nữa, giang rộng vòng tay để chào đón những người con mới trở lại, rồi còn phải chạy đôn chạy đáo để lo nâng đỡ bà con ngay tại buôn làng.

Một người Mẹ, chỉ có đôi tay đơn nghèo, với tấm lòng trong, vậy mà có thể ôm ấp đoàn con ở khắp nơi. Từ gần chục năm trở lại đây, đều đặn cứ 2 tuần một lần, Mẹ lại mượn xe tải, mượn thôi, chứ lấy tiền đâu mà thuê, đưa đủ thứ hàng lên Gia lai – Kon Tum: mì gói, bánh phở, bún khô, thịt cá, thuốc men, quần áo, nhiều lắm. Tất cả những thứ đó được rất nhiều người chung tay phụ giúp, từ các công ty thịt đông lạnh cho tới xí nghiệp chế biến, kẻ cho đồ ăn, vật dụng, người khác góp tiền để mua.

Mẹ được ơn gõ cửa, từ trái tim đến trái tim, để nơi vùng Tây Nguyên xa xôi, các bé ở nhà mồ côi, nhà mở, nhà các học sinh nội trú vùng sâu vùng xa, có được những bữa ăn ngon hơn, và bà con cách chung, có được quần áo và được phụ giúp thuốc men.

Chuyến đi mới nhất của sơ Thérèse đến Đak Nông, Gia Lai - Kontum và Khe Sanh

Chuyến đi mới nhất của sơ Thérèse đến Đak Nông, Gia Lai - Kontum và Khe Sanh

Chuyến đi mới nhất của sơ Thérèse đến Đak Nông, Gia Lai - Kontum và Khe Sanh

Chuyến đi mới nhất của sơ Thérèse đến Đak Nông, Gia Lai - Kontum và Khe Sanh

Hai năm nữa Mẹ sẽ mừng 60 năm sống đời dâng hiến. Một bà già xấp xỉ 80 mà vẫn có thể theo xe tải đem hàng từ Lái Thiêu lên Gia Lai – Kon Tum, phân phối đồ ăn nước uống xong, nghỉ ngơi chừng 3 tiếng đồng hồ, rồi lại theo xe tải về lại Lái Thiêu, gương mặt không vương chút mệt mỏi, lạ thật.

Đó là một con người có bộ xương huyền thoại hay là người của tình yêu và ân sủng:

Cả một đoạn đường dài ghi dấu thời gian hiến dâng: 25 năm của hành trình đức tin, 50 năm của lòng cậy trông và sắp tới đây là 60 năm hồng ân thánh hiến.

Vì tình yêu bắt nguồn từ Thiên Chúa (1Ga 4,7), tình yêu làm nên tấm lòng của Mẹ.

Một đời gắn đời mình với những người nghèo

Thứ Bảy, 1 tháng 2, 2020

Nguy hại của ‘Văn hóa Hiệu quả’

Nguy hại của ‘Văn hóa Hiệu quả’


WGPSG / Aleteia -- Hãy gấp rút trổ sinh hoa trái! 

Có một câu châm ngôn định hướng, dẫn dắt tư tưởng của con người trong xã hội hiện nay: “Giá trị của bạn tùy thuộc vào những gì bạn làm ra.” Cái nhìn thiển cận và không lành mạnh như thế về cuộc sống được tạo ra bởi một thứ “văn hóa hiệu quả”, đang lan tỏa khắp các lĩnh vực trong xã hội chúng ta. 

Câu châm ngôn đó cũng có thể mang những hình thức khác: Bạn chỉ thực sự hiện hữu khi bạn luôn hợp thời; bạn chỉ thực sự sống khi đến thăm càng nhiều nơi càng tốt; bạn chỉ có thể nhận được sự quý trọng nếu bạn làm việc nhiều nhiều hơn nữa. 

Tóm lại: giá trị của bạn phụ thuộc vào mức độ hiệu quả của bạn. Không có chỗ cho sự suy tư, thinh lặng, nghỉ ngơi hoặc sự yếu đuối! 

Hãy gấp rút trổ sinh hoa trái! Đây là một tiêu chí, ở mức độ nào đó, có nguy cơ đầu độc tinh thần của chúng ta, thu gọn không gian của con người, tạo ra các thế hệ của những con người bị kích thích quá mức, những con người không bao giờ giao tiếp được với chính mình, và bị mắc kẹt trong một vòng xoáy điên cuồng. 

ĐTC Phanxicô đã nói, chúng ta cũng cần phải suy nghĩ về văn hóa lành mạnh của sự nhàn tản, biết cách nghỉ ngơi. 

Mệnh lệnh thúc ép chúng ta làm việc và phải thu lấy kết quả tối ưu cũng ảnh hưởng và gây hại cho đức tin của chúng ta, đến mức tạo ra hình ảnh về một vị Thiên Chúa của hiệu quả. Đó là một vị Thiên Chúa đòi hỏi những thành tích hoàn hảo, không ngừng làm việc, và cũng phán xét chúng ta theo kết quả chúng ta đạt được. 

Bất cứ ai có cái nhìn như thế về Thiên Chúa sẽ làm việc nhiều hơn những gì đáng phải làm, nhưng nỗi ám ảnh đó sẽ quá mức. Sự nhiệt thành cho việc này hay việc khác được nuôi dưỡng bởi ý nghĩ “đây là cách bạn thực thi ý Chúa” hoặc “bạn phải vác thập giá của riêng mình.” Ẩn sâu bên trong, đó là làm điều lành nhưng không có chừng mực hoặc mất quân bình. 

Có những người vì lý do này mà luôn cố sức làm việc, nỗ lực dấn thân tối đa, không bao giờ thư giãn, không hề bận tâm đến ý niệm nghỉ ngơi trong cuộc sống của họ. 

Điều này đôi khi được phản ánh trong “học thuyết chuộc tội” và trong ý niệm rằng Thiên Chúa “sẽ trả cho mỗi người tùy theo việc họ làm.” 

Theo nhà phân tâm học Erik Erikson, điều này có thể đã được khắc sâu từ thời thơ ấu, ví dụ như khi cha mẹ đưa ra ‘cung cách đổi chác’: bạn chỉ có thể nhận được một lời khen, một giải thưởng hoặc một món đồ chơi từ cha mẹ “khi bạn hoàn thành nhiệm vụ của mình.” 

Những người triển khai cái nhìn về “một vị Thiên Chúa của hiệu quả” có thể sẽ bị kiệt sức; họ tập trung quá mức vào công việc, vào sự thành công và hình ảnh của mình, tuyệt vọng tìm kiếm sự tán thưởng cho việc họ làm, khi họ lao mình vào công việc một cách quá đáng. 

Theo Henri Nouwen, nhu cầu phải liên tục chứng minh tính hiệu quả của họ chính là con đường dẫn tới kiệt sức, là một dòng nước đục làm cạn kiệt năng lượng sống. 

Nói chung, những người này cũng trải nghiệm áp lực của sự kỳ vọng, nỗi sợ bị cạnh tranh từ người khác và nhu cầu phải kiểm soát mọi thứ - ngay cả cảm xúc của họ - để không được phép có một thiếu sót nào trong kết quả chung cuộc. 

Đôi khi, một ý nghĩ như vậy tạo ra một dạng của chủ nghĩa vị tha, mà thay vì là đức ái Kitô giáo chân thực và tốt đẹp, lại trở thành một cuộc chạy đua mất kiểm soát của chủ nghĩa hoạt động: làm nhiều, làm tốt hơn, làm mọi thứ! 

Rất nhiều lần hình ảnh này được củng cố bằng một bài đọc đầy tính hy sinh về sự cứu chuộc của Chúa Giêsu: “Người đã hy sinh thật nhiều cho bạn, nhưng bạn chưa làm bất cứ điều gì cho Người.” 

Người con thứ trong dụ ngôn Người Cha Nhân Hậu đánh giá mối quan hệ của mình với Người Cha bằng tiêu chí hiệu quả. Trên đường về nhà, cậu nhẩm tính: “Tôi sẽ nói với cha tôi rằng: Thưa cha, con đã sai và rằng, nếu được, con ít nhất cũng có thể là người làm công cho cha, nếu con không còn đáng là con của cha." 

Nhưng người cha trong dụ ngôn không chờ đợi đứa con trai tự biện minh hay giãi bày về kết cục thất bại của mình. Ông thậm chí không để cậu nói, mà thay vào đó, chạy đến ôm chầm lấy cậu. 

Với dụ ngôn này, Chúa Giêsu đã phá đi hình ảnh của một Thiên Chúa như Ông Chủ nghiêm khắc đặt những lỗi phạm của chúng ta lên bàn cân, và đong đếm tình yêu của Người dành cho chúng ta. 

Thay vào đó, Chúa Giêsu mời gọi chúng ta lắng nghe tiếng nói bên trong hằng thúc giục chúng ta, ngay giữa lúc hoạt động và thất bại, hãy trở về với Người bằng cả trái tim mà tận hưởng niềm vui của mái ấm và tình yêu, rồi sau đó mới tính đến mọi sự khác. 

Nhiều lần, Đức Giêsu đã thách thức não trạng thiên về hiệu quả. 

Khi Ngài muốn cho đám đông ăn, và thấy các Tông đồ “đang tính toán”, Ngài yêu cầu họ phải có niềm tin vào năm chiếc bánh và hai con cá của một đứa trẻ. Những thứ ít ỏi khi được cho đi, được chia sẻ với tình yêu, sẽ mang lại hoa trái hơn gấp nhiều lần những công việc mệt nhọc được thực hiện với sự đắn đo, cứng nhắc và lo âu. 

Một trong những dụ ngôn đẹp nhất của Chúa Giêsu đã dạy chúng ta rằng, khi Thiên Chúa thấy một cây trồng đã không sinh hoa trái trong ba năm, Người không nhìn ngay vào kết quả được tạo ra, nhưng kiên nhẫn và gia hạn thêm một năm nữa, mà trong thời gian đó chính Người sẽ bỏ công sức ra mà cắt tỉa và chăm bón cho nó. 

Tại làng Bêtania, lời trách móc ngọt ngào mà Chúa Giêsu dành cho Matta không phải là coi thường giá trị sự phục vụ và hành động của bà, nhưng là để nhắc nhở bà và nhắc nhở chúng ta rằng, nếu chúng ta chỉ quan tâm lo lắng về những việc cần làm, chúng ta sẽ bỏ lỡ phần tốt nhất: đó là niềm vui được gặp Chúa và lắng nghe Lời Người. 

