Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chúc mừng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Chúc mừng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2020

CHÚC MỪNG LỄ THÁNH TÊRÊSA HÀI ĐỒNG GIÊSU - Bổn mạng Giáo khu 3 và Ca đoàn Têrêsa


Thánh nữ Têrêsa Hài Đồng Giêsu và mối tình mang tên Việt Nam

Trong căn nhà nhỏ đượm nét Pháp, khách hành hương ghé thăm chị Thánh Têrêsa có thể tìm bản hướng dẫn bằng Tiếng Việt. Tôi không rõ cô quản lý nhà biết rằng có nhiều đoàn Việt đến thăm quan hay không nhưng nếu được hỏi, người Công giáo Pháp đạo hạnh ấy sẽ thủ thỉ cho bạn đôi điều về mối tình của chị Thánh với đất nước Việt Nam.

Ước muốn đến Việt Nam

“Ơn gọi của con là tình yêu’’, câu nói ấy của chị Thánh Têrêsa đã chạm vào lòng Hội Thánh. Một cô gái sống 24 năm trên cuộc đời nhưng lại là một vị đại thánh, Tiến sĩ của Hội Thánh nhờ những cánh hoa tốt lành nhỏ bé. Chị là một trong vị thánh nổi tiếng nhất trong lịch sử Giáo hội Công giáo. Từ năm bốn tuổi, chị sống cùng gia đình tại Lisieux thuộc vùng Normandie nước Pháp. Vì thế mà người ta vẫn gọi chị là Thánh Têrêsa thành Lisieux ngoài cái tên kính trọng, Têrêsa Hài Đồng Giê-su và Nhan Thánh.

Lớn lên trong một gia đình thánh đức, cha mẹ chị là ông Louis Martin và bà Zélie-Marie Guérin đã được ĐTC Phanxicô tuyên thánh ngày 18/10/2015. Năm 16 tuổi, chị bắt đầu cuộc sống của mình tại tu viện dòng Kín Cát Minh. Từ những tháng ngày đó, chị bắt đầu viết cuộc đời nên thánh của mình bằng những hy sinh nhỏ nhặt của mình. Vào mùa Chay năm 1896, Têrêsa có triệu chứng ho ra máu. Từ đó, bệnh tật là một Thánh giá mà Têrêsa đeo trên mình. Và, Thánh giá ấy đã trổ hoa.

Trong cái đau của bệnh tật, chị ước ao trở thành linh mục, được bước chân đi truyền giáo. Trong sách “Histoire d’une ame” (Truyện một tâm hồn), chị đã ghi lại thao thức của mình: “… si la sainte Vierge me guérit, je desire répondre à l’appel de nos Mères d'Hanoi’’ (Nếu Thánh nữ Đồng trinh chữa con lành bệnh, con ước ao đáp lời mời gọi của Mẹ tại Hà Nội) – trích chương IX trong Truyện một tâm hồn.

Truyện một tâm hồn – cuốn sách được xuất bản năm 1898 ngay sau chị Thánh qua đời. 
Hiện nay, sách được dịch ra hơn 50 ngôn ngữ khác nhau. Ảnh: An Duyên

Nguyên trang trên ghi lại những nguyện ước của chị Thánh nếu người được chữa khỏi bệnh. Nhưng, những ước ao ấy đã được Chúa cất giữ và cho chị ra đi vào năm 24 tuổi, để câu chuyện tình yêu ấy được viết tiếp bởi người em thiêng liêng, Marcel Văn.

Marcel Văn, người em thiêng liêng tại nước Việt

Nếu bạn may mắn gặp một người Công giáo Pháp, họ sẽ nhắc với bạn một cái tên mà người Pháp yêu mến: Marcel Văn. Sau những vụ tấn công khủng bố xảy ra tại Pháp năm 2015, một lời nguyện cho nước Pháp được “râm ran” hơn: “Lạy Chúa Giê-su, Người giàu lòng trắc ẩn với nước Pháp…”. Những lời nguyện này được thầy Marcel Văn, người Việt viết ra cho dù chưa một lần đặt chân đến nước Pháp. Đó là lời nguyện, là câu chuyện “tình thánh” giữa Têrêsa và Marcel Văn.

Thầy Marcel Văn có tên là Gioakim Nguyễn Tân Văn, sinh ra tại làng Ngăm Giáo, thuộc giáo phận Bắc Ninh, Việt Nam. Từ nhỏ, thầy đã có một ước ao mãnh liệt được trở thành linh mục và được nên thánh. Thầy đã được người mẹ đức hạnh Anna Maria Tế gửi vào nhà Chúa. Thầy đã từng sống tại giáo xứ Hữu Bằng (1935-1941) và sau đó theo học Tiểu chủng viện tại Lạng Sơn. Tại đây, câu chuyện “chị thiêng liêng” bắt đầu.

Trong giờ Chầu tại chủng viện, Văn bắt đầu tìm kiếm cuốn sách thiêng liêng về vị Thánh mà mình có thể theo bước. Và cuốn sách trong linh hứng của Chúa là Truyện một tâm hồn. Trong nhật ký của mình, thầy viết “… Con lại cả dám ước ao xin Mẹ một điều là chớ chi con được Mẹ yêu thương đùm gối như bông hoa trắng truyết Têrêsa của Mẹ hồi xưa. Con cũng ao ước giá Mẹ ban cho con bà thánh ấy để làm thầy dạy dỗ con trên con đường nhỏ bé của Người thì Mẹ biết con sung sướng dường nào”. “Con vào nhà thờ, đến quỳ trước tượng thánh Têrêsa và chân thành nói với thánh nữa: Têrêsa, từ nay chị là chị của em” [1].

Từ đây, chính Thánh nữ Têrêsa, người ước ao đến sống tại Việt Nam viết tiếp câu chuyện tình ái Chúa Hài đồng cùng người em thiêng liêng Marcel Văn. Têrêsa gọi thầy là “người em nhỏ bé” và cũng nhiều lần nói chuyện linh thiêng với thầy Văn. Thánh nữ cho biết thầy biết, thầy sẽ không bao giờ là linh mục và trở thành “Tông đồ ẩn dật của tình yêu”. Dù đau buồn nhưng thầy Văn quyết nghe theo lời linh hướng của chị Thánh. Năm 1944, thầy bắt đầu sống đời dự tu tại Dòng Chúa Cứu Thế Hà Nội thuộc giáo xứ Thái Hà ngày nay.

Nhóm thân hữu Marcel Văn đã xuất bản rất nhiều sách, 
truyện tranh thiếu nhi về cuộc đời của thầy Marcel Văn. Ảnh: Les amis de Van

Khi dòng người di cư vào Nam sau năm 1954, thầy Văn quyết định trở lại miền Bắc. Ngày 7/7/1955, thầy Marcel bị bắt, phải đi cải tạo trong nhà tù và chết tại đây năm 1959, khi thầy mới 31 tuổi. Thầy Marcel đã được nâng lên hàng tôi tớ Chúa nhờ con đường nên thánh nhỏ bé cùng chị Têrêsa. Hiện nay, quá trình phong thánh vẫn đang được tiến hành bởi nhóm thân hữu Marcel Văn “Les amis de Van” tại Pháp.

Mượn lời nguyện của thầy Marcel để tạm kết cho câu chuyện “tình yêu” của vị Thánh nữ Têrêsa qua chính ước nguyện tiếp tục được thực hiện trên đất Việt:

“Tôi không nhìn đâu xa

Cũng chẳng nhìn quanh quẩn…

Tôi chỉ ngắm nhìn Người tôi yêu…

Chính lúc lòng tôi yêu mến

Tôi tìm thấy hạnh phúc vô tận…

Tình yêu không thể chết”.

Văn

[1] Marie-Chichel: Tình yêu không thể chết– Tr. 162-163.

Thứ Hai, 28 tháng 9, 2020

CHÚC MỪNG LỄ TỔNG LÃNH THIÊN THẦN MICHAEL - Bổn mạng Đội Trật tự


Tên các Tổng lãnh Thiên thần (TLTT) đều có tiếp vĩ ngữ “el”: Michael (Việt ngữ là Micae), Raphael, Gabriel. “El” nghĩa là “trong Thiên Chúa” còn Angel là Thiên thần. Tổng lãnh Thiên thần có thể xuất hiện cùng lúc ở nhiều nơi. Trong các Tổng lãnh Thiên thần có 3 vị “nổi tiếng” là Micae, Raphael, và Gabriel được mô tả trong Kinh thánh. Thế kỷ VIII, Kitô giáo đã biết tôn sùng các Thiên thần.

Micae nghĩa là “Người giống Thiên Chúa” hoặc “Giống như Thiên Chúa”. Micae là Thiên thần đầu tiên được Thiên Chúa tạo dựng, là vị trưởng trong các TLTT, có nhiệm vụ bảo vệ, khuyến khích, về sức mạnh, sự thật và chính trực. TLTT Micae bảo vệ chúng ta về thể lý, tâm lý và tình cảm. Ngài cũng giám sát mục đích sống của chúng ta. Chức năng chính của ngài là loại bỏ những điều xấu. TLTT Micae cầm gươm lửa để bảo vệ chúng ta khỏi Satan và những điều tiêu cực. Khi có ngài ở bên, bạn có thể thấy lấp lánh ánh sáng xanh hoặc đỏ. Hãy cầu xin TLTT Micae nếu bạn thấy mình bị tấn công về tâm lý hoặc thiếu can đảm giữ lời hứa, thiếu động lực, thiếu lòng tin, thiếu can đảm, mất phương hướng, thiếu nghị lực, thiếu sức sống, thiếu tự tin, và cảm thấy bất xứng. TLTT Micae giúp chúng ta nhận biết mục đích sống và giúp bảo vệ.

Micae đã chiến thắng Satan (thiên thần sa ngã), ở trong Vườn Địa Đàng để dạy cho Adam cách gieo trồng và chăm sóc gia đình, nói với Môsê trên Núi Sinai, và năm 1950 ngài được tôn vinh là Thánh Micae, “bổn mạng của cảnh sát”, vì vì ngài giúp can đảm và anh dũng. Ngài cũng có “bí quyết lạ” về sửa các thiết bị điện và máy móc, kể cả máy tính và xe cộ. Nếu xe bị hư, hãy cầu xin TLTT Micae!

Ngài giúp chúng ta hành động theo sự thật mà không thỏa hiệp với tính lim chính và giúp chúng ta tìm ra bản chất và vẫn là chính mình. Ngài hay giúp đỡ nên khi gặp khó khăn trong công việc, khi bị chứng nghiện nào đó, khi bị bệnh, khi đau khổ, hoặc gặp ác mộng, hãy cầu xin TLTT Micae!

