Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí tích nuôi nguồn sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Bí tích nuôi nguồn sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

Hát nhiều nhưng chưa đúng phụng vụ

Giáo hội đặt ra những yêu cầu cử hành phụng vụ thánh với ước mong con cái khắp nơi thể hiện đúng ý Hội Thánh là Mẹ và là Thầy để có sự hiệp thông ngày càng sâu sắc với Giáo hội (SentirecumEcclesia).

Có hàng trăm bài thánh ca nhằm diễn tả Thánh Vịnh 22, Chúa là mục tử, nhưng chỉ diễn ý, cảm hứng, không bài nào nguyên văn Thánh Vịnh 22.


Đáp ca phải giữ nguyên văn Thánh Vịnh

Hiện nay tại hầu hết các nhà thờ, các ca đoàn có khuynh hướng hát một ca khúc cảm hứng theo Thánh Vịnh để thay thế đáp ca. Vấn đề này Đức cha Phaolô Nguyễn Văn Hòa, khi còn làm Chủ tịch Ủy ban Thánh nhạc của Hội đồng Giám mục Việt Nam đã có lần viết thơ hỏi Bộ Phụng tự Tòa thánh và xin phép được chuyển đổi ít chữ (cố gắng giữ ý nghĩa bản văn) khi dệt nhạc các bài đáp ca. Lý do là vì tiếng Việt có sáu dấu giọng nên không thể ráp nhiều câu Thánh Vịnh vào một dòng nhạc duy nhất.

Tòa thánh đã chính thức trả lời là không được thay đổi Thánh Vịnh vì bất cứ lý do nào. Bởi Thánh Vịnh và đáp ca là thành phần trọn vẹn của phụng vụ Lời Chúa (được coi như bài đọc thứ tư theo Quy chế Tổng quát Sách lễ Roma số 36, 57, 69) nên phải giữ nguyên văn. Ca nhập lễ và ca hiệp lễ có thể thay thế bằng những bài thích hợp với ngày lễ hoặc với mùa phụng vụ (Thư trả lời của Bộ phụng tự và Kỷ luật Bí tích đề ngày3-2-2010 của Tổng Giám mục Thư Ký J.Augustine Di Noia).

Thật khó cho các nhạc sĩ Việt Nam khi phải đáp ứng những nguyên tắc phụng vụ chặt chẽ của Giáo hội.

Phút thinh lặng thánh
Đừng hát cố, người nghe cảm giác rất mệt mỏi, bị“tra tấn”. Cần một phút thư giãn “im lặng thánh”:
– Sau khi chủ tế rửa tay (chủ tế rửa tay phải liệu ngưng đàn hát để chuẩn bị vào phần Kinh nguyện Thánh Thể).
– Sau rước lễ: Thừa tác viên đưa bình thánh lên bàn thờ thì liệu ngưng hát để mọi người vừa rước lễ im lặng tâm sự với Chúa trước khi chủ tế đọc lời nguyện kết lễ.


Cho đến nay chỉ có hai cách giải quyết:

– Một là phải chấp nhận (sai ý Hội Thánh) biến cải đôi chút (cố giữ ý) để ráp các câu Thánh Vịnh khác nhau vào một dòng nhạc cố định của một phiên khúc.

– Hai là phổ nhạc vào từng câu Thánh Vịnh, uốn nắn làm sao cho phù hợp dấu giọng. Như vậy mỗi câu Thánh Vịnh là một dòng nhạc khác nhau, không mang tính duy nhất của nghệ thuật sáng tác thánh nhạc. Nhạc sĩ lão thành Hùng Lân gọi kiểu này là “quăng nhạc vào lời” không thể khai triển nhạc tố, nhạc đề được, đánh mất đi yếu tố nghệ thuật, một trong hai yếu tố làm nên thánh nhạc (sự thánh thiện và hình thức tốt đẹp).

Để đáp lại yêu cầu của phụng vụ thánh, tiếng Việt có ngõ bí nhưng cũng có lối thông đó là dựa vào cung ngắm, cung sách để hát nguyên văn Thánh Vịnh. Vừa đáp ứng yêu cầu phụng vụ vừa giữ được truyền thống rất đẹp, rất xa xưa của cha ông ta, những vị đã sáng tác cung ngắm nguyện, kinh sách là những dòng nhạc ngâm nga hát xướng để hun đúc lòng đạo của con cháu và phổ biến đạo lý của Đức Chúa Trời.

Đối với Tiếng Việt rao hàng cũng như hát, nói chuyện cũng như hát. Các vị thừa sai mới sang Việt Nam nghe người Việt nói chuyện, các ngài bảo “họ hát như chim hót líul o”.

Thánh nhạc Việt Nam tuyệt đại đa số là ca khúc

Thánh nhạc của Giáo hội sử dụng nhiều hình thể của âm nhạc như đối ca, đáp ca, tiến cấp, Thánh Thi, xướng Thánh Vịnh, choral, ca tiếp liên nhưng rất ít khi dùng ca khúc là loại hình gồm điệp khúc và nhiều phiên khúc.


CẦN BỚT CA KHÚC, THÊM NHỮNG THỂ KHÁC NHƯ: ĐỐI CA NHẬP LỄ; ĐÁP CA: XƯỚNG THÁNH VỊNH; DÂNG LỄ: ĐỐI ĐÁP, CÓ THỂ DẠO ĐỜN HOẶC IM LẶNG; PHẦN CÒN LẠI THÌ DÙNG CA KHÚC, THÁNH THI, XƯỚNG ĐÁP, ĐỐI CA, TIẾN CẤP THÁNH VỊNH “MỘT LÈO”… THAY ĐỔI NHAU. RA VỀ: MỘT BẢN DẠO ĐÀN

Thánh nhạc Việt Nam thì trái lại tuyệt đại đa số là ca khúc, rất hiếm hình thức đối ca, đáp ca, thánh thi… Có thể ước đoán thánh ca Việt Nam có khoảng 100 ngàn bài theo hình thể ca khúc. Riêng các hình thể Giáo hội ưa chuộng thì chỉ đếm trên đầu ngón tay:
– Bài Chúa ở cùng tôi của nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh viết theo hình thể Thánh Thi.
– Bài Kìa ai của Vinh Hạnh theo hình thể ThánhThi.
– Bài Vinh quang của Ta của Hoàng Kim viết theo hình thể xướng đáp (Réspons bref ).
– Bài Lạy các thánh của Chúa của LM Tiến Dũng viết theo hình thể xướng – đáp.
– Bài Cầu cho Đức Giáo hoàngBài ca tiễn biệt của Nguyễn Hữu viết theo hình thể xướng đáp.
Các nhạc sĩ Tiến Linh, Ngọc Kôn, học trò Nhạc sư Tiến Dũng đã có những bài đối ca và xướng Thánh Vịnh nhưng chưa phổ cập, các ca đoàn cũng chưa mặn mà với hình thể này.