Lm Francesco Cosentino (Aleteia) / Minh Lộc chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG

Thứ Hai, 6 tháng 1, 2020

Công việc truyền giáo của các nữ tu dòng Chúa Chiên Lành ở Papua New Guinea

PNG-POLITICS-BOUGAINVILLE-REFERENDUM
Phụ nữ Papua New Guinea  (AFP or licensors)

“Thật là khó mà tin rằng trong năm 2019 vẫn còn những người sống trong nghèo đói, hàng ngày phải ăn những hạt óc chó để cho vơi đi cơn đói cồn cào, vẫn còn những người chết vì lao phổi, những người sống trong những túp lều không có điện nước, đi chân không đến trường và đi học mà không có sách vở”. Đây là lời chứng của sơ Anna Pigozzo, người Ý, nhà truyền giáo dòng Chúa Giêsu Mục tử tốt lành ở giáo phận Bereina, nước Papua New Guinea.

Sơ Anna giới thiệu: “Chúng tôi là một cộng đoàn nhỏ các người nữ sống đời thánh hiến đi truyền giáo. Chúng tôi theo Chúa Giêsu trong sứ vụ gần gũi với người trẻ và trẻ em, ở miền nam Philippines và Papua New Guinea. Từ năm 2013, được Giám mục địa phương mời đến, chúng tôi đã hiện diện tại giáo phận Bereina. Ban đầu chúng tôi đến đây chỉ để có kinh nghiệm truyền giáo ngắn ngủi. Chúng tôi đã nhận ra tình trạng nghèo đói và khốn khổ ở một đất nước non trẻ của châu Đại Dương. Tình trạng mù chữ ở đây rất cao, có rất nhiều trẻ em chưa học qua lớp một. Trẻ sơ sinh chết non cũng cao nhất ở châu lục này. Các bệnh viện chỉ có ở thủ đô, trong khi tại các trạm xá của các làng ở những vùng xa xôi, như của chúng tôi, thỉnh thoảng mới có một y tá. Phương tiện truyền thông thì cũng hiếm hoi.”

“Giáo hội đã đến Papua New Guinea từ 130 năm trước và các thừa sai người Pháp và người Australia, các tu sĩ dòng Marist và dòng Thánh Tâm đã hy sinh sự sống để loan báo về Chúa Giêsu Kitô. Đó là một Giáo hội rất trẻ, vẫn cần rất nhiều sự hỗ trợ và hướng dẫn. Nhân dịp kết thúc năm phụng vụ, đức tân giám mục của giáo phận Bereina đã đến. Đức cha Otto Separy hiện nay đã quen với thực tế của vùng này.”

“Bên ngoài một số ít trung tâm thành phố, cấu trúc xã hội vẫn được tổ chức thành những ngôi làng với các túp lều và có một trưởng làng điều hành. Các phụ nữ và trẻ em không có giá trị gì, đến nỗi mà truyền thống mua vợ bằng cách đổi các gia súc vẫn còn được áp dụng. Trong mùa mưa, những ngôi làng thường bị lụt lội và những vườn rau, nguồn sống duy nhất của nhiều gia đình, thường bị thiệt hại. Ngay cả vào đầu năm nay, chúng tôi đã gặp những vấn đề nghiêm trọng do lụt lội gây nên.”

“Dẫu cho mọi thứ, vẫn còn đó hy vọng và chúng tôi có thể làm chứng về nó. Trong sáu năm này, chúng tôi đã nhìn thấy cách thế Thiên Chúa dọn đường cho việc truyền giáo. Với sự giúp đỡ của các thiện nguyện viên từ Ý và Philippines, làm việc với các trẻ em địa phương, một trường học đã được xây dựng và vào năm 2015, chúng tôi đã bắt đầu năm học đầu tiên với 140 trẻ em ghi danh học. Một số nữ tu dạy học, và chúng tôi có một nhóm giáo viên địa phương làm việc với chúng tôi. Tìm những giáo viên tốt thực sự là khó bởi vì trình độ giáo dục ở hệ thống các trường của Papua thì rất thấp. Từ năm 2016 chúng tôi cũng mở một trung tâm trợ giúp học tập cho người lớn, để họ có thể học tiếp chương trình học bị dở dang. Có rất nhiều người đăng ký học và đây là một dấu hiệu hy vọng to lớn đối với chúng tôi, điều chúng tôi nhìn thấy trên gương mặt của rất nhiều người trẻ và người lớn có cơ hội để trở lại trường học. Năm 2017 chúng tôi xây dựng một tiệm bánh nướng, tiệm bánh thánh Philípphê Neri. Mỗi ngày gần 50 ký bánh được sản xuất cho chúng tôi, các trẻ em và thiếu niên của chúng tôi, cho các bà mẹ làm việc giúp đỡ công việc truyền giáo của chúng tôi và cho rất nhiều người thường đến gõ cửa chúng tôi mỗi ngày.”

“Tiếp xúc với các trẻ em ở trường học, chúng tôi ý thức về tình trạng lạm dụng và bị đối xử tệ bạc đáng buồn của rất nhiều gia đình. Ở Papua New Guinea này, quyền của trẻ em và phụ nữ thường bị chà đạp. Năm 2018, với sự giúp đỡ của các thiện nguyện viên từ Ý và các cộng tác viên khác, nhà của các thiên thần được thành lập, ngôi nhà gia đình đón tiếp các thiếu nữ cần được bảo vệ và chăm sóc. Hiện nay chúng tôi có 10 thiếu nữ tuổi từ 3 đến 15 ở với chúng tôi.”

Papua New Guinea dành được độc lập từ Australia vào năm 1975. Papua New Guinea rất giàu về tài nguyên, với các mỏ dầu và khí đốt, vàng, đất đai phì nhiêu. Tuy thế, dù cho thiên nhiên giàu có, người dân ở đây vẫn ở trong tình trạng nghèo khổ, lạc hậu về văn hóa và nghèo nàn. Papua thường được gọi là ‘miền đất của bất ngờ’ và nó thực sự đúng như thế.”

Thứ Hai, 12 tháng 8, 2019

Bà Emma Morosini, 95 tuổi tiếp tục đi hành hương

Năm nay, bà Emma Morosini lên đường đi Czestochowa, Ba Lan

fr.aleteia.org, Marzena Devoud, 2019-08-08

Đây là một kỳ công phi thường. Để giữ lời hứa với Đức Mẹ cách đây 28 năm, bà Emma Morosini năm nay 95 tuổi sẽ đi bộ đến đền thánh Đức Mẹ Czestochowa ở Ba Lan. Bà Morosini trước đây là y tá, bà người gốc Castiglione delle Stiviere, một làng nhỏ gần hồ Garda vùng Lombardi nước Ý, bà quyết tâm đến đền thánh Czestochowa. Trong quá khứ bà đã đi bộ hàng ngàn cây số để đến viếng các đền thánh Đức Mẹ lớn nhất thế giới.

Trang bị áo gi-lê vàng cam, một cây gậy, một tràng chuỗi và chiếc xe đẩy, bà trung thành giữ lời hứa với Đức Mẹ cách đây 28 năm. Năm nay người phụ nữ có biệt danh “Forest Gump người Ý” sẽ đến đền thánh Đức Mẹ Đen Czestochowa. Bà đi từ đầu tháng 7 và đã đi được 250 cây số, bà đang ở trong vùng Pordenone, không xa biên giới Áo. Và chỉ còn… 750 cây số để đi. Về chỗ ngủ thì bà không tính trước, hoặc bà vào các nhà xứ hoặc các quán trọ bên đường. Trả lời trên đài truyền hình địa phương, bà Emma Morosini không giấu quyết tâm của mình, bà dí dỏm nói: “Tôi có dư giờ, tôi không có gì phải vội vã vì không có ai chờ tôi ở nhà”.

Tạ ơn Đức Mẹ “bao nhiêu tôi có thể”

Trên đường đi Ba Lan nhiều người lo lắng cho bà vì họ thấy bà đi dưới bầu trới nắng rát. Nhưng bà Emma Morosini trấn an họ, bà kể cho họ nghe kinh nghiệm đi bộ và giải thích cho họ biết bà mong muốn tạ ơn Đức Mẹ “bao nhiêu bà có thể”. Dù trời nóng bức nhưng bà mạnh khỏe. Xúc động trước quyết tâm của bà, huy động qua mạng xã hội, nhiều người báo cho các địa phương liên hệ chặng đường tiếp theo của bà để họ cho bà phòng trọ và bữa ăn.

Nhưng bà, chuyến đi của người được mọi người âu yếm gọi là “bà ngoại hành hương” không phải là chuyến đi đầu tiên. Tất cả bắt đầu cách đây 28 năm sau một cuộc giải phẫu nặng, bà hứa với Đức Mẹ sẽ đi viếng các đền thánh kính Đức Mẹ lớn nhất. Bà đã đi Lộ Đức, Fatima và cả nơi hành hương nổi tiếng Saint-Jacques-de-Compostelle. Biển cả đại dương cũng không là trở ngại của bà, bà đi máy bay đến Giêrusalem, Guadalupe ở Mêhicô, Aparecida ở Ba Tây, Lujan ở Argentina. Tổng cộng từ năm 1991 đến nay, bà Emma Morosini đã đi bộ hơn 30.000 cây số với hành trang là những gì cần thiết nhất trong chiếc xe đẩy… như thế dễ đi hơn là với túi đeo lưng, quá nặng ở tuổi của bà!

Marta An Nguyễn dịch



Gặp Đức Phanxicô ở quảng trường Thánh Phêrô ngày 22 tháng 4 năm 2015

Thứ Tư, 31 tháng 7, 2019

Cuộc đời của Á thánh María Concepción Cabrera, mẫu gương cho phụ nữ Công giáo

Á thánh Conchita

Maria Concepcion Cabrera, thường được gọi là Conchita là người phụ nữ đầu tiên của Mêxicô được tuyên Chân phước. Bà là một gương mặt tuyệt vời trong những vai trò khác nhau: người vợ, người mẹ, một góa phụ, người truyền cảm hứng cho nhiều hội dòng thánh hiến và sáng kiến tông đồ. Vẻ đẹp và sức mạnh của đời sống chứng nhân của bà bao gồm trong việc lựa chọn từ tuổi niên thiếu đến tận hiến cho Tình yêu Tuyệt đối.