TRẦM THIÊN THU
(Chuyển ngữ từ AngelFocus.com)

Nguồn: http://tinmung.net/DocGia/_CacThanh/2012/Tam-vi-tong-lanh-thien-than.htm

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2020

CHÚC MỪNG LỄ THÁNH MONICA - Bổn mạng Hội Các Bà Mẹ Công giáo

 Thánh Monica sinh vào năm 332 tại một thành phố nhỏ thuộc vùng Bắc Phi. Tại quê hương của Ngài lúc đó vẫn còn rất nhiều người ngoại giáo, và các Ki-tô hữu ở đây chỉ là một nhóm nhỏ. Thật hạnh phúc cho Monica vì cha mẹ của Ngài là những Ki-tô hữu thánh thiện.

Khi Monica đến tuổi trưởng thành, cô đã được gả cho một viên chức trong thành phố tên là Patrik. Nhưng Patrik lại là người ngoại. Việc một nữ Ki-tô hữu kết hôn với một người ngoại là điều không mấy phổ biến hồi ấy, vì các Ki-tô hữu thời ấy thường chỉ kết hôn với nhau chứ không bao giờ có những cuộc hôn nhân hỗn hợp giữa người Ki-tô hữu và người ngoại giáo. Nhưng dẫu vậy thì trường hợp của Monica cũng có thể giải thích được. Tại quê của Ngài lúc đó có rất ít các Ki-tô hữu, nên cô gái Monica hầu như không có chọn lựa nào khác ngoài việc phải kết hôn với một người ngoại. Nhưng sự chọn lựa này đã trở thành nguyên cớ để sau này Monica phải hối tiếc với rất nhiều nước mắt, vì chồng của bà rất dễ dàng nảy đóa. Và với tư cách là người ngoại đạo, ông ta không hề biết đến giới luật Ki-tô giáo, nên ông ta rất dễ dàng cáu tức với những sự việc dù đó là những điều nhỏ nhoi nhất. Ông ta thường xuyên đánh đập vợ mình. Đó là một nỗi cay nghiệt đối với Monica, nhưng Monica coi Thánh Giá này còn nhẹ hơn cả nỗi khổ đau khác mà một người mẹ Ki-tô hữu phải mang, đó là việc trong số những đứa con của bà, có một kẻ vô cùng mất dậy.

Monica có ba người con, hai cậu con trai và một cô con gái. Ngay từ lúc Thánh Monica còn sinh thời, cô con gái này đã là ánh sáng mặt trời đối với Bà. Cậu con thứ của Bà cũng rất ngoan ngoãn và tốt lành. Nhưng đứa con trai cả của bà tên là Augustinô thì lại là một kẻ lười biếng thực thụ.

Dù là kẻ biếng nhác đúng nghĩa, nhưng Augustinô lại luôn mang về nhà những kết quả tốt đẹp trong việc học tập. Tuy vậy, bà Monica vẫn phải thường xuyên nghe các thầy cô giáo than phiền về đứa con trai của bà, vì đứa con này thường xuyên trốn học, thiếu tập trung trong lớp, hay nói leo và thường xuyên kích động bạn bè. Người mẹ tội nghiệp Monica không thể cãi được bất cứ một lời nào trước những than phiền đó, vì bà biết rất rõ rằng, những lời than phiền đó quá thực. Chưa hết, Augustinô còn thường xuyên nói dối mẹ mình. Đã vậy, anh ta còn đánh cắp nhiều đồ đạc của mẹ. Không chỉ thiếu vâng lời với mẹ, Augustinô còn tỏ ra là một đứa con ngỗ nghịch và bướng bỉnh theo đúng nghĩa đen nữa.

Monica còn phải đối diện với một chuyện tồi tệ hơn, vì khi Augustinô tới tuổi trưởng thành, anh đã sa vào nhóm những đồng nghiệp xấu. Ngay lập tức toàn thành phố xì xèo về anh, và vì thế mẹ anh đã cảm thấy vô cùng xấu hổ và mất mặt, bởi con của bà là một đứa con đồi bại. Nhưng Augustinô còn tỏ ra tai quái và khốn nạn ở chỗ là, vì sự cuồng vọng, anh không ngừng khoe khoang về những hành vi đáng xấu hổ của mình, và anh muốn chứng tỏ với mọi người rằng, anh là kẻ đồi bại nhất trong nhóm những người bạn vốn đã vô cùng xấu xa của anh.

Hồi đó, bà Monica thường xuyên nhắc nhở đứa con trai ngỗ ngược của bà phải làm điều lành, phải sống nghiêm túc và tốt lành, nhưng Augustinô chỉ phản ứng lại với một cái nhún vai trước những lời trách móc đầy từ mẫu của mẹ. Và khi Augustinô coi những lời nhắc nhở của mẹ là sự quấy nhiễu càng ngày càng quá sức chịu đựng đối với mình, anh đã trốn khỏi nhà. Vào năm 370, Augustinô đã trốn nhà và đi đến Carthago, tức Tunisie ngày ngay. Sau đó anh đi tới Rô-ma và tới Milan.

Từ khi Augustinô trốn nhà ra đi, cuộc đời của Thánh Monica không còn có điều chi đặc biệt ngoài việc dành trọn thời gian để cầu nguyện cho đứa con ngỗ ngược đó. Trong lúc cầu nguyện, nước mắt đắng cay của bà không ngừng tuôn rơi, và chỉ mong sao đứa con trai cả của mình mau sám hối quay về. Càng không thấy Augustinô quay về, bà càng cầu nguyện thiết tha hơn cũng như càng than khóc nhiều hơn, đến độ một lần kia vị Giám mục Giáo phận đã phải an ủi và nói với bà rằng:

Này bà mẹ Monica! Giờ của Chúa chưa điểm đối với con bà. Bà hãy tiếp tục cầu nguyện cho nó và hãy tin tưởng hy vọng, vì một đứa con của quá nhiều nước mắt và lời cầu nguyện sẽ không thể hư đi mất.

Vị Giám Mục trên đã có lý. Tuy nhiên, Thánh Monica đã phải mất tới 18 năm trời để khóc và cầu nguyện cho con trai của bà. Thiên Chúa đã để cho bà phải chờ đợi trong cầu nguyện và nước mắt suốt 18 năm trời rồi Ngài mới chấp nhận chịu thua trước sức tấn công như vũ bão của bà. 

Cuối cùng, những lời cầu nguyện đầy tin tưởng và tín tác trong một cách thức quá ư tuyệt hảo của người mẹ này đã được lắng nghe. Vào năm 385, khi biết được Augustinô đang ở Milan, bà đã đến đó để cùng đồng hành với con. Dưới sự ảnh hưởng tích cực của Thánh Ambrosiô Giám Mục Milan hồi đó, Augustinô đã trở lại và xin lãnh nhận Bí Tích Thanh Tẩy. Vào ngày 15 tháng 08 năm 386, Augustinô đã được lãnh nhận các Bí Tích khai tâm Ki-tô giáo từ chính tay Đức Giám Mục Ambrosiô. Augustinô đã tỏ ra hoán cải một cách thực sự cũng như đã hoán cải một cách hoàn toàn, đến độ Ngài đã trở thành một vị đại Thánh. Có thể nói được rằng, nếu không nhờ vào lời cầu nguyện liên lỷ và kiên tâm của Thánh Nữ Monica thì cuộc trở lại của Augustinô, trong chừng mực nào đó, hầu như đã không xảy ra. Sau khi đạt được ước nguyện với việc trở lại của con trai mình, vào Lễ Phục Sinh năm 387, Thánh Monica đã lên đường trở về quê hương với sự đồng hành của chính Augustinô. Tuy nhiên, vào tháng 10 năm 387 khi vừa mới chỉ đến được thành phố cảng Ostia của Ý, Thánh Nữ Monica đã bị lên cơn sốt và qua đời ở đó. Thánh Nữ đã qua đời trước niềm vui bởi ước nguyện lớn nhất của đời bà đã xảy ra trước đó không lâu: bà đã được tận mắt chứng kiến cảnh đứa con trai cả của mình hoán cải và làm hòa với Thiên Chúa. Và việc đứa con mà bà đã phải vô cùng lo lắng và chăm lo cho nó, giờ đây đã trở thành một vị Thánh, đó chính là một niềm hạnh phúc không gì sánh bằng đối với bà, vì đối với một người Mẹ, không có vinh dự nào lớn lao nơi Thiên Chúa và nơi con người cho bằng việc bà có một đứa con thánh thiện. “Tất cả những gì tôi là, tôi đều phải biết ơn Mẹ tôi” – Thánh Augustinô đã thừa nhận một cách công khai như thế. Và đó cũng là lời khen tuyệt vời nhất mà một người con trai có thể dâng lên người mẹ tuyệt trần của mình!

Sau khi Thánh Nữ Monica qua đời, con trai của bà là Augustinô đã an táng Thân Mẫu mình ngay tại nơi bà qua đời, tức tại thành phố cảng Ostia của Ý.

Vào năm 1162, các Thánh Tích của Thánh Monica đã được cung nghinh tới Arras thuộc khu vực miền Bắc nước Pháp. Kể từ đó việc tôn kính Thánh Nữ Monica mới được lan rộng. Vào năm 1430, Đức Thánh Cha Martin V đã ra lệnh cung nghinh các Thánh Cốt của Thánh Monica từ Ostia về Rô-ma, và đặt các Thánh Cốt đó trong một nhà thờ được gọi tên theo tên của con trai bà, đó là nhà thờ S. Agostino tại Rô-ma.

Vào năm 1945 người ta đã phát hiện ra một phần di tích của ngôi mộ Thánh Monica tại Ostia.

Từ thế kỷ thứ XIII tới năm 1969, Thánh Monica được Giáo hội cử hành Lễ mừng vào ngày mồng 04 tháng 05. Nhưng kể từ cuộc cải tổ lịch Phụng Vụ vào năm 1969, Lễ kính Thánh Monica được dời sang ngày 27 tháng 08, ngay ngày hôm trước Lễ kính Thánh Augustinô, con trai của Bà. Giáo hội Công giáo mừng kính Thánh Nữ Monica với bậc Lễ nhớ buộc, tức Lễ bậc III. Và Giáo đặt Thánh Monica làm Nữ Bổn Mạng của giới phụ nữ cũng như của các bà mẹ Công giáo.

Lm. Đa-minh Thiệu

Nguồn: https://daminhtamhiep.net/2016/08/thanh-monica/

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2020

CHÚC MỪNG LỄ ĐỨC MẸ LÊN TRỜI - Bổn mạng Giáo khu 5

Nói về Mẹ, viết về Mẹ là một hạnh phúc lớn lao. Tiếng Mẹ sao dịu êm, sao mát dịu đến thế. Mẹ trần thế đã là một tặng phẩm quí giá. Mẹ thiêng liêng lại càng cao quí hơn thế nữa. Mẹ có tên là Maria. Tiếng nói ngắn gọn, nhưng bao trùm, gói trọn tất cả. Giáo Hội mừng lễ Ðức Mẹ lên trời. Trong niềm hân hoan của ngày lễ Mẹ, ta thử suy nghĩ về:

-Tại sao Maria hồn xác lên trời ?

