Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy tư về cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Suy tư về cuộc sống. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

Giàu vật chất, nghèo ơn gọi

Có lẽ hầu hết mọi đấng bậc có dịp đến thăm, làm mục vụ tại giáo xứ X đều nức lòng khen ngợi, cảm phục tài quản trị, tổ chức và xây dựng cộng đoàn của các đời linh mục phụ trách, đặc biệt của vị đương nhiệm.

Đây là một trong những giáo xứ lâu năm nhất của giáo phận, cuộc sống của tín hữu đều tương đối khá giả, nhà cao cửa rộng. Nhà thờ, nhà xứ và các cơ sở vật chất khác đều khang trang, xứng tầm hãnh diện của cộng đoàn. Tất cả các đoàn thể đều thu hút, qui tụ được đông đảo mọi thành phần, từ ấu, thiếu nhi, thanh niên, gia trưởng, bà mẹ…

Có những giáo xứ phát triển mọi mặt, nhưng lại nghèo ơn gọi. Ảnh minh hoạ

Giáo xứ đã được vinh dự đón tiếp Đức Tổng Giám mục Đại diện không thường trú của Tòa thánh tại Việt Nam đến thăm, tất nhiên là cùng với đoàn là nhiều giám mục, linh mục, tu sĩ nam nữ cả trong và ngoài giáo phận. Việc tổ chức chu đáo đến từng chi tiết, với cả rừng người ăn mặc trang trọng đón tiếp, các nghi thức rình rang không chỉ trong phụng vụ thánh mà còn cả trong việc nghinh tiếp quí khách…

Có thể nói không ngoa là mọi khả năng cao nhất về nhân tài vật lực đã được huy động cho dịp viếng thăm có một không hai này. Đúng như nhận xét của bà con trong xứ và người dân địa phương là trang trọng hơn cả các nghi thức, nghi lễ đón tiếp một lãnh đạo cao cấp của xã hội!

Tất nhiên, không thể thiếu một bài diễn văn chào mừng rất hoành tráng với những số liệu tươi rói về quá trình hình thành, phát triển của giáo xứ, không ngớt được tán thưởng của các đấng bậc tham dự.

Tuy nhiên, nếu để ý quan sát thật kỹ, vẫn dễ nhận ra nét đăm chiêu của một vị giám mục khách mời đến từ một giáo phận khác nhưng có ít nhiều mối dây quan hệ với giáo xứ. Mãi sau này, ngài mới kể lại câu chuyện rằng: Trong bữa đại tiệc khoản đãi quí khách trong đoàn, ngài có hỏi linh mục chánh xứ là suốt mấy chục năm qua, giáo xứ mình ở đây đã có được bao nhiêu ơn gọi trở thành linh mục, tu sĩ phục vụ Giáo hội, chắc là khá đông?

Vị chánh xứ trả lời ngay là có hai linh mục xuất thân từ giáo xứ. Nhưng rất bất ngờ, theo lời của vị phó xứ, chính xác ra chỉ có một ơn gọi, vì gia đình một vị linh mục được cho là xuất thân từ giáo xứ này chỉ mới về nhập xứ được vài năm gần đây…

Giáo xứ này đúng là giàu có mọi mặt, nhưng vẫn còn nghèo lắm. Nghèo về ơn gọi!

PHÙNG NGHỊ

Thứ Ba, 6 tháng 10, 2020

Trí sáng, tâm ngay

 Mắt là đèn soi thân thể; mắt lành lặn thì toàn thân được sáng sủa; nhưng nếu mắt vạy vò thì thân sẽ tối tăm’ (Lc 11, 34).

Thật sai lầm khi cho rằng chỉ cần có nhiều thiện chí và độ lượng hơn nữa là thế giới sẽ được cứu.