Tình yêu gia đình

Chọn Thiên Chúa là Tình yêu tuyệt đối đối với Conchita có nghĩa là đón nhận thánh ý Chúa một cách rõ ràng: trong vai trò làm vợ và làm mẹ theo mẫu gương Mẹ Maria. Hơn nữa đối với Conchita hạnh phúc không phải là làm theo ước muốn thánh thiện cá nhân nhưng là tuân theo kế hoạch của Thiên Chúa. Vì thế, Conchita sống dâng hiến tuyệt đối trong kinh nghiệm làm vợ và làm mẹ; trung thành không mệt mỏi trong việc giáo dục 9 người con, không những về mặt thể chất mà trên hết là đời sống thiêng liêng. Conchita là một người mẹ gương mẫu thực sự: sẵn sàng khuyến khích những điều tích cực nơi các con nhưng cũng không quên sửa chữa những khuyết điểm của chúng.

Tình yêu dành cho Thiên Chúa

Khát vọng không ngừng về sự hiện hữu của nữ chân phước là sống "trong" trần gian này, nhưng không thuộc về nó. Conchita nói về Thiên Chúa một cách đầy xác tín và tự nhiên. Từ khi còn trẻ bà luôn ước muốn thông truyền đức tin cho người khác, ngay cả qua những bài viết của mình. Conchita luôn ý thức sự hiện diện của Thiên Chúa trong cuộc đời: yêu thích cầu nguyện trước Chúa Giêsu Thánh Thể, kết hợp thần bí với Chúa Kitô trong mọi giây phút. Từ đây làm phát sinh một tình mẫu tử thiêng liêng với các linh hồn.

Tình yêu đối với tha nhân

Từ tình yêu đối với Thiên Chúa làm nảy sinh nỗi day dứt không ngừng tình yêu đối với tha nhân, loan truyền khắp nơi sứ điệp tình yêu của Đức Kitô. Tâm hồn bà chảy lửa tình mẫu tử đặc biệt đối với những ai cần giúp đỡ và những người yếu đuối. Không có vấn đề nào mà bà không tìm cách giải quyết, không có nhu cầu nào mà bà không tìm cách trợ giúp. Để có thể giúp họ tốt hơn bà tìm cách sống giữa người nghèo, thích nghi với họ ngay cả hình thức bên ngoài để chia sẻ những khó chịu, khó khăn cuộc sống. Bà còn dâng hiến quảng đại cho các hoạt động của lòng thương xót: thăm viếng người bệnh và người chuẩn bị qua đời, trao cho họ lời khuyên.

Chân phước Conchita là trường hợp duy nhất trong lịch sử các tổ chức tôn giáo. Có 5 tổ chức đã được cảm hứng và thúc đẩy từ tinh thần của Conchita

Chân phước đã làm sống lại "công trình của Thập giá" qua các tác phẩm thiêng liêng, nhưng trên hết là cuộc sống chứng nhân. Chỉ sau mười sáu năm kết hôn người chồng ra đi; nhưng đau khổ lớn hơn khi chứng kiến cái chết của 4 người con. Tuy nhiên trước mỗi nỗi đau bà không mất đi sự thanh thản, không mất niềm tin vào Chúa, nhưng học dâng đau khổ vì thiện ích của Giáo hội và thế giới.

Hy sinh cầu nguyện cho các linh mục

Ước muốn tông đồ mạnh mẽ đó là cứu rỗi các lin hồn, ơn hoán cải người tội lỗi. Nhưng ước muốn mạnh mẽ nhất đối với chân phước đó là cho sự thánh thiện của các linh mục, vì thế Conchita cầu nguyện và hy sinh rất nhiều cho ý nguyện này.

Những giây phút khó khăn, đau khổ càng làm cho bà gần Chúa hơn, không làm cho bà mất niềm vui tự nhiên. Trong ngôi nhà của bà tràn ngập niềm vui và sống động: đơn sơ, dịu dàng, trìu mến là tính cách của bà. Những người con làm chứng: “Mẹ luôn luôm mỉm cười”. Xác tín tình yêu dành cho Thiên Chúa, bà mở lòng với một tâm hồn thanh thản trong niềm vui cũng như đau khổ. Bà là một phụ nữ có tính cách mạnh mẽ, được ban tặng những món quà đặc biệt, một phụ nữ cầu nguyện và nhiệt thành tông đồ; một người đi trước thời gian, tìm thấy trong mình sức mạnh đạo đức để trở thành người lãnh đạo trong lãnh vực xã hội cũng như Giáo hội.

Chân phước Conchita kết hợp tuyệt vời giữa suy niệm và hành động: đó là khuôn mặt Tin Mừng của Matta và Maria. Conchita đích thực là mẫu gương cho con người ngày nay đặc biệt đối với phụ nữ: một mẫu gương về đời sống tông đồ, cầu nguyện. Tâm trí bà hướng về trời cao nhưng đôi mắt nhìn xuống mặt đất; tôn thờ và ca tụng sự vĩ đại của Thiên Chúa và quan tâm đến những khốn cùng và những nhu cầu của con người.

Thứ Tư, 15 tháng 5, 2019

Bà Marie-Hélène Valdant, hề của Chúa Nhân Lành


diocese-avignon.fr, 2017-12-15

Làm sao để khơi dậy, để rao giảng Tin Mừng với chiếc mũ đỏ, với bộ áo hề: bà Marie-Hélène Valdant là người phụ nữ trình diễn đầy sức sống, đầy niềm vui nhưng không mất một chút gì nghiêm túc.

Phỏng vấn bà trên kênh Truyền hình Công giáo Pháp Vaucluse 

Xin bà kể cho chúng tôi nghe quá trình dẫn bà đến con đường này?

Con đường này bắt đầu 24 năm trước đây khi chồng tôi qua đời; chúng tôi biết Chúa Nhân Lành một tháng trước khi chồng tôi qua đời.

Một cuộc trở lại sao?

Đúng, hoàn toàn và chớp nhoáng! Tôi không thấy gì hết, không nghe gì hết, nhưng một tình yêu vô tận chiếm lấy tôi trong từng sớ thịt với một niềm vui không tả được! Một cảm giác rất khó giải thích, nhưng chỉ trong tíc tắc là tôi hiểu trọn. Không cần đầu óc mới hiểu được, nhưng là quả tim. Khi đó ngay lập tức tôi muốn cầu nguyện, cùng với chồng tôi, chúng tôi trở về với Giáo hội…, chúng tôi chưa bao giờ cầu nguyện chung, chưa bao giờ giữ đạo! Anh trở lại trước tôi 4 giờ cùng ngày, khi chúng tôi gặp lại nhau, chúng tôi không nói gì, chỉ khóc vì chúng tôi biết mình đã hiểu! Chúng tôi bắt đầu cầu nguyện với Chúa Lòng Lành và như thế được một tháng!

Điều này đã cho bà một sức mạnh không tưởng tượng được để vượt lên?

Rõ ràng là như vậy, nếu không có chuyện này thì tôi không biết làm sao có thể vượt lên giai đoạn khó khăn này! Tôi có sáu đứa con để nuôi dạy, khi đó tôi khá trẻ, và đó là một cú sốc… sốc với tình yêu của Chúa và như thế kéo dài từ 24 năm nay.

Mới đầu tôi cũng tự hỏi, chuyện này có kéo dài không, nhưng trên thực tế, đúng là niềm vui Tin Mừng, “không có gì có thể lấy đi của tôi được”. 

Bà có an ủi được con cái không?

Tôi không biết, nhưng tôi nghĩ trẻ con sống và mình sống chung với nó; chúng không trở lại như tôi – và đó là niềm đau khổ lớn của tôi -, nhưng rồi chúng sẽ trở lại vì tôi có cầu xin! Tin Mừng đã nói, “hãy tin thì sẽ được!” Ngày đó sẽ đến! có thể tôi không được thấy, nhưng chắc chắn sẽ đến! 

Bà có giữ được sự hiện diện của chồng bà?

Có chứ, luôn luôn! Tình yêu không bao giờ chết. Đó không phải là kỷ niệm của một tình yêu, nhưng là một tình yêu hiện diện, một tình yêu sống. Chồng tôi là trụ cột trên trời, còn tôi chèo chống ở trần gian này! Anh giúp chúng tôi, còn tôi thì hiệp thông với anh không ngừng… như với Chúa Kitô: chúng ta không thấy Chúa, nhưng Chúa ở đó! 

Như vậy bà luôn được bảo bọc?

Đúng, tôi được chồng tôi, Chúa Kitô và Mẹ Maria… như thế có ba người ở bàn ăn! Và họ lại không ăn nhiều, tốt cho tôi vì tôi nấu ăn không giỏi!

Chỉ sau khi chồng bà qua đời người ta mới đề nghị bà theo học khóa làm hề!

Đúng, chỉ một tuần sau khi chôn nhà tôi, tôi đồng ý ngay vì khóa này ở gần Dijon và tôi thích ngay lập tức! Tôi thấy đây đúng là con đường của tín hữu kitô: con đường tự do, con đường để tìm lại trái tim trẻ con của mình, niềm vui sống với các cảm xúc, không sợ nói lên cảm nhận của mình, được khóc, được cười như một đứa bé. Khi tôi đến bệnh viện, không phải ngày nào cũng màu hồng: trước một em bé ở giai đoạn cuối cuộc đời, hề của Chúa không phải là con rối: phải nói những gì mình sống, những gì mình cảm nhận, không được làm ra vẻ. Như thế đòi hỏi phải thay đổi tất cả và người tín hữu phải như vậy! Mình phải là mình mới đón nhận người khác được. Phải tìm tâm hồn trẻ thơ, bản chất và sự tự do của em bé.


Mới đầu bà vào bệnh viện?

Đúng, mới đầu chúng tôi dựng chương trình “Cỏ ba lá với 4 hề” ở thành phố Dijon và chương trình kéo dài đã được 24 năm. 

Nhưng tổ chức đã tiến triển?