-Maria hồn xác lên trời có ý nghĩa gì cho ta ?

I. TẠI SAO MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI ?

Người nữ trong sách Khải Huyền trích đọc hôm nay, tiên trưng cho Mẹ Maria. Ðức trinh nữ Maria ngay từ giây phút ban đầu đã được Thiên Chúa bảo toàn, gìn giữ và tuyển chọn. Nên, tâm hồn và thể xác của Mẹ luôn thuộc về Thiên Chúa, không mang vết tỳ ố, không nhuốm tội lỗi, tâm hồn tinh trong, thánh thiện, tinh tuyền, xứng đáng là đền thờ cho Chúa Thánh Thần ngự trị. Thiên Chúa đã yêu thương Mẹ, đã tuyển chọn Mẹ làm Mẹ Thiên Chúa, làm Mẹ Ðấng cứu thế Giêsu. Hậu quả của tước vị làm Mẹ Thiên Chúa: Maria đã được chọn lựa riêng, được đặc ân vô nhiễm nguyên tội. Thân xác và tâm hồn của Mẹ đã được dành riêng cho Thiên Chúa. Con Mẹ cưu mang trong cung lòng là do bởi phép Chúa Thánh Thần. Mẹ sinh con mà vẫn còn tinh khiết vẹn tuyền. Ðó là đặc ân chỉ có một không ai trong lịch sử cứu rỗi, Thiên Chúa dành riêng cho Mẹ và chỉ có mình Mẹ được ơn cao quí ấy. Hình ảnh người nữ thánh Gioan diễn tả: mình mặc áo mặt trời, chân đạp vầng trăng, đầu đội triều thiên mười hai ngôi sao là hình ảnh của chính Mẹ Maria và Giáo Hội Chúa Kitô. Maria là hình ảnh vẹn toàn nhất của Giáo Hội ngày mai, là bình minh của Giáo Hội khải hoàn. Bài ca Magnificat mà Ðức Mẹ cất cao giọnng trong Tin Mừng Lc 1, 39-56 là lời cảm tạ viên mãn Thiên Chúa dành cho Maria. Chính niềm tin tuyệt đối vào Thiên Chúa đã khiến Maria trở nên vững mạnh và đáng được chúc tụng muôn đời. Sự tinh ròng của thể xác và tâm hồn khiến Maria được đặc ân riêng biệt. Maia đã biến phút giây tuyệt vời khi sứ thần Gabrien truyền tin cho Mẹ và lời xin vâng của Mẹ đã biến giây phút hiện tại ấy trở thành niềm vui vĩnh cửu, trở thành hạnh phúc trường tồn vì chính phút giây ấy đã thay đổi cuộc đời của Mẹ cách hoàn hảo nhất. Ðó là giờ của ơn cứu độ. Sự vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Mẹ, đã được Thiên Chúa chúc phúc cho hồn xác Maria về trời hưởng vinh quang vĩnh cửu với Thiên Chúa Ba Ngôi và triều thần thánh trên trời.

II.MARIA HỒN XÁC LÊN TRỜI CÓ Ý NGHĨA GÌ CHO TA ?

Ngày ó/11/1950, Ðức Giáo Hoàng Piô XII đã long trọng tuyên bố tín điều Ðức Maria hồn xác về trời. Ðây là biến cố lịch sử trong lịch sử cứu độ và mặc nhiên xác nhận niềm tin Kitô giáo vào con người tinh trong, Vô Nhiễm Nguyên Tội của Mẹ Maria, niềm tin này đã bàng bạc trong Giáo Hội từ nhiều thế kỷ qua. Tín điều ấy có giá trị vĩnh viễn và tuyên bố cho mọi người rằng Maria có liên hệ mật thiết với nhân loại, với mọi người chúng ta. Nhờ sự tinh ròng, vô tì tích của tâm hồn và thể xác của Maria, mọi người có lòng tin được hưởng nhờ đặc ân cứu độ của Thiên Chúa và tin vào sự giải thoát tội lỗi, Thiên Chúa dành cho Mẹ Maria cũng chính là tin vào Ðức Kitô đã chết và sống lại cho phần rỗi mọi người.

Maria đã lên trời cả hồn lẫn xác.

Maria đã được diện đối diện với Thiên Chúa. Maria lên trời là hình ảnh của Giáo Hội khải hoàn và vinh quang của thập giá là vinh quang của Mẹ. Tin vào thập giá sẽ được ơn cứu độ. Vì thế, tin vào Ðức Kitô đã giải thoát Mẹ khỏi sự chết của tội lỗi, tức là tin vào sự bất diệt của tâm hồn và thể xác Thiên Chúa dành cho Maria, cũng như cho nhân loại và cho Giáo Hội khải hoàn.

Xin Chúa ban cho chúng con lòng tin sâu xa để chúng con tin mai ngày chúng con cũng được sống lại hiển vinh.

Xin Mẹ Maria hồn xác lên trời chuyển thay cầu giúp cho chúng con để chúng con biết xa lánh tội lỗi và sống kết hợp với Chúa luôn mãi .

Xin Mẹ ban cho chúng con biết mau mắn nói lời xin vâng tuân theo thánh ý Chúa trong đời sống của chúng con .

 

Lm.Giuse Nguyễn Hưng Lợi DCCT

Nguồn: http://mfvietnam.org/y-nghia-le-duc-me-maria-hon-xac-len-troi.html

Thứ Sáu, 7 tháng 8, 2020

CHÚC MỪNG LỄ THÁNH ĐA MINH - Bổn mạng Thầy Đaminh Nguyễn Vũ Thuật, giúp xứ Cầu Lớn


Chín cách cầu nguyện của Thánh Đa Minh


Giới Thiệu

Cuốn sách chín cách cầu nguyện của thánh Đaminh có lẽ được viết tại Bô-lô-nha trong khoảng thời gian từ năm 1260 đến 1288 do một tác giả vô danh. Tác giả này đã nhận được nguồn tin từ chị Xê-xi-li-a, một nữ đan sĩ thuộc đan viện thanh A-nê (người đã lãnh tu phục từ tay thánh Đaminh) và những nhân vật khác đã có dịp tiếp xúc với vị thánh sáng lập dòng. Tài liệu đáng quí này chứng tỏ sự thánh thiện trổi vượt của thánh Đaminh đồng thời ở một mức độ nào đó cho thấy cuộc sống kết hợp mật thiết với tình yêu Thiên Chúa của người.

Các bản thảo tiên khởi về cách cầu nguyện của thánh Đaminh có kèm theo những bức tiểu hoạ diễn tả nhiều tư thế người đã thể hiện trong khi cầu nguyện. Codex Rossianus 3 trong bản thảo bằng tiếng Tây-ban-nha tại thư viện Vatican do một hoạ sĩ thời danh dùng những màu rực rỡ để vẽ nên mà hiện nay bức hoạ vẫn giữ được vẻ đẹp ban đầu. Những bản phác hoạ bổ xung để hiện tại hoá những bức hoạ cổ là những phóng tác của tu sĩ Jerome Newell, O.P.

Chín cách cầu nguyện đôi khi được in kèm theo như phần bổ xung về cuộc đời của thánh Đaminh do Theodoric of Apoldia, tuy nhiên đó không phải là một phần của tác phẩm. Có thể sự kiện trên được xác định nhân dịp đến Bologna dự tổng hội năm 1288 của cha giám tỉnh tỉnh dòng Đức Conrad of Trebensee. Tại đây người đã tìm thấy tài liệu về chín cách cầu nguyện của thánh Đaminh cũng như những tài liệu khác có liên quan đến thánh nhân và người đã mang về Đức giao cho Theodoric nghiên cứu, chính trong thời gian này Theodoric đã khởi sự viết tiểu sử cha thánh Đaminh.

Chín Cách Cầu Nguyện Của Thánh Đaminh

Các bậc thầy thánh thiện trong Giáo Hội như thánh Augustinô, Ambrosiô, Grêgoriô, Hilariô, Isidorô, Gioan kim khẩu, Gioan Damascenô, Bênađô và các thánh tiến sĩ thuộc nghi lễ Hy lạp cũng như La Tinh đã giảng giải rất chi tiết về các cầu nguyện. Các ngài đã khích lệ và diễn tà cách thức cầu nguyện cũng như chỉ ra sự cần thiết và giá trị của cầu nguyện, đồng thời giải thích những phương cách và những chuẩn bị phải có, bên cạnh đó các ngài cũng cho thấy những trở ngại của mỗi cách thức cầu nguyện.

Trong những cuốn sách uyên bác của mình, vị tiến sĩ sáng giá và đạo đức, tu sĩ Tôma Aquinô và Anbêtô thuộc dòng Anh Em Thuyết Giáo, cũng như Willam trong khảo luận của người về các nhân đức đã đề cao cách thức cầu nguyện mà linh hồn nhờ các chi thể để tung hô, thờ lạy Thiên Chúa là cách thức cầu nguyện thánh thiện, sốt sắng và tuyệt đẹp. Nhờ cách thức cầu nguyện này, linh hồn ở trong sự rung động của thân thể và được rung động nhờ thân thể. Đôi khi thân xác đạt đến sự ngây ngất trong tình trạng xuất thần như trong trường hợp thánh Phaolô hoặc được cuốn hút trong tinh thần hoan hỷ như thánh vương Đa-vít. Thánh Đaminh đã từng sử dụng cách thức cầu nguyện này và thật hợp lý khi chúng ta bàn một khiá cạnh nào đó về phương pháp cầu nguyện của người.

Thực ra, trong cả Cựu Ước và Tân Ước có nhiều vị thánh nổi tiếng đôi khi đã cầu nguyện như vậy. Cách thức cầu nguyện này giúp khơi dậy lòng đạo đức nhờ tác động xen kẽ của linh hồn trên thân xác và của thân xác trên linh hồn. Cách cầu nguyện này hẳn khiến thánh Đaminh đã khóc sướt mướt cũng như khơi gợi sự tha thiết nên thánh nơi người và với cảm xúc mạnh mẽ như thế làm cho thánh nhân không thể không diễn tả tâm tình thờ phượng bằng những hành vi cụ thể nơi các chi thể của người. Như thế tâm tình cầu nguyện được cất lên thành những lời kêu cầu, khẩn nài và tạ ơn tha thiết.

Ngoài nhiều cách thức cầu nguyện đạo đức và truyền thống, thánh Đaminh dùng khi dâng thánh lễ và hát thánh vịnh, tiếp đến là những là những phương pháp cầu nguyện đặc biệt của người. Tại cung nguyện hoặc trên đường đi, khi thánh nhân thường bất ngờ được xuất thần chiêm ngưỡng Thiên Chúa và các thiên thần.