Hình thể ca tiếp liên thì cho đến nay chỉ đúng có một bài ca tiếp liên lễ Hiện Xuống của LM Gioan Phạm Đình Nhu nhưng còn xa lạ với các ca đoàn tại Việt Nam. Còn bài ca tiếp liên lễ Phục sinh của nhạc sĩ Hùng Lân cũng chỉ là “cảm hứng” nội dung còn hình thức vẫn là ca khúc. Chưa có một ca tiếp liên nào nổi tiếng như những ca tiếp liên của Giáo hội: Lễ Phục sinh, lễ Hiện Xuống, lễ Đức Mẹ Sầu Bi và đặc biệt là ca tiếp liên lễ cầu hồn xưa Dies Irae Dies illa…

Theo tương truyền, nhạc sĩ thần đồng thời danh thế giới Mozart đã tuyên bố dám đổi cả sự nghiệp để lấy bài Sequentia. Mượt mà và xúc động nhất là đoạn: “Qui Mariam absolvisti Et latronemexaudisti,Mihiquoquespemdedisti… (chuẩn bị kết) Lacrimosa dies illa, Qua resurget ex favilla… Pie Jesu Domine, Dona eis requiem. Amen. (Chúa đã tha thứ cho Maria Madala, đã nghe lời kẻ trộm kêu xin. Phần con, xin Chúa cũng thương ban niềm hy vọng… Ôi! Ngày đầy nước mắt, ngày (con người) trỗi dậy từ đống tro tàn… Lạy Chúa Giê-su nhân lành, xin ban cho các linh hồn được yên nghỉ. Amen).

Đường hướng của Giáo hội
– Hát trong phụng vụ có mục đích thờ phượng Chúa, làm vinh danh Chúa và thánh hóa các tín hữu.
– Những người làm công tác ca nhạc phải tuân thủ những quy định của Hội Thánh. Ai không muốn tuân thủ thì xin làm công tác khác phù hợp với ý mình.
Ca trưởng, nhạc trưởng, người đàn (theo nguyên tắc chung) phải học lớp phụng vụ thánh nhạc của Giáo hội – có chứng chỉ mới được trao nhiệm vụ (các nước Âu Mỹ trả lương cho những người này nên họ đòi phải có bằng chuyên nghiệp).
– Mẫu ca hát lý tưởng nhất mà Giáo hội chủ trương là ca đoàn làm nòng cốt, cả cộng đoàn cùng tham gia ca hát.
– Bài ca tốt nhất là bài có đầy đủ hai yếu tố này: Hoàn hảo, thánh thiện trong lời ca điệu nhạc, và có hình thức tốt đẹp. Thánh ca phụng vụ của Giáo hội sử dụng nhiều nhất là đối ca, đáp ca, xướng tụng Thánh Vịnh, Thánh Thi, ít nhất là ca khúc.
– Ưu tiên khuyến khích dựa vào Thánh Kinh và phụng vụ để sáng tác.
– Nhạc cụ thích hợp nhất là phong cầm (organ), các nhạc cụ khác chỉ được chấp nhận khi thể hiện theo phong cách phụng vụ.
– Tất cả bài ca phụng vụ phải được đấng bản quyền cho phép (Imprimatur = chuẩn ấn). Những bài ca sinh hoạt tôn giáo thì dành cho các buổi sinh hoạt ngoài phụng vụ (không hát trong phụng vụ), thí dụ bài Hành trang tuổi trẻ, Gặp gỡ Đức Kitô
– Hát vừa đủ nhu cầu phụng vụ – không quá sự cần thiết.


LM GIUSE NGUYỄN HỮU TRIẾT, Trưởng ban Văn hóa TGP Sài Gòn

Thứ Hai, 21 tháng 9, 2020

Bí Tích Thánh Thể mời gọi chúng ta sống trong Chúa Giê-su

 Bí Tích Thánh Thể trong quyền năng của mình làm cho ân sủng hay ơn thánh hóa tăng trưởng trong bạn.  Tác dụng của bí tích Thánh Thể tương tự như lương thực hằng ngày: nuôi dưỡng, tăng lực và biến đổi tâm hồn bạn, mang đến một niềm vui không nhất thiết phải cảm nhận được, nhưng rất thật.

Bí tích Thánh Thể không chỉ bảo tồn sự sống cho linh hồn bạn, mà còn được sống dồi dào hơn, giống như cơ thể không chỉ cần lương thực, mà còn tăng sức mạnh.

Bí tích Thánh Thể cũng bảo tồn và tăng trưởng các nhân đức khác được ban tặng cho linh hồn bạn cùng với ơn thánh hóa.  Bằng cách tăng trưởng ba nhân đức đối thần (đức tin, đức cậy và đức mến),  Bí tích Thánh Thể cho phép bạn kết hợp chặt chẽ với Thiên Chúa hơn, và củng cố các đức tính đạo đức (thận trọng, điều độ, công bằng và dũng cảm).  Bí tích Thánh Thể cho phép bạn điều chỉnh toàn bộ thái độ hướng đến Thiên Chúa, tha nhân và bản thân bạn tốt hơn.  Bằng cách làm cho 7 ơn của Chúa Thánh Thần cùng 12 hoa trái của Chúa Thánh Thần được phong phú hơn.  Việc Rước Lễ sẽ mở ra sự hiểu biết và ý muốn của bạn và trong sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần.

Chúa Thánh Thần thánh hóa các linh hồn bằng món quà ân sủng siêu nhiên.  Ân sủng cao nhất đó là ơn thánh hóa, đó là phẩm chất tự nhiên, cư ngụ trong tâm hồn chúng ta, và làm cho tâm hồn nên giống Thiên Chúa.  Chúa Giêsu đã nói về sự tiếp nhận cuộc sống mới, đời sống thiêng liêng khi Chúa nói với Nicodemus rằng, “trừ khi một người được sinh ra một lần nữa, anh ta không thể vào vương quốc của Thiên Chúa”.

Ơn thánh hóa cũng còn được gọi là trạng thái đầy ân sủng, bởi vì một khi chúng ta đã nhận được, nó vẫn trong trạng thái đó trong tâm hồn chúng ta.  Khi đã được lãnh nhận, ân sủng vẫn luôn trong linh hồn trừ khi bị xua đuổi bởi tội lỗi.

Chúa Thánh Thần như là người làm vườn khéo léo.  Rễ cây nho là linh hồn tội lỗi.  Nhờ ân sủng, Chúa Thánh Thần ban cho sự sống thiêng liêng của Người để nó có thể nảy nở thành những nhân đức.

Trước khi Chúa bước vào cuộc Khổ Nạn của Người, Người đã để lại cho các Tông Đồ và cho chúng ta một bản di chúc sau hết.  Khi sự hiện diện của Người không còn ở với chúng ta, Người tha thiết và lập đi lập lại nhiều lần, “Hãy ở trong Thầy”.