Đúng, vì trong bệnh viện mình không thể nói về Chúa. Nhưng ngược lại, rất nhanh chóng người ta xin tôi nói về những gì đã xảy ra và vì tôi có con đường của Chúa song song với việc làm hề, nên dần dần tôi nhảy từ chuyện này qua chuyện kia. Từ từ trong vòng 20 năm, tôi xây dựng được “buổi trình diễn”… nhưng tôi không thích chữ trình diễn, đúng hơn là buổi trò chuyện với khán giả: trẻ con, người lớn, các linh mục, các hiệp hội…


Nhiều người yêu cầu?

Đúng; mỗi buổi sáng tôi đọc lời cầu nguyện của chân phước Charles de Foucauld: Con xin phó thác vào Chúa Nhân Lành, xin Ngài làm cho con theo như Ngài muốn! Chúa là Thầy của tôi và với Ngài mình không bao giờ thất nghiệp! 

Bà chuẩn bị buổi làm việc của bà như thế nào?

Tôi bắt đầu bằng cầu nguyện; dĩ nhiên khi nào cũng có một chủ đề đã được chọn, nhưng với tôi, cầu nguyện là điều chính. Tôi, tôi không tìm gì hết vì tôi không có mục đích thương mại; tôi không làm vì tôi; tôi muốn mang niềm vui của Chúa cho tất cả những ai ở đó vì đó là động lực của tôi, với đôi đũa thần tôi thích mang đức tin đến cho mọi người! Thật là thích thú và đó là niềm vui rao giảng Tin Mừng! 

Khán giả cười nhiều trong các buổi trình diễn của bà?

Họ cười hay khóc tùy! Còn tôi thì có khi tôi khóc trên sân khấu! Vì hề là thật, họ nói những gì họ sống, họ sống những gì họ nói… và vì vậy đã có khi tôi khóc trên sân khấu, rồi cười! Nhưng đó là cuộc sống: mình không thể nào cất đi đau khổ, có cả đau khổ và cả hạnh phúc! 

Bà dựng buổi trình diễn của bà như thế nào? Bà có mang đời sống của mình lên sân khấu không?

Có và không: Tôi đến với đời tôi và đời tôi thì đủ chuyện, với một dụng cụ: một thập giá lớn, các gói của tôi thì trên con quỷ (vì thế có thập giá cũng như có quỷ!); và cũng có Chúa Thánh Thần, trái tim của Chúa. Tôi dựa trên dụng cụ như trò chơi, trực quan và đầy màu sắc này, tôi theo chủ đề và nó sẽ đi theo cảm nhận của tôi, những gì tôi đang thấy trong phòng. Và khi có phản ứng của khán giả, lập tức tôi nắm ngay những gì vừa nghe: hề là lúc nào cũng sống với giây phút hiện tại.

Không phải khi nào tôi cũng đi ra ngoài ‘dụng cụ’ của tôi. Tôi giải thích làm thế nào mà con người làm việc: với quả tim, với thân thể, với bộ óc và theo chủ đề đã vạch, tôi sẽ nghiêng về điểm này hoặc điểm kia. Dần dần tôi bắt đầu để một chút hương vị của đời tôi vào, và đó cũng là hương vị cuộc đời của mọi người. 

Bà đến diễn ở các trường học, mỗi nơi một chút?

Đúng, trong trường học, trong các tổ chức đủ loại như ngày kỷ niệm 40 năm thành lập tổ chức Đức tin và Ánh sáng (Foi et Lumière) hay Lộ Đức với người trẻ. 

Và cả với các sinh viên ở các trường lớn?

Đúng, ở Angers cách đây 2 năm ở Cung Hội nghị (Palais des Congrès) và tựa đề là: “Từ buồn bã đến phúc thật”. Tôi rất thích chủ đề này. Các chủ đề quay chung quanh niềm vui, niềm vui Tin Mừng, niềm vui kết nối với Chúa, với trên trời! Và tôi nghĩ tôi đã truyền được niềm vui, vì tôi thực sự sống với nó. Không phải như trong vở kịch mình đóng. Tôi không đóng kịch, tôi như vậy, tôi thật sự sống với những gì tôi nói! 

Và bà mặc y phục hề?

Ở bệnh viện, bộ y phục làm bung dáng vẻ bề ngoài để từ trái tim này đến trái tim kia. Y phục có nhiều màu sắc và tôi rất thích màu sắc; nó làm cho vui như trò chơi. Khi mình là hề thì quả tim mở ra… kể cả khi tôi đặt mũi vào tay lái! 


Bà có hai ăng-ten nhỏ trên mũ?

Đúng, đó là quả tim của Mẹ Maria và của Chúa Giêsu!

Và bà đặt tên cho bà là “hề của Chúa Nhân Lành!”

Đúng, tôi cũng muốn tìm tên khác nhưng cuối cùng là tên đó: nhận biết sự nhỏ bé của mình, là kitô hữu biết mình là kẻ có tội nhưng cùng một lúc, mình cũng nhận ra sự cao cả của mình khi mình té và mình đứng dậy, vì không có gì là mất đi, và mình khởi đi rồi lại bị té… đó là cuộc sống chúng ta! 


Bà làm như vậy trong mục đích nào?

Tôi, tôi chỉ có một ước muốn: khán giả tìm được niềm vui mà tôi có. Tôi không thể hoán cải tất cả mọi người bằng đôi đũa thần, nhưng tôi muốn thức tỉnh, khơi dậy niềm vui nơi những người tôi gặp. Nơi tất cả những người xem tôi, chắc chắn sẽ có người trở nên không tốt, mà nếu cuối đời của họ, họ nhớ lại có một quả tim hồng và Chúa Nhân Lành ở trong quả tim hồng, như thế là tôi đã giành được ít nhất là một người… cũng có thể hơn!

Marta An Nguyễn dịch

Thứ Hai, 25 tháng 3, 2019

Giải quyết khó khăn thường nhật theo gương Mẹ Maria


Mỗi một vấn đề xảy đến trong cuộc sống luôn đòi hỏi ta phải giải quyết. Giải quyết dược vấn đề cách tốt đẹp theo con mắt người đời đã khó, giải quyết chúng theo lời mời gọi của Thiên Chúa thì thật thách đố biết bao! Đoạn Tin Mừng thánh Luca thuật lại biến cố Truyền Tin cho chúng ta một phương pháp tuyệt vời để đới diện với các vấn đề ập đến trong cuộc sống.

Ngay sau lời chào của sứ thần, chúng ta bắt gặp hình ảnh của một người con gái trẻ tuổi trong tâm trạng âu lo, sợ hãi. Maria ngỡ ngàng trước lời chào của sứ thần, lời chào: “Mừng vui lên hỡi Đấng đầy ân sủng, Đức Chúa ở cùng bà”. Lời ấy khiến Mẹ phải bối rối như lời thánh sử Luca ghi lại: “Mẹ đã bối rối và tự hỏi trong lòng”. Mẹ không hề phản đối hay ít là tỏ thái độ. Mẹ cũng không cất lời để chất vấn lại sứ thần đang diện hiện sẵn sàng trước mặt mình. Nhưng Mẹ nhìn vào sâu thẳm trong tâm hồn và tự hỏi chính mình, như một cuộc hồi tâm nhanh chóng trong phút chốc trước biến cố bất ngờ. Một con người của cầu nguyện! Có lẽ Mẹ rất quen với việc hỏi ý kiến của Chúa trước khi hành động, trước khi phản ứng! Chính trong thái độ kiếm tìm Ý Chúa, Mẹ đã gặp được sự an ủi của sứ thần. Bài học đầu tiên cho chúng ta trong ngày hôm nay khi chiêm ngắm Mẹ. Cuộc sống không thiếu những lần dẫn chúng ta tới hoàn cảnh tương tự. Khi có một công việc đột xuất, một biến cố bất ngờ, một nguồn dư luận chói tai, một lời góp ý không dễ nghe,… trong những cảnh huống đó, lời Mẹ như đang mời gọi ta: hãy biết bình tâm trước cuộc sống mỗi khi nó đòi hỏi ta phải đưa ra một quyết định, một cách hành xử hay một phản ứng!

Trong thái độ bình tâm kiếm tìm Thánh Ý Chúa, Mẹ nhận ra sự đáp lời của Thiên Chúa ngay trong tâm hồn và trong hoàn cảnh đang phải đối diện. Sự an ủi của sứ thần dành cho Mẹ như một bảo đảm với mỗi chúng ta rằng Thiên Chúa sẽ đáp lời bao lâu ta còn thiết tha kiếm tìm Ý Ngài. Thực tế cuộc sống cho thấy một vấn đề, nhiều khi con người mất kiên nhẫn trước sự chậm trễ của Thiên Chúa. Nhìn lên Mẹ ta hãy tự vấn chính mình: Liệu tôi có thực sự tìm kiếm Thánh Ý Chúa, có sẵn sàng lắng nghe hay lắng nghe có chọn lọc? Nếu là lắng nghe có chọn lọc thì ta đang nghe tiếng mình chứ đâu phải kiếm tìm Ý Chúa! Cuộc sống này chỉ viên thành khi con người biết lắng nghe Ý Chúa và thực thi ý định đó mà thôi! Dẫu rằng lắng nghe tiếng Chúa là một điều khó nhưng sống tiếng Chúa vang vọng trong lòng thì còn khó biết chừng nào vì “con đường xa nhất là con đường từ đôi tai đến đôi tay”. Kinh nghiệm cuộc sống cho ta thấy được rằng chỉ ý mình mới là vuông tròn thôi. Nhưng cuộc đời đâu phải sống cho chính! Theo gương Mẹ ta cũng xin được ơn kiên trì kiếm tìm Ý Chúa trong hoàn cảnh. Chỉ khi con người kiên trì tìm kiếm và lắng nghe thì mới ước mong có một quyết định sáng suốt và đẹp lòng Chúa.

Đứng trước một cảnh huống không thể hiểu được, Mẹ đã sẵn sàng đối thoại để thắc mắc của mình được giải tỏa. Sứ thần của Thiên Chúa đã ân cần trong cuộc đối thoại để giúp Mẹ thấu hiểu Ý Chúa. Điều Mẹ tưởng là không thể và quả thực là không thể với con người thì với Thiên Chúa không có gì là khó. Đó chính là sự can thiệp của Thiên Chúa trong cuộc đời của mỗi con người. Cuộc sống này rất cần sự đối thoại! Đối thoại để hiểu nhau hơn, đối thoại để nối kết tình thân trong cuộc sống này. Đối thoại là con đường ngắn nhất để con người đến với nhau một cách thân tình và chân thành. Mẹ đã trở nên rất thân thiết với sứ thần của Thiên Chúa sau cuộc đối thoại chân thành thì điều này cũng sẽ đến trong các mối tương quan của cuộc sống nếu ta biết lưu tâm đến việc đối thoại. Thiên Chúa ban cho con người có miệng lưỡi để diễn đạt ý hướng của mình, để tạo tình thân với mọi người và đặc biệt để cùng nhau ca tụng Chúa. Dẫu là một đặc ân nhưng liệu ta có quảng đại trong lời nói hay không? Ta có sẵn sàng đối thoại mỗi khi có những trắc trở với chị em trong cuộc sống dù đó là sự cần thiết!