Cách Cầu Nguyện Thứ Nhất

Cách cầu nguyện thứ nhất của thánh Đaminh là cúi mình trước bàn thờ như thể trước Đức Kitô với ý nghĩa bàn thờ không chỉ là biểu tượng mà là sự hiện diện đích thực của Đức Kitô. Người đã dùng những lời trong sách Giu-đi-tha để thưa với Thiên Chúa “Lạy Chúa là Thiên Chúa, lời cầu nguyện của người khiêm nhường và hiền lành luôn làm đẹp lòng Ngài” (Gđt 9,16 ?). Chính vì khiêm nhường mà người phụ nữ Ca-na-an và người con hoang đàng đã nhận được những gì họ muốn ; phần con, “con chẳng đáng Ngài ngự vào nhà con” (Mt 8,8). “Lạy Chúa xin cho con biết hoàn toàn khiêm nhường trước tôn nhan Ngài” (Tv 118,107).

Trong cách thức cầu nguyện thứ nhất này, cha thánh Đaminh đứng thẳng, cúi đầu, khiêm tốn hướng về đức Kitô là thủ lãnh của người và đối chiếu sự thấp hèn của mình trước sự cao cả của Đức Kitô. Thánh nhân đã bày tỏ lòng tôn kính đối với Người. Các anh em được dạy phải làm như vậy mỗi khi đi qua tượng Chúa Chịu Đóng Đinh để qua sự khiêm hạ tận cùng vì chúng ta của Đức Kitô, chúng ta có thể nhận ra thân phận tầm thường của mình trước sự uy nghi cao cả của Người. Cha thánh Đaminh còn truyền cho anh em thể hiện sự khiêm nhường theo cách thức này để tôn kính màu nhiệm Thiên Chúa Ba Ngôi khi đọc kinh Vinh Tụng Ca “Vinh Danh Chúa Cha và Chúa Con cùng Vinh Danh Thánh Thần Thiên Chúa”. Thánh Đaminh bắt đầu cầu nguyện theo kiểu cúi đầu thật sâu như được chỉ trong bức hoạ.


Cách Cầu Nguyện Thứ Hai

Thánh Đaminh thường cầu nguyện bằng cách nằm duỗi dài và úp mặt trên đất. Thánh nhân cảm thấy hối hận, liên tưởng đến và đôi khi thốt lên thành tiếng lời Tin Mừng, người khác có thể nghe được “Lạy Thiên Chúa, xin thương xót con là kẻ tội lỗi” (Lc 18,13). Với lòng thành kính và sốt sắng, Thánh Đaminh lặp lại những lời của vua Đa-vít “ Ngài coi, chính con đã phạm tội, chính con đã có lỗi” (2 Sm 24,17). Sau đó người đã khóc lóc, kêu than thảm thiết và nói “con không đáng chiêm ngắm những sự cao cả trên trời vì thân con mang đầy tội lỗi, con đã khơi lên sự giận dữ nơi Ngài và đã làm điều dữ trước tôn nhan Ngài. Từ Thánh vịnh : “……, người đã nói một cách tha thiết và thành kính những lời này : mạng chúng con bị chôn vùi trong cát bụi, tấm thân này nằm bẹp dưới bùn đen” (Tv 43, 25). Người lại nói tiếp : “tấm thân này bị nhận xuống bùn đen, theo lời Ngài xin cho con được sống” (Tv 118, 25).

Vì muốn cho anh em cầu nguyện sốt sắng, đôi khi người cũng nói với họ : “khi các nhà đạo sĩ thành tâm bước vào nhà, họ đã thấy Hài Nhi và đức Maria, mẹ của Người, họ đã sấp mình xuống thờ lạy Người. Không còn ngờ vực nữa, chúng ta cũng gặp Thiên Chúa làm Người và đức Maria nữ tỳ của Thiên Chúa. “Hãy vào đây ta cúi mình phủ phục, quì trước tôn nhan Chúa là Đấng dựng nên ta” (Tv 94, 6). Thánh Đaminh cũng động viên những người trẻ : nếu không thể khóc cho tội của riêng mình vì không có tội, thì em hãy em hãy nhớ rằng có nhiều tội nhân cần đến lòng thương xót và quảng đại. Đó là điều mà các Ngôn sứ than khóc cho họ và Đức Giêsu khi thấy họ Người đã khóc thảm thiết. Thánh vương Đavít cũng đã khóc “Con nhìn quân phản phúc mà ghê tởm”.


Cách Cầu Nguyện Thứ Ba

Kết thúc cách cầu nguyện vừa được trình bày ở trên, thánh Đaminh chỗi dậy và dùng một roi sắt để đánh mình, đang khi nguyện: “Lạy Chúa, Ngài ban ơn cứu độ làm khiên mộc chở che con, Ngài đưa tay uy quyền nâng đỡ, săn sóc ân cần giúp con lớn mạnh” , và nói “Luật Ngài sửa dạy con đến cùng” (Tv 17, 36).

Đây là lý do Dòng đã yêu cầu tất cả anh em giữ kỷ luật với que gỗ trên vai khi cúi xuống thờ lạy và đọc “Thánh vịnh Sám Hối” hoặc “Thánh vịnh Từ Vực Thẳm” sau Kinh Tối ngày thường để tưởng nhớ gương sáng của Thánh Phụ. Hình thức kỷ luật này được thực hiện để đền tội cho mình hoặc của những người mà mình đã sống nhờ bổng lộc của họ. Dù không có tội nhưng không ai được bỏ qua gương mẫu thánh thiện được minh hoạ nơi bức vẽ.

Cách Cầu Nguyện Thứ Tư

Thánh Đaminh ở lại trước bàn thờ hay phòng hội hoàn toàn chú tâm nhìn lên tượng Chuộc Tội. Thánh nhân đã đứng lên quì xuống liên tục không biết bao nhiêu lần. Đôi khi người tiếp tục từ sau Kinh Tối đến nửa đêm, lúc đứng, lúc quì như thánh Gia-cô-bê tông đồ hay như người phong cùi trong Tin Mừng, đã bái lạy Đức Giêsu và nói : “Thưa Ngài, nếu Ngài muốn, Ngài có thể làm cho tôi nên sạch” (Mt 8, 2). Người cũng như thánh Stêphanô đã quì xuống và khóc lớn tiếng rằng : “Lạy Chúa, xin đừng chấp họ tội này” (Cv 7, 60). Vì thế đã thành hình nơi phụ Đaminh lòng tín thác lớn lao vào lòng thương xót của Thiên Chúa dành cho chính mình, cho mọi tội nhân và phó thác sự trung thành của các anh em trẻ mà người đã sai đi rao giảng Tin Mừng. Đôi khi thánh nhân không thể kìm hãm được tiếng của mình, có những anh em đã nghe thấy người thì thầm : “Lạy Chúa, là Thiên Chúa của con, con kêu lên Ngài, xin đừng nỡ giả điếc làm ngơ. Vì nếu Ngài cứ im hơi lặng tiếng thì con sẽ giống như kẻ đã xuống mồ” (Tv 27,1) và những lời tương tự như vậy trong Kinh Thánh.


Tuy nhiên, có những lúc, người đã nói một mình và người khác không thể nghe được. Người vẫn quì lâu trong trạng thái ngây ngất và đang khi ở trong tư thế này, bất ngờ trên khuôn mặt người diễn tả tâm trạng thấu suốt trời cao đồng thời phản chiếu niềm vui tột độ khi người lau sạch những dòng lệ. Thánh nhân đang ở trong giai đoạn khao khát, mong đợi như người khát tìm được dòng nước và như lữ khách về đến quê nhà. Sau đó, người trở nên chăm chú và hăng hái hơn khi đứng, lúc quì như đi vào cách thức cầu nguyện khác với ân sủng tràn đầy. Người cũng quen quì trước Thiên Chúa theo cách thức này trong quán trọ sau khi đã trải một hành trình vất vả, hoặc dọc đường đi các bạn đồng hành nghỉ ngơi hay đã ngủ. Thánh nhân thực hiện với những cử chỉ bái gối này như một hình thức cầu nguyện riêng tư và ấn tượng của mình. Người cũng dạy các anh em cách thức cầu nguyện này bằng gương sáng hơn là bằng lời nói.

Cách Cầu Nguyện Thứ Năm

Tại tu viện, đôi khi cha thánh Đaminh ở lại trước bàn thờ đứng thẳng không tựa mình vào đâu. Người thường để tay trước ngực trong tư thế cuốn sách mở, thánh nhân đứng rất nghiêm trang và cung kính như đang đứng trước sự hiện diện đích thực của Thiên Chúa. Đắm chìm trong cầu nguyện, người đã xuất hiện đang khi suy gẫm Lời Chúa và dường như người lặp lại lời đó cho chính mình với một giọng ngọt ngào. Thánh Đaminh thường cầu nguyện bằng cách thức này vì đó là cách cầu nguyện của Đức Giêsu như thánh Lu-ca đã kể lại cho chúng ta : “…Người vào hội đường như người vẫn quen làm trong ngày Sa-bát, và đứng lên đọc sách” (Lc 4, 16). Tác giả Thánh Vịnh cũng nói với chúng ta rằng : “Pin-khát liền đứng ra phân xử, tai hoạ bỗng dứt ngay” (Tv 105, 30)


Đôi khi thánh Đaminh chắp tay lại, đan chặt các ngón tay với nhau trong khi đôi mắt đã đẫm lệ và tự kìm hãm không để trào ra. Lúc khác người lại giơ tay ngang vai như một linh mục đang cử hành thánh lễ. Sau đó người có vẻ như đang chăm chú lắng nghe điều gì đó được nói từ bàn thờ. Nếu có ai đó đã nhìn thấy thái độ hết sức cung kính của thánh nhân khi người đứng thẳng và cầu nguyện, chắc hẳn người đó nghĩ rằng mình đang chiêm ngắm một vị ngôn sứ, trước tiên đang đối thoại với một thiên sứ hoặc với chính Thiên Chúa, Thứ đến là đang lắng nghe sau đó là thinh lặng suy nghĩ về những điều đã được mặc khải.

Trên đường đi, thánh Đaminh thường bí mật dành giờ cho việc cầu nguyện, đứng lại và ngay lập tức hướng lòng trí về trời. Người ta đã nghe thấy thánh nhân nói những lời yêu thương hoan lạc phát xuất từ tâm hồn và từ sự phong phú của Kinh Thánh mà dường như như người đã rút từ nguồn mạch của Đấng Cứu Thế. Các anh em được lay động rất nhiều nhờ chúng kiến người cha và cũng là bậc thầy cầu nguyện của mình. Do đó anh em càng trở nên sốt sắng hơn nhờ được chỉ dạy cách thức cầu nguyện thành kính và kiên trì này : “Quả thực như mắt của giai hướng nhìn tay ông chủ, mắt của nữ tì hướng nhìn tay bà chủ…”

Cách Cầu Nguyện Thứ Sáu

Người ta còn chúng kiến cha thánh Đaminh đứng thẳng giang tay như hình thánh giá cầu nguyện một cách trang trọng. Chị Cecilia, một nữ đan sĩ thánh thiện và tốt lành, chị đã cùng với nhiều người khác đã tiếp xúc với thánh Đaminh kể lại rằng, thánh nhân đã dùng cách cầu nguyện này khi Thiên Chúa qua lời cầu nguyện của người đã làm cho cậu Na-pô-lê-ông sống lại tại phòng thánh nhà thờ thánh Sixtus ở Rô-ma và khi người chỗi dậy từ mặt đất để dâng thánh lễ. Cha Đaminh giống như ngôn sứ Ê-li-a, người đã giơ tay và đặt trên con trai một quả phụ khi cầu xin cho em được sống lại.