Mối liên kết hợp nhất với Người và bạn chỉ có thể thuộc về tâm linh, nhưng đó là một điều rất thật và sống động, một điều gì đó bền bỉ, không vượt quá, và bắt nguồn từ chính bản chất con người của bạn.  Người đã sử dụng câu chuyện dụ ngôn về cây nho và cành nho để minh họa: “Thầy là cây nho, anh em là cành.  Ai ở trong Thầy, và Thầy ở lại trong người ấy, thì người ấy sinh nhiều hoa trái, vì không có Thầy, anh em chẳng làm gì được.  Nếu ai không ở lại trong Thầy, thì bị quăng ra ngoài như cành nho và sẽ khô héo.  Người ta nhặt lấy, quăng vào lửa cho nó cháy đi.”

Thân và cành tương tự như nhau, được nuôi dưỡng và cùng nhau hoạt động, tạo ra những hoa trái giống nhau vì được nuôi dưỡng bởi cùng một loại nhựa cây.  Theo cùng một cách, Chúa Giêsu và các tín hữu hợp nhất trong một Thân Thể huyền bí.  Người làm cho nhựa của ân sủng của Người nảy nở trong bạn, đặc biệt bằng việc Rước Lễ, và do đó làm phát triển đời sống thiêng liêng của linh hồn bạn dồi dào hơn.

Đức Thánh Cha Pius XII có viết trong Tông Thư về Thân thể thần bí của Đức Kitô như sau, “trong bí tích Thánh Thể, các tín hữu được nuôi dưỡng và củng cố trong cùng một bữa tiệc ly và trong mối dây thần linh, trong bí tích Thánh Thể họ được liên kết bền vững với nhau và với Thiên Chúa là Đầu của toàn chi thể. Bạn có thể nói như thánh Phaolô rằng, “Không phải tôi sống, nhưng chính Đức Kitô sống trong tôi; và hiện nay tôi sống trong xác phàm, là sống trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu tôi và hiến mạng vì tôi”.

Có được ơn thánh hóa là điều kiện đầu tiên, thiết yếu nhất để kết hiệp với Đức Kitô, và là nền tảng của mọi ân sủng và quyền năng tạo nên đời sống tâm linh.  Ân sủng này là năng lực thực thụ, thiêng liêng, và trường tồn của linh hồn; thông phần cách thiêng liêng với hình ảnh và thiên tính của Người Con, ngõ hầu bạn trở nên giống Đức Kitô, Con Thiên Chúa theo tính tự nhiên.  Chừng nào ân sủng vẫn còn trong bạn, Người vẫn ở trong bạn để bạn có thể nên một với Người như Cha ở trong con và Con ở trong Cha.  “Để tất cả nên một, như Cha ở trong con, và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta.”  Chúa Cha và Chúa Con là cùng một bản tính thiêng liêng.  Bạn cũng được sở hữu một hình ảnh của Người trong ơn thánh hóa.

Thánh Cyril thành Giê-ru-sa-lem đã viết: “Để bảo đảm chúng ta được thông phần vào Mình và Máu Đức Kitô: trong hình bánh được trao là Mình Người, và trong hình rượu là Máu Người; chúng ta được thông phần vào Mình và Máu Đức Kitô, nhờ đó chúng ta trở nên cùng một thân thể với Người.  Thế nên, chúng ta mang trong mình Đức Kitô, bởi vì Mình và Máu của Người được phân phát qua các chi thể của chúng ta.  Như thánh Phêrô đã chúc phúc, “Anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa.”

Chắc chắn bạn nên thường xuyên Rước Lễ để không hư mất đời đời.  Đây là một sự mất mát lớn, cho dù một phần nhỏ của ơn thánh hóa cũng có giá trị hơn bất cứ thứ gì trên đời này.  Ngay cả hạnh phúc vĩ đại nhất trên thế gian này cũng không là gì so với việc sở hữu ơn thánh hóa, và sự sống đời đời trong Thiên Chúa.  Hãy nhìn vào tâm hồn bạn, Thiên Đàng bắt đầu từ ân sủng.

 

Tác giả: Fr. Lawrence G. Lovasik

Chuyển ngữ: Mai Phương.

Hiệu đính: Lm. GB. Nguyễn Ngọc Thế SJ.

 

Bài viết này trích từ một chương trong sách Căn Bản của Bí Tích Thánh Thể của Cha Lovasik.

Cha Lawrence G. Lovasik (1913-1986) nói rằng lý tưởng của Cha là “làm cho Chúa được biết đến, và được yêu mến hơn qua các tác phẩm”.  Cha Lovasik đã làm công việc truyền giáo ở các vùng mỏ than, thép của Mỹ, thành lập dòng Nữ tu Chúa Thánh Thần, một dòng truyền giáo, và đã viết rất nhiều sách, và một số nhấn mạnh đến việc cầu nguyện và Bí Tích Thánh Thể.

https://catholicexchange.com/the-eucharist-invites-us-to-live-in-jesus


Nguồn: https://dongten.net/2020/09/17/bi-tich-thanh-the-moi-goi-chung-ta-song-trong-chua-gie-su/

Thứ Năm, 12 tháng 12, 2019

[Bí tích thống hối hòa giải – Xưng tội tiến đức]: Phần II. Nhiệm vụ phải xưng tội đối với mọi người (số 7)


IV. THỰC HÀNH XƯNG TỘI TIẾN ĐỨC

Chỉ có xưng tội tiến đức, khi mỗi lần xưng tội, linh hồn được ơn hoán cải và quay về với Chúa, như lời Chúa kêu gọi: “Hãy hoán cải và tin vào Tin Mừng”(Mc 1,15). Thật là một sự sai lầm nghiêm trọng khi nghĩ rằng chúng ta chỉ cần hoán cải một lần, rồi đương nhiên đi trên con đường hoàn thiện. Giáo huấn Tin Mừng nhắc nhở chúng ta phải hoán cải và hoán cải liên tục, liên tục. Vì lẽ đó, trong đời sống thiêng liêng, người ta nói đến việc “trở lại lần thứ hai” như một biến cố quan trọng, nhưng không dừng lai ở đó. Và ta phải kiên trì trở lại, đổi hướng, đổi đời, về với Chúa, mới có thể làm môn đệ Chúa: “Ai muốn theo Ta phải bỏ mình vác thánh giá mỗi ngày mà theo Ta” (Lc 9, 24). Con đường vào bên trong, con đường dẫn đến sự sống là con đường hẹp (Mt 7, 13-14). “Nhưng kẻ nào bền chí đến cùng, kẻ ấy sẽ được cứu thoát.”(Mt 10,22).