Lời đáp cuối cùng của Mẹ: “Vâng, tôi đây là nữ tỳ của Chúa, xin Chúa cứ làm cho tôi như lời sứ thần nói”. Lời “xin vâng” của Mẹ làm cho cả trời đất được vui mừng và là một mối phúc lành cho cả thế giới. Như Mẹ Maria đã quảng đại và sẵn sàng vâng nghe tiếng Chúa dẫu Mẹ cũng không biết trước được tương lai và những khó khăn sẽ đến trong đời Mẹ sau tiếng “xin vâng”, xin cho mỗi chúng ta cũng biết vâng theo Ý Chúa trong đời sống hàng ngày. Xin vâng là liều mình bước vào một hành trình mới trong quỹ đạo của Chúa. Xin vâng là hi sinh chính bản thân mình để Ý Chúa được thể hiện.

Mẹ Maria đã sống một đời thánh thiện nhờ sự kết hợp mật thiết với Thiên Chúa, nhờ sống thánh Ý Chúa trọn vẹn trong cuộc sống. Những bước có vẻ rất đơn giản để giải quyết vấn đề trong cuộc sống: bình tâm nhìn lại mình, kiếm tìm Ý Chúa qua việc bàn hỏi với người không ngoan, lắng nghe tiếng Chúa qua đại diện của Ngài, quảng đại và sẵn sàng thưa “xin vâng”. Nhưng để học và hành được là điều không hề dễ với mỗi chúng ta! Xin Mẹ chuyển cầu cùng Chúa ban ơn thêm sức cho từng người con yêu của Mẹ để mỗi người biết bước từng bước trong khi giải quyết các vấn đề của cuộc sống theo gương Mẹ. Đó như là một cách giúp chúng ta tiến đến trên con đường thánh thiện mà Chúa đang mời gọi mỗi người. Ước mong mỗi ngày chúng ta tiến gần Chúa hơn theo bước chân dẫn đường của Mẹ!

Mary Rose, Nguyễn Thị Hường, MTG Tân Lập
(Bài viết được tác giả gửi đến dongten.net)

Thứ Hai, 11 tháng 3, 2019

Phụ nữ Công giáo đầu tiên ở Bangladesh làm thư ký cho thủ tướng

Phụ nữ Bangladesh
Phụ nữ Bangladesh   (ANSA)

Bà Nomita Halder, phụ nữ Công giáo Bangladesh đầu tiên được bổ nhiệm làm thư ký cho thủ tướng. Bà mời gọi các Kitô hữu dấn thân hơn nữa vào chính trị. Theo bà lý do tại sao có một Ngày dành cho phụ nữ, và không có ngày cho nam giới, bởi vì phụ nữ chưa thực sự được giải phóng. Cần phải trao quyền quyết định cho phụ nữ.

“Để có thành công, phụ nữ cần sự hậu thuẫn từ phía gia đình, cộng đoàn và Giáo hội”. Bà Halder khẳng định điều này trong dịp ngày Quốc tế phụ nữ. Bà là người phụ nữ Công giáo đầu tiên được bổ nhiệm làm thư ký riêng cho thủ tướng Banglades. Bà Halder tự nhận mình là “sản phẩm của Giáo hội Công giáo”. Bà nói: “Tôi đã theo học ở các trường do Giáo hội Công giáo điều hành. Các linh mục, nữ tu là mẫu gương của tôi. Tôi được dạy về kỷ luật, thức dậy sớm, không buôn chuyện, đến trường và nơi làm việc đúng giờ. Tôi đã tuân theo tất cả những điều dạy này ngay cả khi tôi thi hành nhiệm vụ của mình”.

Bà Halder là giáo dân thuộc Giáo phận Khulna. Nhờ sự trợ giúp của Giáo hội bà đã theo học tại đại học Nông nghiệp Mymensingh. Bà cho biết chính bà được Đức cha Michael Rozario, lúc đó là Tổng giám mục Dhaka và cha Marino Rigon, nhà truyền giáo 60 năm ở Bangladesh thường xuyên thăm viếng, động viên bà.

Vào năm 2014 bà được bổ nhiệm là thư ký riêng cho thủ tướng Sheikh Hasina. Bà cho biết: “Cuối cùng thì chúng ta sẽ có thể nói rằng ngày Quốc tế Phụ nữ thực sự là ngày của phụ nữ khi phụ nữ có thể đưa ra các quyết định trong gia đình, tại nơi làm việc và ngoài xã hội. Lý do tại sao có một Ngày dành cho phụ nữ, và không có ngày cho nam giới, bởi vì phụ nữ chưa thực sự được giải phóng”.

Theo bà nếu thực sứ muốn cải thiện tình trạng của phụ nữ trong thế giới, cần phải trao quyền quyết định cho phụ nữ. Bà nhấn mạnh rằng các bạn trẻ Kitô không biết có những chỗ dành cho họ trong hành chính công cộng. Bà mời gọi các bạn trẻ học tập và thử trải nghiệm dấn thân trong các nơi này.

Trong thời gian tham gia vào chính trị bà đã trợ giúp cho nhiều người nghèo và các Kitô hữu. Bà cho biết các bộ lạc không biết rằng họ có thể được lãnh nhận các khoản trợ cấp của chính phủ để xây dựng nhà, chăm sóc y tế. Chính bà đã trợ giúp họ hiểu quyền của họ.

Bà Nomita Halder nghỉ hưu vào tháng 9 năm ngoái, hiện nay bà đang chuẩn bị tham gia vào việc giảng dạy ở đại học, để tiếp tục dấn thân vào đời sống xã hội. Bà khuyến khích các kitô hữu tham gia vào chính trị vì “Bước vào chính trị. Các bạn đã có phẩm chất của một chính trị gia tốt và các bạn có thể phục vụ quốc gia”.

Thứ Ba, 19 tháng 2, 2019

Phỏng vấn sơ Maria Đặng Thị Hoàng về trại phong Quy Hoà



Trại phong Quy Hoà được nhiều người biết đến vì gắn liền với tên tuổi nhà thơ Hàn Mặc Tử, chúng tôi xin gởi đến quý vị một cuộc phỏng vấn ngắn với sơ Maria Đặng Thị Hoàng, Dòng Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ, đã nhiều năm phục vụ tại trại phong Quy Hoà.


Thực hiện: Văn Yên, SJ

Link trả lời phỏng vấn trên Youtube: https://youtu.be/-lLhv0iuWx0

Các câu hỏi phỏng vấn: 

1. Xin sơ giới thiệu đôi chút về trại phong Quy Hoà!

2. Thưa sơ, số lượng hiện tại là bao nhiêu ạ?

3. Xin sơ cho biết các bệnh nhân được trợ cấp như thế nào?

4. Thưa sơ, việc hội nhập của họ / con cái họ với cộng đồng thế nào?

5. Bình thường khi nói đến trại phong thì sẽ thấy khổ và thiệt thòi rồi. Nhưng con xin có một câu hỏi ngược một chút. Cuộc sống thì luôn cần có những niềm vui và hy vọng, vậy xin sơ cho biết các bệnh nhân có những niềm vui nào trong cuộc sống của họ?

6. Để chăm sóc bệnh nhân thì cũng cần đến chuyên môn, vậy có phải tất cả các sơ đều học về y tế, hay có các mảng khác các sơ có thể dấn thân tại đây mà không đòi hỏi chuyên môn y tế?

7. Xin sơ kể một kinh nghiệm của sơ với trại phong Quy Hoà này.

Xin cảm ơn sơ!

Kính chúc sơ và cộng đoàn các sơ Phan Sinh Thừa Sai Đức Mẹ Quy Hoà luôn tràn đầy niềm vui trong việc phục vụ. Xin Chúa cũng chúc lành và luôn đồng hành cùng các bệnh nhân!

Thứ Sáu, 11 tháng 1, 2019

Hoạt động truyền giáo của các nữ tu thuộc hội dòng Đức Maria Vô Nhiễm ở Hồng Kông

Đức Maria Vô Nhiễm

Giáo dục, đào tạo, chăm sóc sức khỏe, giúp đỡ người vô gia cư và tù nhân; đây là các hoạt động bác ái của các nhà truyền giáo tiên khởi của một nhánh nữ thuộc Hội Giáo hoàng truyền giáo hải ngoại ở Hong Kong (Pime) đang thực hiện. Vị đại diện bề trên nói: "Chúng tôi gieo hạt, không quá bận tâm đến việc có bao nhiêu người trở lại". Một thánh lễ được cử hành để ghi nhớ ngày 11/9/1968, ngày hai nữ tu đầu tiên sơ Theresa Pathickal và sơ Maddalena Pirodda đến Hong Kong.

Những người trẻ, chủ nghĩa tiêu dùng và một cuộc sống vật chất đi quá xa; là những thách thức đang chờ đợi sứ vụ của Giáo hội tại Hồng Kông. Các nhà Truyền giáo Đức Maria Vô Nhiễm đáp trả ơn gọi của mình qua việc "trở thành những dụng cụ khiêm nhường, một sự hiện diện Kitô giáo gần gũi và hỗ trợ những người đau khổ". Đây là những gì sơ Luigia Mindassi, đại diện cấp trên của các nữ tu, người đã làm việc trong lãnh thổ gần 40 năm chia sẻ. Sơ nói: "Không phải lúc nào cũng có thể nói về Chúa Giêsu, nhưng ngay cả cách chúng tôi chào hỏi mọi người hay sự chú ý, quan tâm mà chúng tôi dành cho họ cũng có thể là một việc làm chứng cho đức tin".