Thánh Đaminh đã cầu nguyện một cách tương tự như vậy gần Toulouse sau khi đã cứu thoát đoàn hành hương người Anh khỏi nguy hiểm trên sông. Đức Giêsu, Chúa chúng ta cầu nguyện như vậy đang khi Người bị treo trên thập giá với đôi tay mở rộng và như trong thư gởi tín hữu Do thái có viết : “Khi còn sống kiếp phàm nhân, Đức Giêsu đã lớn tiếng kêu van khóc lóc… và Người đã được nhận lời vì có lòng tôn kính” (Dt 5, 7).

Thánh Đaminh không dùng cách cầu nguyện này trừ khi được Thiên Chúa soi sáng cho biết một điều gì đó vĩ đại và phi thường sắp xảy đến nhờ sức mạnh lời cầu nguyện của người. Mặc dù không cấm cản nhưng cha thánh không khuyến khích anh em cầu nguyện theo cách thức này. Chúng ta không biết người đã nói gì khi đứng giang tay cầu nguyện và khi cậu Na-pô-lê-ông sống lại. Có lẽ đó là những lời của ngôn sứ Ê-li-a : “Lạy Đức Chúa,Thiên Chúa của con, xin cho hồn viá đứa trẻ này trở về với nó” (1 V 17, 21). Chắc hẳn cha thánh đã tuân theo cách thức bên ngoài của ngôn sứ Ê-li-a trong những lần phải dùng đến cách cầu nguyện này. Tuy nhiên, các anh chị em cũng như các nhà quí tộc, các hồng y và tất cả những người có mặt, đã quá bị thu hút bởi cách cầu nguyện hết sức phi thường và lạ lùng nên đã không nhớ được những lời người nói. Sau đó họ cũng không dám hỏi cha thánh về những sự kiện này bởi vì qua phép lạ, con người thánh thiện và đặc biệt này đã ghi khắc trong họ một tâm trạng trân trọng và tôn kính thật lớn lao.

Với một thái độ trang nghiêm và thành kính, thánh Đaminh đã đọc chậm những lời Thánh Vịnh, được kể như cách thức cầu nguyện này. Người thường đọc một cách chăm chú : “Lạy Chúa là Thiên Chúa cứu độ con, trước thánh nhan đêm ngày con kêu cứu”. Người tiếp tục đọc cho đến câu : “Lạy Chúa suốt cả ngày con kêu lên Chúa và giơ tay hướng thẳng về ngài” (Tv 87,2-10).

Sau đó, cha thánh đọc thêm : “Lạy Chúa, xin nghe lời con khẩn nguyện, lắng nghe con nài van bởi Ngài thành tín…”. Kế đó, thánh nhân lại tiếp tục cầu nguyện bằng những lời này : “hai tay cầu Chúa giơ lên… xin nghe con lạy Chúa” (Tv 1142, 1-7).

Vì vậy, gương mẫu cầu nguyện của cha thánh, chắc hẳn sẽ giúp cho các tâm hồn sớm nhận ra sự nhiệt thành và sốt sắng của người khi cầu nguyện. Quả vậy khi cầu nguyện như thế thánh Đaminh ước ao khơi gợi lòng thương cảm phi thường nào đó nơi Thiên Chúa hoặc khi thánh nhân cảm thấy qua sự thúc bách nội tâm, Thiên Chúa muốn mời gọi người tìm kiếm đặc sủng nào đó cho chính mình hay cho những người xung quanh. Kế đó, với lòng sùng kính sâu thẳm, người chiếu toả sự khôn ngoan thiêng liêng của vua Đa-vít, sự nhiệt thành của ngôn sứ Ê-li-a, lòng khoan dung của Đức Kitô như được minh hoạ trong hình vẽ.


Cách Cầu Nguyện Thứ Bẩy

Người ta cũng thường chứng kiến, đang khi cầu nguyện thánh Đaminh giơ tay hướng về trời như mũi tên được bắn thẳng vào bầu trời từ một cây cung căng. Thánh nhân đứng chắp tay giơ cao trên đầu, đôi khi người nhẹ nhàng tách ra một tay như sắp đón nhận một điều gì đó từ trời. Người ta tin rằng thánh Đaminh đang lãnh nhận nguồn ân sủng và trong trạng thái xuất thần người cầu xin Thiên Chúa ban những ân huệ Thánh Thần cho hội dòng người đã sáng lập.

Dường như thánh Đaminh tìm kiếm cho chính mình và cho các anh em chút ít niềm vui thiêng liêng cảm nghiệm từ việc sống tinh thần Tám Mối Phúc, khi cầu nguyện như thế mỗi người sẽ thực sự cảm thấy được chúc phúc trong nghèo khó, khóc lóc, bách hại, đói khát sự công chính và thương xót mọi người. Thánh Đaminh cầu nguyện cho con cái người cảm nhận được niềm vui trong việc tuân giữ các điều răn và sống trọn vẹn những lời khuyên Phúc Âm. Sau đó đầy hoan lạc, cha Đaminh xuất hiện để tiến vào nơi cực thánh và Tầng Trời Thứ Ba. Sau cách thức cầu nguyện này dường như thánh nhân trở thành một vị ngôn sứ trong việc khiển trách những sai sót và hướng dẫn người khác hoặc trong giảng thuyết.

Cha thánh không ở lại trong cách cầu nguyện này lâu giờ nhưng người đã dần dần thu lại tràn đầy năng lực của mình. Lúc này thánh Đaminh được xem như một người đến từ nơi rất xa hay như người ngoài hành tinh, điều này dễ dàng nhận thấy nơi vẻ mặt và bộ dạng của người. Kế đó chắc hẳn anh em nghe người cầu nguyện lớn tiếng và nói như một ngôn sứ : “Khi con hướng về nơi cực thánh giơ đôi tay cầu cứu van nài, xin Ngài nghe tiếng con khấn nguyện” (Tv 27, 2).

Qua những lời và gương mẫu thánh thiện của mình thánh Đaminh luôn luôn dạy cho các tu sĩ theo cách này, thường xuyên lặp lại những lời Thánh Vịnh : “Hỡi những người tôi Chúa ứng trực suốt đêm trong thánh điện, nào chúc tụng Chúa đi ! Hãy giơ tay hướng về cung thánh mà dâng lên lời chúc tụng Người…” (Tv 113,1-3). “Lạy Chúa con kêu lên cùng Chúa, xin Ngài mau đến phù trợ con. Xin lắng nghe lời con khi con kêu lên Ngài. Ước chi lời con nguyện bay toả trước tôn nhan và tay con giơ lên được chấp nhận như của lễ ban chiều” (Tv 140, 1-2). Chúng ta có thể hiểu rõ hơn về cách cầu nguyện này của cha thánh qua bức hoạ.


Cách Cầu Nguyện Thứ Tám

Cha thánh Đaminh còn có một cách cầu nguyện khác vừa đẹp, vừa nghiêm trang và dễ chịu mà người thường thực hiện sau các giờ kinh nguyện cũng như tạ ơn sau các bữa ăn. Khi đó người sốt sắng và đầy lòng tôn kính mà người đã rút tiả từ lời Chúa được hát trong cung nguyện hay trong nhà ăn. Cha Đaminh nhanh chóng rút vào nơi vắng vẻ nào đó, phòng riêng hay nơi khác và hồi tâm trước sự hiện diện của Thiên Chúa. Người cầu nguyện trước hình thánh giá và đọc cuốn sách đã được mở sẵn trước mặt. Sau đó, tâm hồn của người được lay động ngọt ngào như thể nghe được tiếng Chúa đang nói mà chúng ta đã đọc thấy trong Kinh Thánh : “Tôi lắng nghe điều Thiên Chúa phán, điều Thiên Chúa phán là lời chúc bình an cho dân Người” (Tv 84, 9). Trước tiên người tỏ ra thiếu kiên nhẫn trong tư tưởng và lời nói như đang tranh luận với một người bạn. Ngay sau đó, người trở nên im lặng lắng nghe, rồi ra như thảo luận và tranh cãi. Dường như cùng một lúc người vừa khóc vừa cười, sau đó lại ân cần, ngoan ngoãn thầm thĩ đấm ngực.

Nếu một người hiếu kỳ nào đó ao ước được nhìn thấy thánh Đaminh lúc này, hẳn người đó sẽ nhận thấy người giống như ông Mô-sê khi đi vào sa mạc, lên núi thánh Horeb của Thiên Chúa, và ở đó ông đã chứng kiến bụi gai đang cháy và nghe tiếng Đức Chúa vì ông đã phủ phục trước sự hiện diện thần linh của Thiên Chúa. Thiết tưởng rằng, hình thức cầu nguyện này của cha thánh được ví như vị ngôn sứ tiến lên núi thánh của Thiên Chúa vì thánh nhân đã nhanh chóng chuyển từ việc đọc sách sang cầu nguyện, đến suy niệm và rồi đi vào trong chiêm niệm.

Khi đọc sách một mình theo cách thức riêng này, thánh Đaminh rất trân trọng cuốn sách, thái độ đó thể hiện qua việc người cúi chào và hôn sách. Cung cách này được thể hiện một cách đặc biệt đối với sách Tin Mừng, và khi đọc đến những lời của Đức Kitô. Lúc khác, thánh Đaminh ẩn mặt đi và lấy áo choàng phủ lên, hoặc giấu mặt trong hai bàn tay, rồi lấy mũ đậy lại một cách sơ sài. Kế đó người khóc với tất cả lòng tha thiết và đầy những ước muốn thánh thiện. Tiếp đó thánh nhân đứng lên và cúi đầu một lát như thể tạ ơn một người tốt bụng nào đó vì những ơn đã lãnh nhận. Khi đã hoàn toàn tươi tỉnh, người trở lại với cuốn sách của mình trong sự bình an nội tâm vô tận.


Cách Cầu Nguyện Thứ Chín

Cha thánh Đaminh đã cử hành cách cầu nguyện này đang khi trên đường đi du thuyết từ miền này đến miền khác, đặc biệt khi người đi qua một vùng hoang vắng nào đó. Sau đó người hân hoan đưa mình hoàn toàn vào trong suy niệm, rồi sang chiêm niệm và lúc này người đã nói với những người đồng hành lời được viết trong sách ngôn sứ Hô-sê : “Ta sẽ đưa nó vào sa mạc để cùng nó thổ lộ tâm tình” (Hs 2, 14). Tách khỏi đoàn đi, thánh Đaminh đi lên phía trước hoặc thường xuyên hơn người đi sau một quãng, vừa đi vừa cầu nguyện, trong suy niệm người được hâm nóng tâm hồn và ngọn lửa nhân ái nơi người được đốt lên. Đang khi cầu nguyện, người đã tự làm cho mình thêm vững mạnh bằng cách làm dấu thánh giá liên tục như thể có bụi hay côn trùng đang bay trước mặt.