A. Ý NIỆM TỘI LỖI, CẢM THỨC VỀ TỘI, THẤY TỘI MÌNH


“ Trong ánh sáng Người, chúng con tìm thấy ánh sáng”(Tv 36(35),10).

“Thiên Chúa là ánh sáng;
nơi Người, không có một chút bóng tối nào.
——-

“Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta lừa dối chính mình và sự thật không ở trong chúng ta. Nếu chúng ta xưng thú tội mình, Thiên Chúa là Đấng trung tín và công bình sẽ tha thứ tội lỗi cho chúng ta và thanh luyện chúng ta khỏi mọi bất chính” ( 1 Ga 1, 5.7-9).

Suy niệm về tội là sống trong mầu nhiệm Thiên Chúa, mà thánh Gioan gọi là mầu nhiệm ánh sáng. Nếu Chúa không cho chúng ta thấy tội, nếu Chúa không cho ta một chút hiểu biết về tội, chúng ta sẽ mù lòa và chết trong tội chúng ta (x. Ga 8, 23). Chỉ khi nào chúng ta biết Chúa là ai chúng ta mới hiểu được tội là gì. Ý niệm tội (tức là biết bản chất của tội và nhận biết chính ta là tội nhân) là tiếng nói lương tâm của những người nhận biết Thiên Chúa thật và ngược lại, sự hiểu biết về tội trở nên càng sâu sắc, trong mức độ mà sự kết hợp với Thiên Chúa trở nên thâm sâu hơn. Chứng từ của các vị thánh làm ta ngạc nhiên, nhưng chỉ con mắt nhìn thấy sự thánh thiện của Chúa mới nhận ra ác tính của tội.

Nếu ý niệm tội cách chung đã bị đẩy vào quên lãng, nhất là trong thời đại mà Thiên Chúa bị khước từ, thì biết mình là tội nhân càng khó hơn, vì những hệ thống tự vệ chung quanh ta và trong chính bản thân ta. Từ trong Cựu Ước, tác giả Thánh Vịnh đã nhận xét chí lý: ”Tội ác thì thầm trong thâm tâm kẻ dữ; hắn không thấy cần phải kính sợ Chúa Trời, hắn tự cao tự đại nên chẳng thấy tội mình mà chê ghét” (Tv 36(35), 2-3).

Thánh Augustinô cũng có suy nghĩ tương tự khi suy niệm Cựu Ước : “Đừng tự phụ cho rằng đời sống ta là đức hạnh và chúng ta không có tội. Để đời sống ta đáng được khen ngợi, chúng ta hãy xin Chúa thứ lỗi. Những con người không có trông cậy, càng ít chú ý đến tội riêng mình, càng tò mò về tội kẻ khác. Họ không tìm điều họ phải sửa, mà tim điều họ phê bình. Và bởi vì họ không thể xin lỗi, họ sẵn sàng tố cáo kẻ khác. “ (Bài giảng về Cựu Ước).

Trong cái nhìn của thánh Augustinô: “những kẻ không cậy trông” tức là những kẻ ngoại đạo, vô đạo, hoặc những kẻ rửa tội mà không giữ đạo, những kẻ không có đức tin trưởng thành, không có cái nhìn đúng đắn về tội. Người chưa trưởng thành về tâm linh không hề biết ra khỏi chinh mình, chỉ biết co quắp trên chính mình, tìm hưởng lạc thú cho mình, không dễ thấy tội. Người chưa trưởng thành về đức tin, đồng hóa sự hổ thẹn (khi tôi làm điều sai trái bị bắt gặp) với tội, hoặc tội là vi phạm lề luật bên ngoài (thường thì người ta dễ xưng tội bỏ lễ, bỏ đọc kinh…) hơn những tội bên trong. Thậm chí có trẻ con xưng tội điều răn thứ sáu, hỏi như thế nào thì trả lời “có ăn thịt ngày thứ sáu!”. Người có tội sống trong sự tự mãn và ích kỷ, xa luật Chúa, dần dà mất đi sự nhạy bén của lương tâm, không còn biết phải trái, chỉ thấy điều có lợi cho mình mà làm. Đời sống không có lối thoát: hoặc họ rơi vào tuyệt vọng, hoặc chai lì trong tội. Họ không thấy tội mình, chỉ thấy tội kẻ khác để tố cáo, thậm chí nhiều khi còn tố cáo Chúa thay vì nhận lỗi của mình. Trái lại, người có lương tâm chính trực nhận lấy trách nhiệm của việc làm sai trái và hối cải: “Con đắc tội với Chúa, với một mình Chúa, dám làm điều dữ trái mắt Ngài” (Tv 51,6).

1. Kinh nghiệm của các thánh

Thánh Têrêsa Giê-su (Avila) (1515-1582), xin Chúa cho thấy tình trạng thực sự của mình dưới ánh sáng của Chúa và người kinh hãi đến mức độ kêu xin Chúa hãy ra khỏi mình vì không thể chịu được cực hình đó.

Thánh Catarina Genova (1447-1510): trước kia sống một cuộc đời buông thả, nhưng được ơn hoán cải năm 1474. Từ đó, người dốc quyết: Không còn thế gian, không còn tội lỗi nữa. “Nếu TC không nâng đỡ tôi, tôi biết là tôi sẽ chết khi thấy một tội cũng như nhìn thấy chính TC vậy. Hai cái nhìn này, như tôi được ban ơn để hiểu, vượt quá sức lực con người đến độ không ai có thể ra khỏi đó cách bình an vô sự.

“…lạy Chúa, Tình Yêu của con, mọi thứ khác con có thể chịu được, nhưng việc đã xúc phạm đến Người là một điều khủng khiếp và không thể chịu nỗi đối với con, đến độ con xin Chúa giao cho con bất cứ một việc đền tội nào khác chớ chẳng phải là thấy con đã xúc phạm đến Chúa…Vào giờ chết, thà xin cho con thấy mọi thứ ma quỷ, mọi thứ xấu xí của chúng và mọi thứ hình khổ của chúng. Con coi mọi sự đó như không so với việc nhìn thấy một lỗi phạm nhỏ nhất của con. Vả lại nó chẳng có thể nhỏ bởi lẽ nó xúc phạm đến uy nghi vô cùng lớn lao của Chúa”

Thánh Gertrude (1256-1301) kinh ngạc tại sao đất không nứt ra để nuốt trộng mình, vì tình trạng tội lỗi của mình.

Thánh Phanxicô Assisi bảo thầy Leon hãy chà đạp lên mình vì người là kẻ tội lỗi vô cùng, nếu những người khác lãnh nhận các ân huệ người đã lãnh nhận, thì họ đã tốt hơn…

Cha sở họ Ars , Gioan- Maria Vianney (1786-1859) nói với một hối nhân: “Con ơi, đừng xin Chúa cho biết tất cả sự khốn cùng của con. Cha đã xin điều đó một lần, và cha đã được ban cho. Nhưng nếu Chúa nhân lành không nâng đỡ cha, thì ngay lúc đó cha sẽ tức khắc rơi vào tình trạng tuyệt vọng” (Vie, par Trochu, p.526) .