Vào ngày 2 tháng 12, chi nhánh nữ của Hội Giáo hoàng truyền giáo hải ngoại đã tổ chức Thánh lễ kỷ niệm 50 năm, ngày các nhà truyền giáo đầu tiên đến thuộc địa cũ của Anh. Thánh lễ được Đức cha Michael Yeung Ming-cheung chủ tế trong nhà thờ thánh Cosma và Damiano ở Tsuen Wan, với sự tham gia của khoảng 700 người. Trong số này có sơ Theresa Pathickal đến từ Ấn Độ, nữ tu đầu tiên đến Hồng Kông vào ngày 11 tháng 9 năm 1968 cùng với Chị Maddalena Pirodda.

Với việc thành lập trường Phaolô VI, trường cấp hai dành cho nữ sinh ở quận Shek Lei, năm 1969 đánh dấu khởi đầu hành trình dấn thân trong lĩnh vực giáo dục của các nữ tu. Trường là một trường công lập, có chương trình đào tạo theo các chương trình được chính phủ phê duyệt. Sơ Luigia nói:"Tuy nhiên, chúng tôi có thể tự do đưa ra một cách tiếp cận Công giáo cho nền giáo dục mà chúng tôi cung cấp". Viện này đã sớm trở thành một điểm tham chiếu cho giáo dục trong lãnh thổ, hiện trường đang có 800 thiếu nữ theo học, 40 trong số họ là Công giáo.

Một lĩnh vực truyền giáo khác mà từ những năm đầu tiên đã là mục tiêu chính của Hội dòng đó là chăm sóc sức khỏe cho người khuyết tật. Trong công việc của mình, các nữ tu làm việc chủ yếu với các tổ chức giáo phận và giáo xứ ở Hồng Kông. Sơ phụ trách giải thích: "Chúng tôi cố gắng hướng cộng đoàn ra thế giới bên ngoài, đặc biệt là những người không phải là người Công giáo và người nghèo". Các nhà truyền giáo tham gia tích cực vào thừa tác vụ mục vụ của các giáo xứ và đồng hành cùng người dân trong việc dạy giáo lý. Sơ Luigia nói: "Chúng tôi cũng muốn đến gần các bé trai và bé gái hơn, đến gần những người thiếu thốn trong xã hội".

Vì lý do này, các nữ tu thường xuyên đến thăm các tù nhân trong các nhà tù ở Hồng Kông. Một số sơ tham gia vào các nhóm tôn giáo, những người khác hoạt động trong các nhóm không tôn giáo. Các sơ quan tâm đặc biệt đến những phụ nữ đang mang thai trong thời gian thụ án tù. Các sơ chuẩn bị cho họ sinh con và dạy họ cách chăm sóc đứa trẻ, cố gắng làm cho họ trở nên bình yên hơn. Một nhóm các sơ khác đến thăm các tù nhân không phải là người Trung Quốc, với những người này các chị đọc Tin Mừng và chia sẻ những giây phút cầu nguyện cùng với họ.

Một hoạt động khác được các nữ tu thực hiện là hoạt động bác ái giữa những người vô gia cư trong thành phố. Những người này thường là nạn nhân của nghiện ma túy. Sơ Luigia giải thích rằng việc lôi kéo họ theo đạo không phải là mục tiêu chính của các nữ tu. Các sơ cho rằng nhiệm vụ của các sơ là gieo hạt giống vì mỗi người đều có quyền nhận Tin Mừng. Có lẽ các sơ sẽ không bao giờ thấy họ trở lại, nhưng đối với các nữ tu, sự hiện diện và làm chứng Kitô giáo là quan trọng. Những gì còn lại là một dấu vết, một liên kết rất mạnh mẽ với những người các sơ gặp gỡ.

Sơ chia sẻ: "Vài năm trước, trong Thánh lễ Phục sinh, tôi đã gặp một người đàn ông, do vợ anh đưa tới, anh bắt đầu theo học giáo lý khi tôi vẫn còn lãnh trách nhiệm về việc đó. Tôi chúc mừng anh và anh ước muốn chia sẻ một kỷ niệm. Anh hỏi tôi: 'Sơ có nhớ khi sơ nói với chúng tôi: Đừng đợi tóc bạn trở nên trắng như tôi mới quyết định? Vâng, tôi đã lắng nghe sơ. Chúng ta không biết khi nào, nhưng những lời chân thành chạm đến trái tim của mọi người và có thể mang đến những điều tốt đẹp”.

Hiện tại, các nữ tu dòng Đức Maria Vô Nhiễm ở Hồng Kông là 12 chị, hiện diện ở 3 cộng đoàn, mỗi cộng đoàn có 4 nữ tu. Một nửa số chị ở độ tuổi khoảng 40, trong khi phần còn lại đã ngoài sáu mươi. Họ là người Ý, người Brazil, người Ấn Độ và người Trung Quốc. Theo yêu cầu của luật dòng, kêu mời họ ra đi, hai nữ tu từ Hồng Kông đang đi truyền giáo ở nước ngoài, tại Brazil và Bangladesh.

Thứ Tư, 5 tháng 9, 2018

Mẹ Têrêsa Calcutta – người gặp Chúa nơi người nghèo và đau khổ



Mẹ Têrêsa … đã cúi xuống trên những người hấp hối bị bỏ mặc cho chết ở bên vệ đường vì mẹ nhận ra phẩm giá mà Thiên Chúa đã ban cho họ…. Sứ vụ của mẹ ở những khu ngoại ô của thành phố và trong những cảnh đời bị gạt ra ngoài vẫn tồn tại đến ngày hôm nay là chứng tá hùng hồn về sự gần gũi của Thiên Chúa với những người nghèo khổ nhất trong những người nghèo…. Tôi nghĩ rằng, có lẽ, chúng ta hơi có khó khăn khi gọi mẹ là thánh Têrêsa: sự thánh thiện của mẹ quá gần với chúng ta, quá dịu dàng và tích cực đến nỗi chúng ta ngay lập tức gọi mẹ là Mẹ Terêsa.” Đó là những lời ĐTC Phanxicô nhớ về Mẹ Têrêsa trong Thánh lễ tuyên phong mẹ lên hàng hiển thánh vào ngày 04/09/2016.

Đến với người ở bên lề xã hội

Một nữ tu bé nhỏ với nụ cười tỏa sáng trong bộ áp sari trắng viền xanh, thường đến các khu phố tồi tàn xuống cấp của thành phố Calcutta để ở gần những người nghèo. Mẹ luôn đến với tràng hạt Mân côi trong tay, để tìm kiếm và phục vụ Chúa nơi những người không được xã hội quý mến, yêu thương và chăm sóc.

Chiếm trọn tình yêu của thế giới

Thế giới nhớ hình ảnh của Mẹ Têrêsa, một nữ tu nhỏ nhắn, mỏng manh trong bộ áo sari trắng viền xanh, nhưng sự vĩ đại của mẹ đã chiếm được trái tim của con người trên toàn thế giới, ngay cả những người không có tín ngưỡng.

Giải Nobel hòa bình

Tình yêu và sự ngưỡng mộ mẹ Têrêsa đã vượt qua các biên giới của tôn giáo, đến nỗi xã hội dân sự đã trao tặng mẹ giải Nobel hòa bình năm 1979 vì sự phục vụ người nghèo và với người nghèo. Trong diễn văn cám ơn nhân dịp này, mẹ đã gửi đến thế giới sứ điệp về việc phá thai với câu nói nổi tiếng: “Nếu một người mẹ có thể giết chết con của mình thì ai có thể ngăn cản con người giết nhau?” Mẹ đã dấn thân vì sự sống và chống phá thai. Trong lễ tuyên phong mẹ lên bậc chân phước, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã nhắc lại lời của mẹ: “Nếu các con nghe có phụ nữ nào đó không muốn giữ lại đứa con của mình và muốn phá thai, các con hãy tìm cách thuyết phục cô ta trao cho mẹ đứa trẻ sơ sinh. Mẹ sẽ yêu thương nó khi nhìn thấy nơi nó dấu chỉ tình yêu của Chúa.”

Thánh Têrêsa Calcutta

Không đầy 2 năm sau khi mẹ qua đời, thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cho mở án phong thánh cho mẹ. Ngày 19/10/2003, mẹ được tuyên phong chân phước. Trong bài giảng Thánh lễ, thánh Gioan Phaolô II nói: “Tôi biết ơn cách riêng người phụ nữ can đảm này, người tôi luôn cảm thấy ở gần bên tôi… Mẹ đã đi bất cứ nơi đâu để phục vụ Chúa Kitô trong những người nghèo nhất giữa những người nghèo. Ngay cả xung đột và chiến tranh cũng không thể ngăn cản mẹ… Mẹ đã chọn không chỉ là người bé nhỏ nhất nhưng là nữ tỳ của những người bé nhỏ nhất… Sự vĩ đại của mẹ ở nơi khả năng trao tặng mà không tính toán chi phí, trao tặng hết sức mình. Cuộc sống của mẹ là một cách sống hết mình và là lời loan báo Tin mừng mạnh mẽ.”

Gia sản tình yêu Kitô giáo

Toàn cuộc sống và hoạt động của Mẹ Têrêsa làm chứng về niềm vui yêu thương và giá trị của của những điều bé nhỏ nhưng được thực hiện cách trung thành và với tình yêu. Ngày nay, những dấu chỉ về sự hiện diện của mẹ tỏ hiện qua hoạt động của các Nữ tu Thừa sai Bác ái đang thực hiện trên khắp thế giới.

Hồng Thủy - Vatican

Thứ Hai, 30 tháng 7, 2018

Khoảnh khắc trong Thánh Lễ làm hồi sinh trái tim người mẹ đau buồn


“Giờ đây, chúng ta bắt đầu tham dự Thánh Lễ.”

Tôi đã từng ưa thích được nghe những từ ngữ ấy suốt mấy năm qua, vậy mà giờ đây, chúng dường như gợi lên những giọt nước mắt xót xa tôi phải nén giữ trong lòng. Khi vị linh mục xướng lên những ý nguyện trong Thánh Lễ, tôi chăm chú lắng nghe, cố gắng kiềm chế cảm xúc và thầm dâng lời nguyện cho từng ý lễ.

Lúc vị linh mục xướng lên ý lễ cuối cùng và tôi cũng kết thúc lời nguyện cho ý lễ đó, điều tôi vẫn luôn cố gắng trong tuyệt vọng để cản ngăn lại diễn ra. Tôi không sao chặn nó lại được. Trái tim tôi cứng đờ. Tôi như thực sự kinh nghiệm lòng mình đang hóa đá. Buốt giá và chai lì.