Anh em nghĩ rằng trong khi cầu nguyện theo cách thức này cha thánh thấm nhuần Kinh Thánh và hiểu thấu đáo Lời Chúa, đó là sức mạnh để người nhiệt thành và can đảm giảng thuyết, đồng thời cách cầu nguyện này giúp thánh nhân thấu hiểu tường tận về Chúa Thánh Thần, nhờ đó người khám phá được những điều bí ẩn nơi Thiên Chúa.

Thứ Sáu, 24 tháng 7, 2020

CHÚC MỪNG LỄ CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN - Bổn mạng các Giáo Lý Viên



Vinh dự cho người thanh niên đất Việt

Trong lá thư gửi đại hội giới trẻ thế giới lần thứ 17 tại Canada, một thanh niên Việt Nam được Đức Gioan Phaolô II nêu danh ở vị trí thứ hai trong số 10 vị thánh trẻ gương mẫu [1]. Nhân vật có vinh dự lớn lao ấy chính là chân phước Anrê Phú Yên, một thanh niên trẻ trung đất Việt đã làm chứng cho Chúa vào tuổi 19, cũng là vị tử đạo tiên khởi trong số 118 chứng nhân đức tin tại Việt Nam được suy tôn trên bàn thờ.

Anrê Phú Yên sinh khoảng năm 1625, là con út trong một gia đình nghèo tại thôn xóm nhỏ ven biển, thuộc tỉnh “Ranran” tức tỉnh Phú Yên. Sinh quán của anh hiện nay thuộc về giáo xứ Mằng Lăng, tỉnh Phú Yên, giáo phận Quy Nhơn.

Năm 15 tuổi, cùng với thân mẫu, anh đón nhận đức tin với tên thánh là Anrê. Không có tài liệu nào về tên thật của anh, nên mọi người gọi anh bằng tên thánh : Anrê Phú Yên. 

Thày giảng trẻ tuổi

Tuy góa bụa nhưng bà Gioanna đã giáo dục con với tất cả lòng tận tụy và khôn ngoan. Hai năm sau, bà nài xin và được chính cha Đắc Lộ, vị thừa sai dòng Tên nổi tiếng tại Việt Nam, nhận lời cho con của bà là Anrê khi đó mới 17 tuổi, được gia nhập vào tổ chức thày giảng. Sau một thời gian được huấn luyện thêm về tôn giáo và văn hóa, Anrê đã tuyên khấn tại Hội An năm 1643, và bắt đầu thi hành công tác thầy giảng, theo chân cha Đắc Lộ trên bước đường truyền giáo từ Phú Yên lên Quy Nhơn, Quảng Ngãi, Quảng Nam và Quảng Bình.

Dựa theo tài liệu do chính cha Đắc Lộ viết về công cuộc truyền giáo ở Đàng Trong, bên cạnh hai kitô hữu trưởng thành, còn có một nhóm những người trẻ hơn, cũng tuyên thệ công khai tại nhà thờ, hứa cộng tác vào việc cứu vớt các linh hồn, dưới sự hướng dẫn của các thừa sai hoặc bề trên do các ngài chỉ định. Trong số những người trẻ tuổi ấy có thầy Anrê, đã tận hiến đời mình bước theo dấu chân Thày Chí Thánh.

Một số nhân chứng đã gặp thầy tại nhà của cha Đắc Lộ, hoặc chứng kiến cách thức thầy phục vụ cộng đoàn ở Hội An; đều ca ngợi thày là người nhiệt thành và hăng say, khi giảng dạy về đức tin cũng như khi chủ sự các giờ kinh cộng đoàn. Nhiều người xác định thày siêng năng lãnh nhận bí tích Hòa giải và Thánh Thể.

Đón nhận những khó khăn cách tự nguyện 

Tháng 7 năm 1644, Quan nghè Bộ đang trấn nhiệm tỉnh Phú Yên nhận được sắc chỉ từ phủ chúa Nguyễn ra lệnh cấm truyền bá đạo. Ông tỏ ra hăng say tuân theo mệnh lệnh này. Ông cho lệnh bắt giam một thày giảng lớn tuổi cũng có tên là Anrê và bao vây nhà cha Đắc Lộ để lùng bắt một thầy giảng khác có tên là Ignatio.

Cha Đắc Lộ nghe biết chuyện đã đến gặp viên quan này để tìm cách thương thảo, nhưng quan trấn khẳng định quyết tâm thi hành lệnh nhà chúa. Ông yêu cầu cha trở về Macao và báo trước sẽ trừng phạt nặng nề các tín hữu dám theo đạo mới. Thế nên cha Đắc Lộ chỉ còn cách đi vào nhà giam để thăm thầy già Anrê. Cha xin ở lại một đêm với thày nhưng không được phép.

Khi quân lính tới nhà cha Đắc Lộ để lùng bắt thầy giảng Ignatio thì cả nhà đều đi vắng. Thầy Anrê trẻ là người duy nhất có mặt. Thày đứng ra nhận hết trách nhiệm, nên quân lính bắt trói thày sau khi đã lục lọi các ảnh thánh và đồ thờ đem về trình cho quan trấn. Anrê vui vẻ đi theo họ, và trên suốt quãng đường "không ngừng giảng cho những kẻ dẫn mình vào ngục biết đường tránh hỏa ngục và được lên trời” [2]

Sau khi bị điệu đến quan, bị tố cáo là giáo dân và là thày giảng, thày Anrê bị nhốt chung với thày già Anrê. Cả hai thức suốt đêm mà họ coi như đêm cuối cùng của cuộc đời, cả hai yên ủi nhau với niềm tin tường ngày mai cả hai sẽ về thiên quốc[3]. Theo cha Đắc Lộ : "Thật không thể giải thích được niềm vui của hai tù nhân này lớn lao dường nào khi thấy mình được liên kết với nhau, được vinh dự mang gánh nặng của Thập Giá vì niềm tin nơi Chúa Kitô : những lời chúc tụng của họ liên tục dâng lên Thiên Chúa vì ân huệ ấy, trong cuộc nói chuyện đầy thương mến, họ khích lệ và nhắn nhủ nhau sẵn sàng cho trận chiến tương lai"

Sáng hôm sau, quan truyền đưa hai thày giảng Anrê ra tòa để kết án. Hai vị bị áp tải qua các đường phố, cổ mang gông, băng qua chợ Kẻ Chàm, đến dinh quan trấn. Cha Đắc Lộ và một vài thương gia Bồ Đào Nha tới gặp quan để tìm cách can thiệp. Nhưng quan chỉ chấp nhận tha cho thày già Anrê và kết án chàng thanh niên 19 tuổi cố chấp, dám dõng dạc thưa với quan : “Ước chi tôi có được ngàn mạng sống để hiến dâng tất cả cho Thiên Chúa hầu đền đáp ơn Người”.

Khi nghe bản án tử hình, thầy Anrê tỏ ra thanh thản và vui mừng vì được chịu khổ đau vì Chúa Kitô. Thày khích lệ những người đến thăm. Thày xin họ cầu nguyện cho mình được ơn trung thành với Chúa, và nói lên ước nguyện được dâng hiến mạng sống trong tình yêu trọn vẹn, hầu đáp trả tình yêu thương vô biên của Chúa, Đấng đã hiến mạng sống vì loài người... Lời thầy lập lại nhiều lần nhất là: "Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp lại tình yêu của Chúa chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp lại mạng sống". 

Lấy tình yêu để đáp lại tình yêu

Vào khoảng 5 giờ chiều, một toán lính khoảng 30 người vào tù áp tải thầy Anrê đi tới nơi hành quyết. Thầy Anrê cảm tạ Chúa vì giờ hiến tế đã tới, và sau khi chào mọi người bạn tù, thầy nhanh nhẹn bước đi. Quân lính bao vây chung quanh và dẫn thầy đi qua các đường phố ở Kẻ Chàm, tới một cánh đồng ngoài thành, [4]. Cha Đắc Lộ, nhiều tín hữu Việt Nam và Bồ Đào Nha cùng một số dân trong vùng đã đi theo chứng kiến cuộc xử tử vị Tôi Tớ Chúa.

Đến nơi hành hình, quân lính đẩy thầy Anrê quì xuống, rồi đứng vây chung quanh, sau đó họ tháo gông và trói hai tay thầy lại. Cha Đắc Lộ xin và được phép trải một tấm chiếu dưới chân thầy Anrê để hứng máu, nhưng thầy Anrê từ chối, thầy muốn máu mình rơi xuống đất như máu cực trọng Chúa Kitô thuở xưa. Cha Đắc Lộ tôn trọng quyết định của thầy và đứng bên cạnh. Trong khi đó, thầy Anrê nhắn nhủ các tín hữu đang hiện diện, hãy luôn kiên vững trong đức tin, đừng buồn phiền vì cái chết của thầy, và hiệp lời cầu cho thầy được trung thành tới cùng.

Cuộc hành quyết thầy Anrê được thi hành bằng mấy nhát giáo đâm thấu cạnh sườn bên trái. Thày Anrê vẫn nhìn về phía cha Đắc Lộ như âu yếm nói lời vĩnh biệt, nhưng cha nhắc thày ngước nhìn lên trời nơi thày sắp tới và có Chúa Giêsu đón thày. Thày ngước mắt lên cao và không nhìn xuống nữa. Cuối cùng, khi một người lính dùng đao chém đầu, thầy vẫn lớn tiếng kêu lên danh thánh "Giêsu". Hôm ấy là ngày 26 tháng 7 năm 1644.

Cho tới hơi thở cuối cùng, Thầy Anrê đã chứng tỏ lòng kiên trung chấp nhận dâng hiến tế cuộc sống vì lòng tin yêu Chúa Kitô. Cha Đắc Lộ, sau khi chứng kiến tất cả diễn tiến cuộc hành quyết, đã xin được lãnh thi hài của Thầy Anrê. Ít ngày sau ngài đưa thi thể thày đưa xuống tàu mang sang Macao ngày 15 tháng 8 năm 1644. Các tu sĩ dòng Tên tại đây đã đón rước linh cữu thày và an táng tại đây. Riêng thủ cấp của vị chứng nhân đức tin được cha Đắc Lộ đưa về tận Rôma. Dựa vào các tài liệu của cha viết về cái chết của Thày Anrê, ngay cuối năm 1644, tòa thánh đã bắt đầu khởi sự án phong chân phước cho thày.