Thánh Margarita-Maria Alacoque (1647-1690): “Để cho sự cao cả của ân huệ không làm con không biết và quên con là ai, cha muốn đặt trước mắt con một quang cảnh…

“Tức khắc bằng cách tỏ bày cho tôi quang cảnh khủng khiếp này Người cho tôi thấy toàn thể cuộc đời tôi cách vắn tắt. Điều làm tôi ngạc nhiên hơn cả- với sự hãi sợ và khiếp sợ chính tôi- là nếu Chúa không nâng đỡ, tôi sẽ ngất đi vì đau khổ, bởi vì tôi không làm sao hiểu được một tấm lòng tốt lành và lòng nhân hậu lớn lao như thế đã không nhận chìm tôi trong hỏa ngục mà còn chịu đựng tôi khi nhận thấy rằng tôi không thể chịu đựng chính mình. Đó là hình phạt mà Người xử phạt những chuyển động nhỏ nhất của tự mãn, tự hào về chính mình trong tôi.’ (Autobiographie, t.II, p.6)

Một tác giả, đan sĩ cận đại viết: “Thật hiếm có biết bao, một con người, một tội nhân, chấp nhận thấy mình như mình là, trong thực tại và trách nhiệm của tội mình. Nhưng cũng khó như vậy khi một người, một tội nhân, sau khi nhìn nhận con đường (tội lỗi) của mình, nhận lấy phương dược đúng hợp, duy nhất, vốn sẽ là hoán cải, hay nói cách khác, làm việc thống hối đền tội” (Dom Claude Jean-Nesmy, Pratique de la Confession, (1962), p.44-45).

Cha Adolphe Petit (1822-1914), một linh mục dòng tên Bỉ, thường nhắc lại trong những lần giảng tĩnh tâm là có một ân sủng quý báu hơn những sự ngất trí và mạc khải, đó là biết nhìn nhận các khuyết điểm của mình.

Thánh Isaac thành Ninive (Syria) vào tk VII, đã dạy: “Ai nhận biết tội mình thì tốt hơn người làm cho kẻ chết sống lại”

2. So sánh với hình phạt hỏa ngục…….

Hình phạt hỏa ngục chính là luôn thấy mình, thấy tội lỗi mình, mà không thấy Chúa.

“Hỏa ngục là gì? Người bị phạt không thấy Chúa nhưng thấy chính mình. Hai lần kinh hãi: khốn nạn vì không thấy Chúa và khốn nạn vì luôn luôn thấy mình. Trong vĩnh cửu người ấy không bao giờ có thể lìa xa mình (với những tội lỗi của mình) và người ấy sẽ kinh tởm đến cùng cực đối với chính mình bởi vì toàn thân đã trở nên tội lỗi. Người ấy chỉ còn là hổ thẹn, chết chóc và mục nát.”

“Hỏa ngục là tình trạng của kẻ có tội mà sự chết từ nay đã vĩnh viễn củng cố trong tội lỗi của mình, một cách nào nó đã tự đồng hóa với tội lỗi của mình, và ánh sáng của Chúa chỉ còn mặc khải cho nó về hữu thể hư hoại, sự cô độc và sự chết của nó.” (D. Barsotti, Dieu est Dieu, p. 92).

Thánh Phao-lô: “Chúa Ki-tô đã đến trong thế gian để cứu người tội lỗi mà tôi là người tội lỗi thứ nhất” (1Tm 1,15).

B. Ý THỨC VỀ TỘI VÀ LÒNG TIN VÀO THIÊN CHÚA


1. Tội lỗi thống trị.

“Chúng ta đã chứng minh rằng mọi người, Do-thái cũng như Hy-lạp đều bị tội lỗi thống trị. Như có lời chép rằng: Không ai là người công chính, dẫu một người cũng không; chẳng ai có lương tri” (Rm 3,10).

Delicta quis intelligit?“Nhưng nào ai thấy rõ các lầm lỗi của mình?” (Tv 19/B (18/B), 13)

”Tội lỗi đã thống trị toàn bộ lịch sử, bắt đầu với sự sa ngã của nguyên tổ loài người. Nhưng càng xa Thiên Chúa thì con người càng mất ý niệm về tội. Chỉ khi nhận biết Chúa là Đấng tạo dựng vũ trụ và loài người –gồm cả chính mình – con người mới biết tội là gì.

Tội là sư vô trật tự căn bản, vì tự đặt mình ra ngoài trật tư mà Thiên Chúa thiết lập, đồng thời góp phần phá đổ trật tự của Thiên Chúa, đảo lộn các giá trị: chọn lựa thụ tạo thay Đấng Tạo Hóa, chọn cái hữu hình hơn cái vô hình, chọn cái mau qua hơn cái vĩnh cửu. Cuối cùng là chọn cái chết hơn sự sống. Tội gây ra sự vô trật tự sâu xa trong xã hội mà dấu chỉ là sự bất công, tạo nên bạo lực giữa con người. Sự vô trật tự trong xã hội thường là dấu chỉ của một xáo trộn hủy diệt trong chính thâm tâm của con người: đau khổ tinh thần, bất lực, cám dỗ tuyệt vọng. Đời sống không còn ý nghĩa. Con người không biết mình từ đâu đến và sẽ đi về đâu. Xa lìa Thiên Chúa, con người mất hướng đi, chỉ biết quay cuổng trong tuyệt vọng. Đó là nền tảng của mọi sự vô trật tự: khước từ vâng phục Thiên Chúa, khước từ tình yêu vĩnh cửu.

Và bởi vì Thiên Chúa đã xếp đặt trật tự này như một luật tự nhiên bào đảm sự sống cho con người và vũ trụ, nên pham tội là bất phục tùng lề luật. Hơn nữa, vì Thiên Chúa là tình yêu, luôn đi trước và mời gọi con người đáp trả tình yệu để được hạnh phúc, nên phạm tội là khước từ tình yêu, để sống trong cô độc, ích kỷ và thù hân.

2. Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi…

Thánh Gioan kêu gọi những người tín hữu ý thức về tội, bằng những tiếng kêu bi đát nhất:
“Nếu chúng ta nói là chúng ta không có tội, chúng ta tự lừa dối mình, và sự thật không ở trong chúng ta.
Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi, Thiên Chúa là Đấng trung thành và công chính sẽ tha tội cho chúng ta, và sẽ thanh tẩy chúng ta sạch mọi điều bất chính.
Nếu chúng ta nói là chúng ta đã không phạm tội, thì chúng ta coi Người là kẻ nói dối, và lời của Người không ở trong chúng ta”. (1 Ga 1, 8-10).