Gần sáu tháng trước, tôi sinh hạ đứa thứ hai, một bé gái kháu khỉnh, bụ bẫm, hoàn hảo, đủ tháng, nhưng đã chết.

Hẳn là vì những lý do tôi không sao hiểu nổi, Thiên Chúa đã cất đi đứa con gái đáng yêu của chúng tôi trước cả khi tôi được nhìn thấy nó. Đời tôi đã vĩnh viễn đổi thay. Niềm tin vốn là cốt lõi cuộc đời tôi cũng đã thay đổi. Tôi chưa từng đặt vấn đề về Đức tin của mình, cũng chưa bao giờ nghi ngờ niềm tin của tôi vào Chúa. Tuy nhiên, mối tương quan của tôi và Ngài đã rạn nứt. Dù biết Ngài ở đó, tôi chẳng thể nào cảm nhận Ngài hiện diện. Tôi không còn kết hợp được với Ngài như trước nữa. Dẫu rõ ràng tôi vẫn hiểu Ngài ở đó, Ngài không rời xa, tôi dường như vẫn không thể tái hợp với Ngài. Cứ mỗi lần gắng trở về cùng Ngài, lại một lần tôi hoàn toàn thất bại.

Vì thế lòng tôi đã hoá đá khi vị linh mục xướng lên ý nguyện cho một người mới nhập xứ được mẹ tròn con vuông lúc lâm bồn. Một bé gái đáng yêu ngày mai sẽ ra đời, và người mẹ ấy sẽ được nhìn thấy “hoa trái của đời mình.”

Nắm tay đứa con trai mới lên hai, tôi ý thức sâu sắc sự vắng mặt của bé gái sáu tháng tuổi mà lẽ ra tôi phải được ẵm trên tay và tôi đã nhớ lại cách sống động “hoa trái của đời tôi” khi hình dung chiếc áo quan màu trắng nhỏ xíu đặt trong chính nơi nhà thờ này sáu tháng trước. Dường như những lời tôi cầu xin cho bé được an toàn khi chào đời đã không được Thiên Chúa đoái nghe. Chính điều này đã làm tôi hầu như không thể cầu nguyện được nữa.

Trước đây, tôi có thể cầu nguyện cách tự nhiên suốt cả ngày, đơn giản chỉ là hướng lòng lên trời và đặt mình trong bàn tay yêu thương của Thiên Chúa; nhưng giờ đây, việc cầu nguyện lại trở thành cuộc chiến khốc liệt trong tâm hồn, chẳng khác nào ném vài ý tưởng hỗn loạn lên trần nhà và trước khi rơi xuống sàn, ngay dưới chân tôi, chúng để lại trong tôi nỗi cô đơn ngập tràn.

Tâm trạng rối bời, tôi lắng nghe bài giảng cách nửa vời trong khi vẫn tiếp tục suy nghĩ về đức tin của mình. Với trái tim đã hóa đá, tôi nhanh chóng quyết định đây sẽ là lần cuối cùng tôi tham dự Thánh Lễ. Càng suy nghĩ, tôi càng thấy hài lòng với điều mình vừa quyết. Bình an chính là điều tôi đang tìm kiếm trong khoảng khắc rối bời này. Cho dẫu biết rằng quyết định của tôi có thể không bao giờ đem đến cho tôi thứ bình an tôi đang tìm kiếm, nhưng nó cho tôi một sự kiểm soát, và sự kiểm soát ấy có thể thực sự làm tôi thỏa mãn. Kiểm soát đúng là thứ tôi cảm thấy cần cho mình lúc ấy.

Quỳ trong vô thức lúc dâng Mình Máu Thánh Chúa, tâm trí tôi vẫn hoàn toàn sao nhãng. Một âm thanh lớn bỗng vang lên làm tôi thức tỉnh. Tiếng chuông reo.

Một thầy chủng sinh tốt lành đã từng chia sẻ với tôi, tiếng chuông reo trong Thánh Lễ nói với chúng ta rằng “Chúa Giêsu đang ở đây! Chúa Giêsu đang ở đây!” Khi tiếng chuông vang lên, lời tuyên xưng quen thuộc ấy đã kéo tôi về Thánh Lễ.

Thánh Lễ cuối cùng của tôi!

Cũng nhanh như lúc bị hóa đá, trái tim tôi lại trở nên mềm mại như xưa. Chúa Giêsu đã ở đó! Sự hiện diện toàn vẹn và sống động với cả Mình, Máu, Linh Hồn và Thần Tính của Ngài đã làm tan chảy trái tim hóa đá của một người mẹ khổ đau.

Chẳng cần phải nói đây không phải là Thánh Lễ cuối cùng của tôi nữa!

Tác giả: Melissa Flen
Chuyển ngữ : Đaminh Phan Quỳnh, SJ.

Thứ Ba, 26 tháng 6, 2018

Nữ tu Mariam: 50 năm loan báo Tin Mừng trong thầm lặng cùng với các Nữ tu Bé nhỏ Chúa Giêsu

Các sơ Dòng Nữ tu bé nhỏ Chúa Giêsu

Roma - "Khi thi hành sứ vụ tại một vùng đất như Afghanistan, người ta không thể loan báo Tin Mừng theo cách thức truyền thống. Cách duy nhất để thực hiện đó là cuộc sống. Trong những năm qua điều làm cho chúng tôi vui thích đó là trở thành người mang sứ điệp Tin Mừng, nhưng chúng tôi chỉ có thể làm điều đó qua việc trở thành mẫu gương tốt, cố gắng sống một cách cụ thể như được chỉ ra trong Kinh Thánh". Đây là lời chứng của nữ tu Mariam de Jesus nói với Hãng tin Fides, sơ là một trong các nữ tu của Hội dòng Các nữ tu bé nhỏ Chúa Giêsu. Sơ Mariam de Jesus là người đã sống ở Afghanistan gần 50 năm.

Hội dòng của sơ Mariam được Magdeleine de Jésus thành lập vào năm 1939 theo vết chân của Charles de Foucauld, các nữ tu đến Kabul lần đầu tiên vào tháng 7 năm 1954 và năm tiếp theo bắt đầu làm việc như các nữ y tá tại bệnh viện của chính phủ ở thủ đô. Sơ Mariam nói: “Dân chúng Afghanistan rất hiếu khách. Chúng tôi được đón tiếp một cách đặc biệt và trong giai đoạn nguy hiểm của chiến tranh, chúng tôi có rất nhiều người bạn sẵn sàng chấp nhận rủi ro để giúp chúng tôi".

Thực tế, các nữ tu vẫn lưu lại lãnh thổ Afghanistan cả trong thời gian chiếm đóng của Nga năm 1979, và trong cuộc nội chiến bắt đầu vào năm 1992, họ chỉ chuyển đến Kabul để làm việc trong các trại tị nạn của Jalalabad. Sơ Mariam giải thích rằng vào năm 1996, ngay cả sau sự xuất hiện của Taliban, họ đã chọn tiếp tục phục vụ trong các bệnh viện và mang khăn trùm để không bị chú ý. Sơ nói: "Khi họ hỏi tôi có gặp khó khăn khi phải sống giữa chiến tranh hay không, tôi trả lời rằng tùy ngày. Đôi khi tôi rất sợ hãi, những viên đạn đi ngang qua tôi. Nhưng trong suốt những năm này, tôi cảm thấy mạnh mẽ vì Chúa không bao giờ bỏ rơi tôi. Tôi học cách sống từng ngày, và mỗi phút trong đời tôi ở Afghanistan thực sự tôi sống đầy tràn nhờ vào sự che chở của Chúa".

Sơ Mariam trở về Thụy Sĩ vào năm 2016, khi nhà dòng đã quyết định ngừng hoạt động ở Afghanistan do thiếu ơn gọi trẻ. Sơ chia sẻ: “Việc trở lại phương tây để sống thật là khó, bởi vì lối sống rất khác xa. Ở Kabul dân chúng luôn chia sẻ với nhau những gì họ có dù rất bé nhỏ để mọi người có thể hưởng dùng. Một cuộc sống đơn giản và thiên nhiên: họ thường xuyên ăn cùng với nhau, tụ hợp với nhau xung quanh ti vi, không bận tâm có một điện thoại với mẫu mã cuối cùng. Dân chúng sống thực sự một cuộc sống bé nhỏ và theo nhiều cách, ở đó đối với tôi là dễ dàng mặc dù có chiến tranh”.

Afghanistan là một đất nước với 99% là Hồi giáo, chỉ có một giáo xứ duy nhất, tại Đại sứ quán Ý ở Kabul, với khoảng một trăm người, gần như là thành viên của cộng đồng ngoại giao quốc tế. Tại thủ đô, hiện đang có tổ chức liên dòng "Pro Bambini of Kabul" và các Nữ tu của Mẹ Teresa Calcutta hoạt động. Ngoài ra trong cả nước, các hoạt động xã hội và giáo dục đã được các cha Dòng Tên Ấn Độ và các tổ chức khác khởi xướng. (Fides 25/6/2018)

Ngọc Yến
Nguồn: http://vi.radiovaticana.va/news/2018/06/25/n%E1%BB%AF_tu_mariam_50_n%C4%83m_loan_b%C3%A1o_tin_m%E1%BB%ABng_trong_th%E1%BA%A7m_l%E1%BA%B7ng_c%C3%B9ng_v%E1%BB%9Bi_c%C3%A1c_n%E1%BB%AF_tu_b%C3%A9_nh%E1%BB%8F_ch%C3%BAa_gi%C3%AAsu/1376683

Thứ Sáu, 18 tháng 5, 2018

Cuộc đời 70 năm truyền giáo tại Nhật bản của sơ Elvira Escudero

Một nữ tu đang cầu nguyện - AFP

Tây ban nha là quốc gia có con số ấn tượng về các thừa sai đang hoạt động truyền giáo, hoạt động trong nhiều lãnh vực, môi trường để rao giảng Tin mừng trên khắp thế giới. Trong số 13 ngàn thừa sai người Tây ban nha, sơ Elvira Escudero là nhà truyền giáo cao tuổi nhất trong. Ngày 19 tháng 2 vừa qua (năm 2018), sơ Elvira tròn 101 tuổi. Cuộc đời của sơ Elvira là một cuộc sống nhập thể. 3 năm sau khi thế chiến thứ hai kết thúc, năm 1948, khi hòa bình bắt đầu được tái lập, sơ Elvira khi ấy 31 tuổi, đã rời quê hương ở xứ Basqua, Tây ban nha, đến sống và hoạt động tại Nhật bản, quốc gia đã bị tàn phá bởi chiến tranh và hủy diệt vì hai quả bom nguyên tử. Sơ Elvira đã truyền giáo tại Nhật bản suốt 7 thập kỷ.