Với các tín hữu Việt Nam, Thầy Giảng Anrê Phú Yên chính là vị tử đạo đầu tiên của Đàng Trong, là mẫu gương ngời sáng của một người con Chúa trung thành sống đời kitô hữu. Họ tin tưởng xin Thầy chuyển cầu cho họ nơi tòa Chúa để được sức mạnh can đảm sống phù hợp với đức tin và trung thành với ơn gọi Kitô. Các giám mục Việt Nam khi đi dự Công Đồng Vatican II, đã xin Đức Phaolô VI mở lại án phong chân phước cho Thầy Giảng Anrê. Các vị nhấn mạnh tấm gương của thầy Anrê, qua thái độ bình thản và cương quyết chấp nhận tử đạo, là một trợ lực mạnh mẽ cho những ai giống như thầy, đang chịu đau khổ để bảo vệ đức tin và trung thành với Chúa Kitô và với Giáo hội.

Giữa năm đại thánh 2000, vào ngày 5 tháng 3, Đức Gioan Phaolô II đã suy tôn Thày Anrê Phú Yên lên bậc chân phước.

Lạy Chúa,
xin cho các giáo lý viên và các bạn trẻ,
ở bất cứ hoàn cảnh nào,
dù nơi bị cấm cách hay trong xã hội tân tiến với nhiều quyến rũ,
Biết noi gương Chân Phước Thầy Giảng Anrê Phú Yên,
hăng say loan truyền Tin Mừng Tình Yêu và Hòa Giải
cùng trung kiên theo Chúa Giêsu,
sẵn sàng hiến mạng sống đáp trả lại tình yêu của Ngài. Amen.

-------
[1] Mười vị thánh trẻ được Đức Gioan Phaolô II nêu gương trong sứ điệp gửi nhân ngày Quốc tế giới trẻ lần thứ 17 là : Agnes thành Rôma, Anrê Phú Yên, Pedro Calungsod, Josephine Bakhita, Têrêsa thành Lisieux, Pier Giorgio Frassati, Marcel Callo, Francisco Castellô Aleu, Kateri Tekakwitha, và Iroquois còn được gọi là "Hoa huệ của người Mohawks".

[2] Alexandre De Rhodes, Hành Trình Truyền Giáo, Bản dịch Hồng Nhuệ, UBĐKCG TpHCM 1994, tr 146

[3] Như trên, trang 147

[4] Hiện nay thuộc giáo họ Phước Kiều, giáo xứ Vĩnh Điện, Quảng Nam, giáo phận Đà Nẵng .

Lm. Đào Trung Hiệu, OP

Chủ Nhật, 5 tháng 7, 2020

CHÚC MỪNG LỄ THÁNH MARIA GORETTI - Bổn mạng Ca đoàn Thiếu nhi


Teresa Maria Goretti sinh ngày 16.10.1890 tai Corina, một làng nhỏ thuộc nước Ý. Goretti được sinh ra trong một gia đình Công giáo đạo đức, thanh cao. Ông Luygi cha của Goretti, một người cha cần cù, biết nhìn xa trông rộng mọi cảnh huống trong gia đình. Bà Axunta, một người mẹ hiền hậu, bao giờ cũng tỏ ra thương chồng và yêu các con.

Năm lên 9 tuổi, Goretti theo cha mẹ sang Phêri để sinh sống cho cuộc sống đỡ chật vật hơn. Nhưng không may, mới ở Phêri được một năm thì cha em đã qua đời vì bệnh tật. Cái chết đau thương của người cha thân yêu đã ghi sâu trong tâm trí em kể từ ngày ấy và luôn luôn cô cầu nguyện cho cha mình. Thời gian lặng lẽ trôi, anh trai, Goretti và các em sống trong tình cảnh mồ côi cha, luôn túng bấn và thiếu gạo ăn. Hằng ngày mẹ và anh phải ra đồng, còn Goretti ở nhà trông các em và cơm nước. Em thay mẹ lo mọi việc trong nhà, nên chỉ mới 12 tuôi đầu mà em đã rất đảm đang và quán xuyến. Ai nhìn em cũng phải khen em thật là xinh, khuôn mặt trái xoan, mũi cao, trán cao, tóc đen và dài, em có đôi môi đỏ và thân hình đang tuổi dậy thì. Vì hoàn cảnh túng thiếu, nghèo khó nên từ nhỏ em đã không được đến trường học. Em không biết viết cũng không biết đọc, chỉ thuộc những kinh nguyện do mẹ dạy vào những buổi chiều hay buổi tối trước khi đi ngủ.

Mãi tới năm 12 tuổi, Goretti mới được rước lễ lần đầu tại nhà thờ Netturo cách làng Phêri 12km. Sung sướng và hạnh phúc biết bao đã từ lâu lắm em mong ước có ngày này, được rước Chúa vào lòng. Em đã thầm cầu nguyện, xin ơn cho người cha đã qua đời, xin cho mẹ đỡ vất vả để nuôi dạy các con nên người, và nhất là em đã xin Chúa cho em có một tâm hồn trong trắng, chăm chỉ làm việc, sống đạo đức và ngoan ngoãn.

Ngay bên cạnh nhà Goretti gia đình ông Xeren, ông Xeren có cậu con trai 17 tuổi là Alexander. Mồ côi mẹ từ khi mới vừa sinh ra nên Alexander đã sống thiếu tình mẹ xa tình cha: tâm hồn anh trống rỗng, lầm lì, thiếu văn hóa. Ông bà Luygi rất nhiều lần không nén lòng nổi kêu trách về Alexander thì ông Xeren cũng chẳng quan tâm mà dạy bảo gì. Điều đó làm cho ông bà Luygi muốn sớm đưa gia đình mình về lại Corina sống để tránh cho các con học đòi theo những thói hư của Alexander.

Rồi một chiều thứ bảy, sau khi đọc kinh xong, Goretti đang lúi húi sửa lại những bông hoa cắm trong bình và thay những cây nến mới. Alexander sang bên nhà muốn nhờ Goretti khâu lại khuy của chiếc áo sơ mi, Goretti nhận lời Alexander sang sửa giúp chiếc áo vì lòng bác ái. Anh đứng nhìn Goretti khâu áo, thì lúc này trong tâm trí anh nhận thấy Goretti là một thiếu nữ xinh đẹp hơn là thánh thiện. Anh muốn yêu cô và ước mong được sống gần cô. Không thể kiềm chế nổi mình, ngay khi Goretti vừa cất kim chỉ đi thì anh đã chạy lại ôm lấy cô và cố hôn lên đôi má bầu bĩnh của cô. Goretti thấy cử chỉ sàm sỡ của Alexander liền chống cự và đẩy anh ra. Thấy mình bị Goretti chống cự anh bỏ ra và hăm dọa nếu cô nói với ai biết chuyện này thì cô sẽ bị mất mạng.
Goretti hoảng sợ vội chạy ra vườn, trong lòng em buồn sầu và bối rối. Em mong được đi xưng tội ngay.

Mấy tháng êm đêm trôi qua, mùa hè đến. Chiều hôm đó trời như sắp có giông, bà Axunta giục con trai và cậu Alexander nhanh chóng thu lúa đang phơi ngoài bãi vào kho. Goretti ở lại cho em bé út ngủ và chuẩn bị cơm chiều. Alexander còn nấn ná muốn trò chuyện với Goretti và lại nhờ Goretti vá lại chiếc áo vừa bị rách, anh chạy về phòng lấy để đưa cho Goretti làm rồi anh ra sân. Một lúc sau anh nghĩ, chỉ có mình Goretti ở nhà và đây là dịp tốt để gần cô, anh nhờ bà Axunta coi bò giúp để anh về nhà. Anh vào nhà thì thấy Goretti vẫn đang lúi húi khâu vá. Với tay cầm con dao cắt hoa quả để trên bàn, anh chỉ định dùng để dọa nếu lần này Goretti lại kháng cự. Anh gọi Goretti sang phòng anh, nhưng Goretti lưỡng lự không sang, anh liền tới nắm lấy tay cô và kéo sang. Goretti sợ hãi kêu cứu, liền đó anh đưa dao lên kề vào cổ cô mà dọa. Alexander vẫn chờ đợi sự ưng thuận của Goretti, còn Goretti một mực chống cự lại, trong lúc tức giận không kiềm chế nổi hành vi của mình anh đã đâm liên tiếp tám nhát dao vào ngực Goretti. Goretti quị xuống cố lết ra ngoài cửa, Alxender đuổi theo đâm tiếp bốn nhát dao nữa trên người Goretti rồi thất thần ném con dao đi rồi gục xuống bên Goretti.

Đúng lúc đó ông Xeren đi vào nhà chợt nhìn thấy Goretti nằm trên vũng máu liền kêu lớn tiếng để mọi người tới giúp. Tiếng Goretti rên rỉ trong đau đớn:
- Chính… chính Alexander, Lạy Chúa… con chết mất!
Mọi người chạy đi gọi bác sĩ và cảnh sát, Alexander thì bị giữ lại nhốt vào phòng chờ cảnh sát đến.
Bác sĩ đến và sơ cứu vết thương rồi vội đưa em vào bệnh viện ngay để giải phẫu. Các bác sĩ đều thất vọng vì nhiều vết thương quá sâu và máu bị chảy ra quá nhiều, khó lòng em có thể sống qua được đến ngày mai.
Sáng sớm hôm sau, Cha Tuyên Úy đến làm các phép cho em, em nhận ra cha, nét mặt tươi vui:
- Cha của con!
- Con yêu dấu! Con bớt đau chưa? Con ạ, đau đớn là hạnh phúc cho con, nếu con vui nhận vì Chúa.
- Vâng, thưa Cha.
Ba giờ chiều cùng ngày, đôi môi em vẫn mấp máy câu nguyện rồi bỗng nhiên em uốn người kêu lớn tiếng:
- Alexander! Không được làm thế! Sa hỏa ngục đó.
Người em lịm dần, em ngừng thở nhưng nét mặt vẫn xinh tươi như bông hoa vừa được ngắt đi.

Đúng sáng ngày 8.7.1902 thánh lễ an táng Goretti được cử hành trọng thể. Rất đông người dân trong thành kéo nhau về tham dự. Mọi người đều rất thương nhớ và cảm kích lòng dũng cảm của em.
Trên bia mộ  của em được ghi hàng chữ:

MARIA GORETTI
THIẾU NỮ 12 XUÂN XANH
Sinh ngày 16.10.1890
đã tạ thế ngày 6.7.1902
Vì bảo toàn bông huệ khiết trinh

Ngày 24.4.1947 tại Đền Thờ thánh Phêrô, Đức Giáo Hoàng Piô đã phong Chân phúc cho Maria Goretti.
Ngay 24.6.1950 Chân Phúc Maria Goretti được vinh quang hiển thánh, Thánh Trinh Nữ Tử Đạo.

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

ĐỜI ĐỀN TỘI CỦA ALEXANDER

Tòa tuyên án 30 năm tù khổ sai lưu đầy ra đảo Xirin đối với Alexander vì tội cố sát.