3. Kinh nghiệm của Cha sở họ Ars về tội.


“Chỉ những ai có thể hiểu được sự thánh thiện của Thiên Chúa, thì mới hiểu được ý nghĩa của tội lỗi. Không ai có thể hiểu được tội, nếu Chúa không cho biết, tức là nếu Chúa không ban ơn để họ thấu hiểu về tội. “Phải đến Ars để biết được sự tác hại nào mà tội nguyên tổ đem lại cho chúng ta”
“Chỉ THIÊN CHÚA mới biết thế nào là tội lỗi”
“Nếu tôi không phải là linh mục, tôi sẽ không bao giờ biết được thế nào là tội!”(Thánh Gioan-Maria Vianney, Cha sở họ Ars)

C. Mất ý niệm về tội


Sự hiện hữu và bản chất “Tội” thuộc giáo lý đức tin mà những người không tin, không muốn nói đến. Đối với họ, có những sai phạm, như đi đường mà không tôn trọng luật đi đường, chỉ vậy thôi. Cụ thể là nhóm người theo tư tưởng ”hậu ánh sáng” (post enlightenment) không thể chấp nhận. Chủ thuyết của họ nghịch với đức tin. Họ chỉ chấp nhận lý trí và hảnh diện vì lý trí. Họ khước từ chấp nhận thực tại tội lỗi, theo nghĩa của Kinh Tnánh và thần học công giáo, cách đặc biệt, thực tại tội nguyên tổ.

Rationalism and Enlightenment: Thuyết duy lý của Triết học ánh sáng, (nhóm Encyclopedie: Voltaire, Diderot, (tk XVIII), cho rằng :Thế giới không cần tình yêu Thiên Chúa. Họ chủ trương : “thế giới tự túc” (self-sufficient). Những tư tưởng này đưa đến cuộc cách mạng Pháp 1789.

Nhóm New Age trong thế kỷ 20-21 (bắt đầu khoảng năm 1960), phủ nhận Thiên Chúa. Chỉ có năng lực vô ngã, và sự tiến hóa để cuối cùng con người trở nên Thượng Đế. Không có Đấng Thiên Sai. Không có sự cứu chuộc. Không có vấn đề ân sủng . Con người được thăng hoa bởi tri thức (savoir). Chủ trương của họ giống như lạc thuyết bất khả tri (gnose) ở các thế kỷ đầu.

Biện chứng phủ nhận tội của con người, đi theo con đường đi xuống: không có tội nhẹ—˃ không có tội trọng—˃ không có tội nguyên tổ—˃ không có hỏa ngục.—˃. mọi người sẽ được cứu độ, bất cứ sống như thế nào.

Ngày hôm nay người ta phủ nhận hỏa ngục vì nhiều lý do khác nhau, người vô thần phủ nhận Chúa, nói là không có đời sau, một số người tin có đầu thai.

Còn một số các nhà thần học công giáo cho là không có hỏa ngục, hình phạt đời đời, vì Thiên Chúa là tình yêu.

Biện chứng của lòng nhân hậu của TC: Tội lỗi —˃ Thống hối&Hòa giải—-˃ Tình yêu Nhân hậu—-˃ Tha Thứ—˃ TRỞ VỀ CÙNG CHÚA.

Nhưng đây là lý do thực sự về hiện hữu của hỏa ngục:

Con người được phú ban cho tự do, có thể chọn Thiên Chúa hay khước từ Thiên Chúa. Không. có áp lực cho ai vào thiên đàng hoặc xuống địa ngục. Nếu vào lúc chết mà môt người vẫn dứt khoát khước từ Thiên Chúa, thì sẽ vĩnh viễn xa Chúa (tách rời khỏi Thiên Chúa). Đó là thực tại hỏa ngục.

Mất ý niệm tội là tội cốt yếu của nhân loại, nhất là ngày hôm nay.

ĐGH Pio XII, trong Sứ điệp truyền thanh ngày 24.12.1942, nói: “Tội lớn nhất hiện nay là con người đã mất đi ý niệm tội”. Thực ra mất ý niệm tội là tội cốt yếu của nhân loại bất cứ vào thời kỳ nào. Họ gạt Thiên Chúa ra khỏi đời sống cá nhân và xã hội. Họ khước từ kính tôn, thờ lạy Chúa, để tôn thờ tà thần và ngẫu tượng Họ đã mất ý niệm về Thiên Chúa, không còn biết tội là gì, nên tạo ra hỏa ngục ngay trên trần gian. Vì hỏa ngục là nơi chỉ có hận thù và tuyệt vọng,

ĐGH Benedito XVI, trong Sứ điệp cho thế giới ngày 25.12. 2006, đã tuyên bố: “con người của thế kỷ 21 tự giới thiệu như người tạo nên vận mệnh cho chính mình, tự mãn và tự lập.” Việc cắt đứt với Thiên Chúa dẫn đến sự chia rẽ cách thảm bại, làm tan vỡ gia đình nhân loại, làm phân mãnh, tạo nên xung đột nơi chính tâm hồn con người.

Ngài không ngừng cảnh cáo và còn lên án chủ thuyết tương đối trong đời sống tâm linh:

1. Để hiểu tội lỗi, cần suy niệm:

– Hai sự kiện làm đảo lộn trật tự của Thiên Chúa một cách trầm trọng: tội các thiên thần và tội của con người đầu tiên (Sáng thế, 3,1-24)

– Hai sự kiện bày tỏ tình yêu Thiên Chúa:
(1) cuộc đối thoại giữa Gia-vê và Abraham (St 18,23-37). Cách đặc biệt câu cuối: “Abraham lại thưa: Xin Chúa đừng giận, để cho tôi thưa chỉ một lần nầy nữa: Ngộ chỉ có mười người, thì nghĩ làm sao? Ngài phán rằng: Ta cũng sẽ chẳng diệt thành đâu, vì tình thương mười người đó (St 18,32].
(2) Và sứ mạng của Giô-na ở Ninivê: cuộc đối thoại đầy giận dữ của ngôn sứ Giô-na với Thiên Chúa đầy lòng khoan hậu.
Chúa yêu thương mọi tạo vật của Người. Không những Chúa yêu thương loài người, mà cả loài vật và cây cỏ. Người không ghét điều gì Người dựng nên.
“Quả thế, Chúa yêu thương mọi loài hiện hữu, không ghê tởm bất cứ loài nào Chúa đã làm ra, vì giả như Chúa ghét loài nào, thì đã chẳng dựng nên.” (Kn 11,24).