Năm 1943, khi được 26 tuổi, Elvira Escudero gia nhập dòng các nữ tu truyền giáo lòng thương xót ở Berriz do chân phước Margarita López de Maturana thành lập. Tháng 11 năm nay, sơ Elvira sẽ mừng kỷ niệm 75 năm sống đời thánh hiến. Sơ Elvira đã chia sẻ niềm đam mê sứ vụ của Chân phước Margarita López de Maturana, người đã biến một tu viện của đan viện lòng thương xót thành một cơ sở truyền giáo. Khi đến Nhật bản sau chiến tranh, giữa những hoang tàn đổ nát, hậu quả của chiến tranh, sơ Elvira đã dốc sức lực và tinh thần, dấn thân vào hoạt động tông đồ tại đây. Sơ Elvira chia sẻ về công việc của mình trong 70 năm ở Nhật: “Công việc của tôi là dạy học trong các trường học do dòng của chúng tôi điều hành tại Nhật và dạy giáo lý. Tôi rất hạnh phúc khi cộng tác với các chị em của tôi. Khi tuổi đã cao, sức đã yếu và không hoạt động trong ngành giáo dục nữa, tôi đã đến thăm các tù nhân trong tù và tôi cũng hạnh phúc, nhất là khi một tù nhân Trung Quốc có thể lãnh nhận bí tích rửa tội.”

Tuổi già dường như không là vấn đề đối với nữ tu truyền giáo này. Sau khi bị gãy xương nhiều lần, hiện nay sơ Elvira phải ngồi trên xe lăn, nhưng sơ vẫn cảm thấy hạnh phúc dù theo một cách khác, như sơ nói, có lẽ, hạnh phúc lớn hơn; bởi vì sơ có nhiều thời gian hơn để cầu nguyện với Chúa Cha về mọi điều và cho mọi người, và sơ có thể cảm thấy, với lòng biết ơn, sự giúp đỡ của những người xung quanh mình. Trên hết là sự trợ giúp của Chúa Giêsu và Mẹ Maria của chúng ta, là những đấng luôn bên cạnh sơ và thực hiện tất cả những gì sơ cầu xin vì sơ không thể làm. Sơ Elvira cũng giúp trong những lớp dạy tiếng Tây Ban Nha và đan áo cho những người vô gia cư và những người nghèo khác.

Tại Nhật Bản, dòng các nữ tu truyền giáo Mercedaria Berriz có khoảng 90 sơ, hoạt động tại 12 cộng đoàn ở Tokyo, Chigasaki, Hiroshima và Hagi. Các sơ làm việc trong các lĩnh vực khác nhau như trong hệ thống giáo dục tại các trường của dòng, cũng như các ngành nghề đào tạo khác, chính thức cũng như bán chính thức. Bên cạnh đó, các sơ dòng thương xót còn hoạt động trong việc mục vụ giáo xứ, tương trợ với những người nam nữ bị xã hội loại trừ, hoạt động cho công lý và hòa bình, tổ chức các nhà tĩnh tâm cầu nguyện.

Đối với những nữ tu lòng thương xót này, việc “thúc đẩy tình đoàn kết quốc tế, thông qua mạng lưới “các thừa sai lòng thương xót Berriz” toàn cầu của các sơ, là một cách thế quan trọng để chia sẻ đặc sủng của dòng ở đất nước Nhật bản này, nơi tỷ lệ người Công giáo rất thấp, với chỉ 0,3% dân số. Các sơ nhắm phổ biến rộng rãi lòng từ bi của Chúa Giêsu ở nơi mà nhân loại bị tổn thương, cố gắng cộng tác trong việc đối thoại và cầu nguyện với các tôn giáo khác, với các giáo hội đại kết và các nhóm hoạt động cho hòa bình, cho môi trường sinh thái và xóa đói giảm nghèo.

Nhìn lại thời gian đã qua, sơ Elvira Escudero ý thức rõ ràng về bản chất của mọi ơn gọi, như chân phước sáng lập dòng của sơ đã nói: “Chúa Giêsu Kitô. Và kết thúc từ này, tôi không biết phải nói gì khác hơn, bởi vì tôi muốn Chúa Giêsu Kitô là tất cả các từ dành cho chúng ta, bao gồm tất cả các giác quan, bao gồm tất cả các chương trình, tổng hợp tất cả yêu thương, tỏa sáng tất cả các con đường của chúng ta, hướng dẫn tất cả bước đi của chúng ta, tóm tắt những nguyện vọng và là sự khởi đầu, ở giữa và kết thúc của cả cuộc đời chúng ta.” (ACI 22/02/2018)

Hồng Thủy

Thứ Bảy, 6 tháng 1, 2018

Cụ già 80 tuổi người Italia tìm thức ăn bị vất bỏ để giúp người nghèo đói

Hôm 30/12 vừa qua, nhật báo “Tương lai” của Italia có đăng câu chuyện thật cảm động về một phụ nữ 79 tuổi, tên là Marta, ngày ngày đi bới các thùng rác để nhặt các thực phẩm còn ăn được để mang đến cho người nghèo.

Những thứ ở thùng rác không phải chỉ toàn là rác. Cụ Marta nhận ra người ta đã phung phí không biết bao nhiêu thực phẩm trong khi có bao nhiêu người đói khát. Cụ nói: “Thật không thể tin nổi là người ta phí phạm như thế nào. Họ ném những thực phẩm gần hết hạn hay nguyên cả gói nếu nó bị hư rách trong khi chuyên chở. Mới đây là những gói cam. Nếu có một quả trong gói cam bị hư thì người ta sẽ vất nguyên cả gói. Thật là đáng xấu hổ.”

Từ vài năm nay, mỗi ngày, với chiếc xe đạp, cụ Marta đến các thùng rác của các siêu thị để tìm nhặt các thức ăn còn tốt. Sau đó, mỗi tuần 3 lần, cụ chất các thức ăn này lên chiếc xe hơi của cụ và chở đi phân phát cho các gia đình nghèo ở Casalborgone, một tỉnh nhỏ cách thành phố Torino ở miền bắc Italia khoảng 20 dặm. Dù cho những ánh mắt nhìn nghi ngờ, tò mò của những người qua đường, ngạc nhiên khi thấy cụ làm công việc tìm thức ăn trong các thùng rác siêu thị từ vài năm nay, cụ Marta không ngại ngùng vì cụ biết là có những người nghèo khổ đang chờ đợi cụ.

Cụ Marta bắt đầu chương trình này từ cách đây vài năm, khi cụ giúp cho một gia đình gặp khủng hoảng kinh tế và gần như bị mất mọi thứ. Sau đó cụ nhận ra có những gia đình khác cũng túng thiếu nghèo đói. Cụ cho biết là 8 gia đình mà cụ giúp đỡ luôn đón tiếp cụ với vòng tay mở rộng. Họ không bao giờ hỏi xin cụ điều gì và không bao giờ hoang phí thứ gì. Họ dùng bột mì để làm bánh, dùng sữa làm pho mát, vv..

Thấy phó tế Benito Cutelle ở giáo xứ Giáng sinh đã khám phá ra kế hoạch giúp người nghèo của cụ Marta sau khi thấy cụ tìm kiếm ở các thùng rác. Ban đầu thầy nghĩ là cụ Marta tìm thức ăn cho chính mình. Thầy nói: “Ở tuổi của cụ, cụ đã phục vụ cách khiêm tốn, một sự phục vụ quan trọng vì ích lợi của các anh em nghèo khổ. Cụ chỉ cảm thấy tiếc là khi cụ quá mệt mỏi, không có ai giúp đỡ họ.” (CNA 02/01/2018)

Hồng Thủy

Thứ Hai, 23 tháng 10, 2017

Ngày Truyền Giáo Của Bà Mẹ Buôn Gánh Bán Bưng

Chúa ơi,

Chúa Nhật tuần trước con đã nghe thông báo :
“Chúa Nhật tuần nầy, Ngày Truyền Giáo thường niên”.
Đời như con, quanh năm suốt tháng triền miên,
Buôn gánh bán bưng, biết gì đâu truyền giáo !

Đối với con, làm chứng đạo đó là “ăn cơm làm dấu”,
Là không chửi thề, nói tục, nói dối ăn gian…
Sống đức tin, đơn giản là sớm tối nguyện kinh,
Nghỉ ngày Chúa Nhật và dọn mình đi lễ…!

Ai hỏi đạo dạy gì, con trả lời : dạy làm người tử tế,
Dạy thương người, dạy hiếu thảo, nết na.
Dạy “cho kẻ đói ăn, cho khách đỗ nhà…”
Dạy nhẫn nhịn hy sinh và sẻ chia, tha thứ…

Dù biết thế, nhưng con đầy tính hư tật xấu,
Nên con cũng nói rằng : Chúa nhân ái khoan dung.
Dù đời con tội nặng gánh chập chùng,
Tòa Cáo Giải xóa sạch và chữa lành thương tích.

Bên cạnh con toàn những người áo ôm khố rách,
Biết con có đạo vì đeo Thánh Giá trên người.
Làm chứng đức tin con chỉ có nụ cười,
Thỉnh thoảng sớt chia đôi ba đồng tiền lẻ.

Đối với con, Chúa ơi, truyền giáo là như thế,
Chứ biết gì đâu giáo lý với Tin Mừng,
Nghe Thánh nầy, Thánh nọ đi khắp hết muôn phương,
Con chỉ biết thầm nguyện cầu, bái phục.

Ngày Truyền Giáo hôm nay con dâng lễ Chúa Nhật,
Gom góp suốt một tuần được chẵn “năm trăm”.
Của mọn của một người “buôn gánh bán bưng”,
Xin Chúa nhận cho con để gọi là “góp công truyền giáo” !

Sơn Ca Linh
(Khánh Nhật Truyền giáo 2017)