Lúc đầu Alexader không chút ân hận gì về tội lỗi mình gây ra mà chỉ biết giận đời. Một thời gian ngắn sau ở trong tù, một điều kỳ diệu đã đến làm thay đổi tâm hồn Alexander: Anh đã nằm mơ thấy Goretti đi dạo trong vườn có rất nhiều hoa đẹp, Goretti tươi cười nhìn anh và ngắt tặng anh một bông huệ trắng tinh cùng với những bông hoa hường đỏ. Tỉnh giấc, tâm hồn tội lỗi trong anh cũng thức tỉnh. Ngay sang hôm sau anh xin được gặp Cha Tuyên Úy để xưng tội. Cha ân cần giải thích:
-    Bông huệ trắng vốn tượng trưng cho đức trinh khiết, hoa hường đỏ tượng trưng cho phúc tử đạo. Maria Goretti  mà anh đã sát hại một cách tàn nhẫn chắc chắn đã tha thứ cho anh bằng cách tặng hoa và còn cầu nguyện cho anh. Xin Chúa dủ lòng thương xót vì máu nàng đã đổ ra để bảo vệ đức trinh trong ban cho anh ơn thống hối mà lo chuộc lỗi lầm.

Thật vậy, nhờ lời cầu nguyện của Goretti, Alexander đã trở về với Chúa, tính tình cũng đã thay đổi, nhờ đó mà anh được ân xá trước mười năm. Vừa ra khỏi tù, anh liền tìm đến nhà Goretti gặp bà Axunta để xin được tha thứ. Với lòng nhân hậu bà đã đón tiếp và mời anh ở lại dùng bữa cơm thân mật với gia đình, đúng ngày sinh nhật của Goretti năm 1937.
Sau đó, anh đến xin làm lao công trong một tu viện dòng Phanxico: để sống cuộc đời đền tội.


Teresa Avila Phạm Thùy Chi ( sưu tầm và biên soạn )

Tài liệu tham khảo:
- Chuyện thánh Maria Goretti
- Ca nguyện thánh nữ Maria Goretti của Cha Giuse Vũ Ngọc Bích, DCCT
- Ngày lễ thánh Maria Goretti trong tập Mai Mốt của Linh mục Nguyễn Châu Hải.

Chủ Nhật, 28 tháng 6, 2020

CHÚC MỪNG LỄ THÁNH PHÊRÔ VÀ THÁNH PHAOLÔ - Kỷ niệm 13 năm thụ phong linh mục của Cha Giuse Nguyễn Trí Dũng - Bổn mạng Thầy Phêrô Nguyễn Anh Tuấn giúp xứ và Hội Đồng Mục Vụ Giáo xứ Cầu Lớn

Những Tương Đồng Lạ Lùng - Lễ Thánh Phê-rô và Phao-lô tông đồ - Lm ...

Hai chứng nhân lịch sử tử đạo: Phêrô và Phaolô

Suy niệm của Lm. Antôn Nguyễn Văn Độ
Ngày 29 tháng 6, Phụng vụ Giáo hội mời gọi chúng ta cùng lúc tôn kính hai thánh Tông Đồ Phêrô và Phaolô. Các ngài là hai cột trụ của Giáo hội phổ quát Chúa Kitô, và theo Truyền Thống, Giáo hội không bao giờ mừng vị này mà bỏ vị kia, nhưng luôn mừng kính và biết ơn đối với hai chứng nhân vĩ đại của Chúa Kitô, vừa đồng thời là một lời tuyên xưng long trọng về một Giáo hội duy nhất, thánh thiện, công giáo, và tông truyền. Thánh Phêrô có tên gốc là Simon, làm ngư phủ người Galilê, sống ở Capharnaum bên hồ Tibêria. Thánh Phaolô có tên là Saolê, người Do thái lưu vong, sinh tại Tarsô miền Tiểu Á bởi cha mẹ là người thế giá, có quyền công dân Rôma. Cuộc đời của hai ông bị đảo lộn từ khi gặp Đức Kitô, họ đã bỏ mọi sự đi theo Chúa. Phêrô bị bắt và được cứu cách lạ lùng: “Bây giờ tôi biết thực sự là Chúa đã sai thiên sứ của Người đến, và Người đã cứu tôi thoát khỏi tay vua Hêrôđê, và khỏi mọi điều dân Do thái mong muốn tôi phải chịu”. (Cv 12,11).
Thánh Phêrô, thủ lãnh các Tông Đồ, con người say mê Chúa Ki-tô, đã xứng đáng nghe lời này: “Còn Thầy, Thầy bảo cho anh biết: anh là Phêrô, nghĩa là Tảng Đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Hội Thánh của Thầy” (Mt 16,18). Trên tảng đá này, Chúa sẽ xây dựng đức tin mà Phêrô tuyên xưng. Phêrô lấy từ “tảng đá”, chứ không phải tảng đá lấy từ Phêrô. Thánh Phaolô là “dụng cụ ưu tuyển” để mang Tin Mừng đến cho các dân tộc. Thánh Phêrô, người đánh cá miền Galilêa, ít học, đã lập gia đình, theo Thầy Giêsu ngay từ buổi đầu sứ vụ, là người sau khi đã vượt qua những ngày đen tối của cuộc Thương Khó của Chúa, sẽ có trách nhiệm củng cố anh em trong đức tin và chăn dắt đoàn chiên của Chúa Kitô (x. Mt 16, 13-19). Còn thánh Phaolô là người Pharisêu sốt sắng, có nhiều điều để tự hào, về gia thế, học thức, về đời sống đạo hạnh. Ông chưa hề gặp mặt Đức Giêsu khi Người còn sống. Nhưng ông gặp Đức Kitô Phục Sinh với biến cố ngã ngựa trên đường Damas, Phaolô trở nên tông đồ của ơn cứu rỗi đến từ đức tin. (x. Cv 9, 1-22)
Cả hai đều được Đức Giêsu gọi, Phêrô được gọi khi ông đang thả lưới bắt cá nuôi vợ con. Phaolô được chính Đức Giêsu Phục sinh gọi khi ông hung hăng tiến vào Đamas, đang làm tông đồ không biết mỏi mệt của dân ngoại (x. Cv 9, 1-22). Cả hai đã từ bỏ tất cả để theo Người. Tất cả của Phêrô là gia đình và nghề nghiệp. Tất cả của Phaolô là những gì ông cậy dựa vênh vang. Bỏ tất cả là chấp nhận bấp bênh, tay trắng.
Cả hai đều đã từng có lần vấp ngã. Vấp ngã bất ngờ sau khi theo Thầy như Phêrô, trong phút giây quá tin vào sức mình. Ngã ngựa bất ngờ và trở nên mù lòa như Phaolô, trong lúc tưởng mình sáng mắt và đi đúng hướng. Vấp ngã nào cũng đau và in một dấu không phai. Vấp ngã bẻ lái đưa con người đi vào hướng mới.
Chúa Giêsu đã chọn một số môn đệ mà Người gọi là Tông Đồ. Trong số các ngài, hầu như bất cứ nơi đâu, chỉ một mình ông Phêrô là xứng đáng đại diện cho toàn thể Hội Thánh. Chính vì là đại diện duy nhất của toàn thể Hội Thánh, nên ông xứng đáng được nghe Chúa nói: “Thầy sẽ trao cho anh chìa khoá Nước Trời” (Mt 16,19). Không phải một cá nhân, nhưng cả Hội Thánh duy nhất đã lãnh nhận chìa khoá này.
Chương trình mầu nhiệm của Chúa Quan Phòng dẫn đưa Phêrô tới Roma, nơi đây ngài đổ máu như chứng tá sau cùng và cao cả nhất của đức tin và của lòng mến đối với Thầy chí Thánh “Lạy Thầy, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Mt 16,17). Như vậy ngài đã chu toàn sứ mệnh trở nên dấu hiệu của lòng trung thành với Chúa Kitô và của sự hiệp nhất tất cả Dân Chúa.
Phần Phaolô, trong hành trình truyền giáo, ngài không ngừng rao giảng Chúa Kitô bị đóng đanh và lôi kéo nhiều nhóm người Á Châu và Âu Châu trở về với Chúa. Sau khi qua Thổ Nhĩ Kỳ, Hy Lạp, ngài đến Roma. Và chính ở đây, ngài được phúc tử đạo để làm chứng cho Chúa Kitô. Chính ngài đã nói lên trong bài đọc thứ hai Thánh lễ hôm nay rằng: “Chúa đã gần gũi tôi và ban sức mạnh cho tôi, để qua tôi, việc rao giảng sứ điệp Tin Mừng được thực hiện và để các dân ngoại được nghe biết đến”. (2Tm 4, 17-18)
Phêrô và Phaolô đều yêu Đức Giêsu cách mãnh liệt, vì họ cảm nhận sâu xa mình được Người yêu mến. “Này anh Simon, anh có mến Thầy không? Thưa Thầy có, Thầy biết con yêu mến Thầy” (Ga 21,16). Cả Phaolô cũng yêu Đấng ông chưa hề chung sống, vì Người là “Con Thiên Chúa, Đấng đã yêu mến tôi và hiến mạng vì tôi” (Gl 2,20). Phaolô đã không ngần ngại khẳng định: “Không gì có thể tách được chúng ta ra khỏi Tình Yêu của Đức Kitô” (Rm 8, 35.39)
Tình yêu Đức Kitô là linh hồn của đời truyền giáo, vì nói cho cùng truyền giáo chính là giúp người khác nhận ra và yêu mến Đấng đã yêu tôi và yêu cả nhân loại. Cả hai vị Tông Đồ đều hăng say rao giảng, bất chấp muôn vàn nguy hiểm khổ đau. Phêrô đã từng chịu đòn vọt ngục tù (x. Cv 5,40), còn nỗi đau của Phaolô thì không sao kể xiết (x. 2C 11, 23-28); “Tôi mang trên mình tôi những thương tích của Đức Giêsu” (Gl 6, 1-7).
Cả hai vị thánh đã chết như Thầy, đã lấy máu mình mà làm chứng: thánh Phêrô bị dẫn đến nơi ông chẳng muốn (x. Ga 21, 18), chịu đóng đinh chết; thánh Phaolô đã chiến đấu anh dũng cho đến cùng, bị chém đầu; đã đổ máu ra làm lễ tế (x. 2Tm 4, 6). Thánh Phêrô được chôn cất ở chân đồi Vaticano; thánh Phaolô được an táng bên đường Ostiense.
Hội Thánh hôm nay vẫn cần những Phêrô và Phaolô mới, dám bỏ, dám theo và dám yêu dám sống và dám chết cho Đức Kitô và Tin Mừng. Hội Thánh vẫn cần những chiếc cột và những tảng đá. Với lòng ngưỡng mộ biết ơn các ngài, chúng ta quyết một lòng trung thành với đức tin đã lãnh nhận.
Lạy Mẹ Maria, Nữ Vương Các Thánh Tông Đồ, xin cầu cho chúng con. Amen.