2. Chúa không muốn kẻ gian ác phải chết

Chúa không muốn kẻ gian ác phải chết nhưng kêu gọi hối cải. Đó là tư tưởng được nhắc đi nhắc lại nhiều lần trong sách ngôn sứ Edechiel:

“Nhưng nếu kẻ gian ác từ bỏ mọi tội lỗi mình đã phạm mà tuân giữ mọi quy tắc của Ta, cùng thi hành điều chính trực công minh, thì chắc chắn nó sẽ sống, nó không phải chết. Mọi tội phản nghịch nó phạm, người ta sẽ không còn nhớ đến; nó sẽ được sống vì đã thi hành lẽ công minh. Chẳng lẽ Ta lại vui thích vì kẻ gian ác phải chết – sấm ngôn của ĐỨC Chua là Chúa Thượng – Ta lại không muốn cho nó từ bỏ đường lối của nó mà được sống sao?”(Ed 11, 21-24)

“Hãy quẳng khỏi các ngươi mọi tội phản nghịch các ngươi đã phạm. Hãy tạo cho mình một trái tim mới và một thần khí mới. Hỡi nhà Ít-ra-en, tại sao các ngươi lại muốn chết? Quả thật, Ta không vui thích gì về cái chết của kẻ phải chết – sấm ngôn của ĐỨC CHÚA là Chúa Thượng. Vậy hãy trở lại và hãy sống.” (Ed 18, 31-32)

Sự Công chính và Tình yêu thương nhân hậu: Hai khía cạnh của mầu nhiệm Thiên Chúa

Tội lỗi là gì để Thiên Chúa, Đấng nhân hậu và yêu thương đã phạt một cách khủng khiếp đáng sợ đến thế: như tại Sodoma và Gomorra !?

3. Chúa Giêsu chết vì tội lỗi chúng ta

Trong Tình Thương vô biên, Thiên Chúa đã sai Con Môt Người đến trần gian, để đền tội thay và chết thay cho chúng ta tất cả: “Đấng chẳng hề biết tội là gì, thì Thiên Chúa đã biến Người thành hiện thân của tội lỗi vì chúng ta, để làm cho chúng ta nên công chính trong Người.” (2 Cr 5, 21)
“Bạn hỡi, hãy cho tôi biết, Chúa đã làm điều gì xấu cho bạn để bạn đối xử với Người như vậy?”
“Nơi đâu tội lỗi lan tràn, nơi đó ân sủng Chúa chứa chan gấp bội” (Rm 5,20).
“Lương bổng của tôi là cái chết, nhưng tặng phẩm của Thiên Chúa là sự sống vĩnh cửu trong Chúa Giêsu Kitô”’ (Rm 5,23).
“Chúa xếp đặt con người trong sự bất phục tùng để bày tỏ sự khoan hồng cho tất cả” (Rm 11,32).
“Đức Kitô đã chết vì tội chúng ta theo lời Thánh Kinh” (1 Cr 15,3)

Cha Th. Rey-Mermet (1910-2002) viết: “bao lâu một con người không bị xáo trộn, ngỡ ngàng vì mạc khải tình yêu của Cha và sự cứu chuộc của Đức Giêsu Kitô, nó không thể biết thế nào là tội. Chỉ có chiều sâu của Tình yêu mới cho phép thăm dò chiều sâu của tội. Tội lỗi có thể sẽ không nghiêm trọng như vậy nếu Thiên Chúa không là tình yêu. Nhưng thật là khủng khiếp khi phạm tội trước Đấng đã yêu ta dường ấy” (Laissez-vous réconcilier, p.154).

Giáo sư Kinh Thánh người Tô cách Lan, William Barclay (1907-1978) có một tư tưởng rất đẹp nhưng cũng rất chính xác trong sự vắn gọn của nó: ” HÌnh phạt của tội là phải đối diện không phải với cơn giận của Chúa Giêsu, nhung là với nỗi đau đớn trong ánh mắt của Ngài”.

4. Những tư tưởng của Thánh Gioan Maria Vianney (Cha sở họ Ars) về tội:

“Xúc phạm đến Thiên Chúa, Đấng đã tạo dựng chúng ta và chỉ làm điều lành cho ta, đó là tột cùng của sự vô ân”
“Nếu chúng ta có đức tin và nhìn thấy một linh hồn trong trạng thái tội trọng, chúng ta sẽ phải chết vì khiếp sợ. Linh hồn trong tình trạng ân sủng như bồ câu trắng. Trong tình trạng tội trọng, chỉ còn là một cái xác thối tha, một thây ma”.
“Một linh hồn trong tình trạng tội thì luôn buồn. Có làm gì thì cũng bực dọc, chán nản đối với tất cả mọi sự”.
‘‘Khi người ta sống nhiều năm trong sự dữ, khi người ta tha hồ vùi mình trong bùn nhơ tội lỗi thì phải có một phép lạ mới có thể thoát ra. Anh em ơi, chúng ta hãy xin một phép lạ cho họ”.
“Những người tội nhân cứng lòng đáng thương, nhiều năm sống xa Chúa, rồi đến làm việc trong vườn nho của Ngườ i, khi không thể làm gì khác, họ chờ tội bỏ họ để họ bỏ tội…Ôi! họ đáng than phiền biết bao!” (Cha sở họ Ars).
………

”Thật vậy, tất cả chúng ta thường hay vấp ngã” (phạm tội trong nhiều điều )(Gc 3,2)
“xin chớ đòi tôi tớ ra xét xử, vì trước thánh nhan Ngài
chẳng có người nào là công chính.”(Tv 143,2)
“không có người nào mà không phạm tội”(1V 8, 46)
“Người trói tay hết mọi người phàm để ai nấy nhận ra công trình Người thực hiện. (để con người nhận biết sự yếu đuối của mình) “ (Giop 37, 7).
“Chúng con đã phạm tội, đã lỗi lầm, đã làm điều gian ác, chúng con đã phản nghịch và lìa xa các mệnh lệnh, phán quyết của Ngài… chúng con đã phạm tội, chúng con đã làm điều gian ác.. bởi vì tội của chúng con và lỗi của cha ông chúng con đã khiến Giê-ru-sa-lem và dân Ngài trở thành mối sỉ nhục đối với hết mọi kẻ sống chung quanh chúng con…” (Daniel 9,5.15.16)

D. LÒNG THƯƠNG XÓT CHÚA


“..kẻ tội lỗi lớn nhất chỉ đơn giản kêu đến lòng thương xót của Cha thì làm dịu cơn giận dữ của Cha; Cha sẽ công chính hóa nó nhờ lòng thuong xót khôn dò và vô biên của Cha…Trước khi đến như thẩm phán công minh, cha mở rộng cánh cửa của sự Nhân ái của Cha: ai không muốn bước qua cửa nhân ái thì phải qua sự công chính của Cha” (Th. Faustina, chú thích 6, VI, 1937)

1.Tình Trạng Tội Lỗi


Dưới ánh sáng đức tin: tội làm cho con người bị tha hóa, nó dẫn con người đi xa vận mệnh mà Chúa xếp đặt cho mình (Rm 7,15), đi ngược lại khát vọng sâu xa của mình và ơn gọi của mình (Gl 5,17). Chỉ có sự thống hối mới chuẩn bị con người đối diện với sự phán xét của Thiên Chúa (x. Cv 17,30).


Người ta thường nghĩ rằng: cứ phạm tội rồi sẽ đi xưng tội. Lý luận như vậy là bày tỏ một sự bất kính đối với Thiên Chúa. Có đứa con nào nói rằng: tôi cứ tát cha mẹ tôi để rồi tôi sẽ đi thú tội, vì biết cha mẹ luôn tha thứ?


Ngoài ra, cũng phải hiểu tính cách nghiêm trọng của tội, dầu chỉ là một tội duy nhất. Nếu là một tội cố ý thì hậu quả của nó tai hại hơn, nhưng bất cứ tội nào – dù là tội không cố ý – đều in dấu trong linh hồn, trong tâm khảm. Việc xưng tội thật lòng được Chúa tha thứ, nhưng các nếp nhăn của tội khó tẩy xóa. Một linh hồn càng trong sạch thì vết nhơ của tội lỗi trên linh hồn càng rõ rệt và hậu quả của nó càng kéo dài. Trong giáo lý Hội thánh về tội (xưng tội và việc đền tội), có sự phân biệt giữa tội hay lỗi phạm (reatus culpae) và vạ hay hình phạt (reatus poenae).


Tội cốt ở sự kiện đã xúc phạm đến Thiên Chúa, không tuân giữ Luật của Người. Hình phạt có nghĩa là sự thiệt hại do tội đã phạm gây ra, hay là hậu quả tai hại do tội. Tội nhân, sau khi lãnh nhận ơn tha thứ của Thiên Chúa, phải đền bù thiệt hại trong đời sống hiện thế hay sau khi chết, trong Luyện ngục.


Tội nhân phải xin Chúa tha tội lỗi mình. Trong phép Rửa tội và giải tội, họ được tha, hình phạt hỏa ngục đời đời. Trong phép Rửa tội tha tất cả, trong phép Giải tội, chỉ tha một phần (reatus poenae). Để có thể đền bù thiệt hại do tội, Hội thánh đề nghị chúng ta nhận lãnh phép giải tội và một phương tiện rất hữu hiệu khác là các ân xá (kho tàng bất tận của ơn cứu chuộc của Chúa Giêsu và công phúc các thánh được trao cho Hội thánh). Chỉ có máu châu báu của Chúa Giêsu mới có thể đền bù thiệt hại lớn lao do tội (1Pr 1,18-19).


1). Chúng ta là tội nhân do nguồn gốc : “Mẹ tôi đã cưu mang tôi trong tội” (Tv 51)


2). Chúng ta là tội nhân do bản năng, xu hướng: mầm mống của tội đầu.“Bất hạnh cho tôi! Ai sẽ giải thoát tôi khỏi thân xác đưa tôi vào cõi chết này?” (Rm 7,24).


3). Chúng ta là tội nhân do các hành vi xấu, do chính chúng ta thực hiện: bằng tư tưởng, lời nói, việc làm và những điều thiếu sót. ” Vì tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi.” (Mt 9,13).

2. CHÚA GIÊ-SU LÀ ĐẤNG CỨU THẾ

Nếu tội lỗi không có ý nghĩa gì đối với chúng ta thì việc Chúa Cứu Thế đến trong thế gian cũng không can hệ gì đối với chúng ta. Thật vậy, Chúa Cứu Thế không đến để giải quyết những vấn đề chính trị, hoặc xã hội, kinh tế, những vấn đề chỉ có tính cách giai đoạn. Chúa đến để giải quyết vấn đề nền tảng: tội lỗi. Vì mất ý niệm về Thiên Chúa, con người hôm nay cũng mất ý niệm về tội. Từ đó, họ chỉ nhìn thấy nơi Chúa Giê-su một nhà cách mạng xã hội, hay như một người có khả năng chữa lành tật bệnh… Thật thì Chúa có khả năng chữa lành, nhưng ưu tiên là chữa lành tật bệnh trong linh hồn, hầu cứu chúng ta khỏi chết đời đời (mất linh hồn).


Có nhiều khi chúng ta sợ tội, vì sự hổ thẹn trước con mắt người đời, sợ phán đoán của dư luận quần chúng, chớ không phải sợ vì tội là sự xúc phạm đến Thiên Chúa.


Chỉ có Chúa Giê-su mới là Đấng giải thoát tôi khỏi tội lỗi và những hậu quả của tội: “nô lệ ma quỷ, thế gian, xác thịt, hình phạt hỏa ngục đời đời.”

1. Cha sở họ Ars nói về ý nghĩa của phép Giải Tội hay Nhiệm Tích thống hối.

“Phải để nhiều thời giờ để thống hối hơn là để xét mình.”
“Để lãnh nhận nhiệm tích thống hối, cần phải có ba điều: đức tin làm cho chúng ta nhìn thấy Chúa hiện diện nơi linh mục, đức cậy làm cho ta tin rằng Thiên Chúa sẽ ban ơn tha thứ, đức mến làm cho chúng ta yêu mến Chúa và gợi lên trong lòng sự hối tiếc vì đã xúc phạm đến Chúa.”

2. Lời của Cha Pio Pietrelcina (1887-1968) về phép Giải Tội:


“một trách nhiệm đáng sợ khi ngồi ở tòa giải tội.”
“Thiên Chúa chạy theo những linh hồn ngoan cố nhất. Họ làm cho Chúa phải hao tốn quá nhiều để có thể bỏ họ (mất công vô ích).”
Sau một ngày giải tội: “Ôi các linh hồn! nếu bạn biết họ đáng giá bao nhiêu”.
“Việc nhìn thấy nhiều linh hồn dường ấy muốn biện hộ cho những con đường ác xấu của họ làm tôi đau khổ, làm cạn kiệt trí não của tôi và xé nát tim tôi,”.
“Trước khi trách một linh hồn, tôi chịu khổ vì linh hồn ấy trước. nhưng không phải tôi hành động nhưng là Đấng ở trong tôi, và ở trên tôi.”
‘ Giữa anh em tôi là thân thuộc họ hàng, trên bàn thờ, tôi là hiến vật, trong tòa cáo giải tôi là thẩm phán”
“Xưng tội là sự thanh luyện của linh hồn”
“Xưng tội không được trễ hon mỗi tuần một lần.”
“Đừng dừng lại trên tội đã được xưng rồi. Chúa Giêsu đã tha thứ cho các tội ấy rồi.”
“Hãy đặt một bia mộ trên các tội đã xưng. như Chúa đã làm”
“Tôi muốn trợ giúp Chúa Giêsu trong nhiệm vụ đáng sợ là cứu các linh hồn.”
“Lòng nhân hậu của Thiên Chúa , con ơi, vô cùng lớn hơn ác tính của con.”

Antôn Ngô Văn Vững, S.J.