Thế giới được cứu không phải nhờ có thiện chí và độ lượng, mà là nhờ suy nghĩ sáng suốt. Bao dung với người khác có ích gì, nếu bạn cứ đinh ninh rằng mình đúng, còn người nào bất đồng với mình đều sai? Đó không phải là bao dung, mà là hạ cố. Thái độ ấy không giúp người ta ý hợp tâm đầu, mà chỉ làm người ta thêm chia rẽ, vì bạn đã tự ý xếp mình đứng trên và những người khác đứng dưới. Sự sắp xếp ấy sẽ chỉ đưa ta tới chỗ cảm thấy mình hơn người và người khác cảm thấy bất mãn, dần dần đi tới chỗ uất ức không chấp nhận được.

Chỉ có bao dung thật sự khi người ta nhận thức rõ càng tìm kiếm sự thật ta càng mù tịt. Sự thật tự nó vốn là một mầu nhiệm.

Trí khôn có thể cảm thấy chứ không thể nào nắm bắt mầu nhiệm, càng không thể diễn đạt mầu nhiệm. Niềm tin của chúng ta có thể chỉ cho chúng ta thấy mầu nhiệm, chứ không thể nào diễn đạt thành lời. Dù vậy, người ta vẫn cứ thao thao bất tuyệt về giá trị của sự đối thoại: tệ nhất thì đó chẳng qua chỉ là một cố gắng lén lút nhằm thuyết phục người khác tin rằng lập trường của mình đúng, còn khá hơn thì đối thoại sẽ giúp ta khỏi trở thành một con cóc ngồi dưới đáy giếng tưởng rằng cái giếng của mình là toàn thể thế giới.

Điều gì sẽ xảy ra, nếu các chú cóc ấy tập trung lại trao đổi những xác tín và kinh nghiệm của mình? Có thể chân trời của nó sẽ mở rộng ra, để bao gồm cả những cái giếng khác nữa chứ không chỉ cái giếng của mình. Nhưng chúng vẫn không biết đại dương sự thật không thể nhốt kín trong mấy bức tường của những chiếc giếng khái niệm đó. Thế nên, mấy con cóc ấy lại tiếp tục chia bè chia cánh nói theo ngôn ngữ của anh của tôi, nói theo kinh nghiệm, xác tín, ý thức hệ của anh của tôi. Chia sẻ những phát biểu như thế chẳng làm giàu thêm cho ai vì các lời phát biểu ấy chẳng khác gì những bức tường giếng chỉ làm người ta chia rẽ nhau: chỉ có đại dương mênh mông không giới hạn mới hợp nhất người ta được.

Nhưng muốn đến với đại dương chân lí không bị các lời phát biểu bó gọn, cần phải được ơn suy nghĩ sáng suốt.

Thế nào là suy nghĩ sáng suốt và làm sao suy nghĩ được như thế?

1. Điều đầu tiên bạn cần biết là muốn suy nghĩ sáng suốt, chúng ta không buộc phải học hành thông thái. Suy nghĩ sáng suốt là một việc đơn giản đến nỗi một đứa trẻ mười tuổi cũng làm được. Nó đòi chúng ta không học hành mà hiểu biết, không tài năng mà can đảm.

Bạn có thể hiểu ra điều này nếu nghĩ đến một đứa nhỏ nằm trong tay một người giúp việc già nua, xấu xí. Đứa trẻ còn nhỏ quá nên không thể nào biết những thành kiến của người lớn. Vì thế khi rúc vào vòng tay người đàn bà ấy, nó không làm theo một thành kiến nào trong đầu, như phân biệt phụ nữ da trắng với phụ nữ da đen, phụ nữ đẹp với phụ nữ xấu, trẻ hay già, là mẹ hay là người giúp việc, mà chỉ làm theo thực tế. Người phụ nữ ấy đã thoả mãn nhu cầu của đứa trẻ muốn được yêu thương.  Đứa trẻ làm là làm theo thực tế, chứ không căn cứ vào tên tuổi, mặt mũi, tôn giáo, chủng tộc hay giáo phái của người phụ nữ. Tất cả những yếu tố này hoàn toàn không có chỗ ở đây.

Cho tới lúc ấy, đứa trẻ chẳng có xác tín hay thành kiến nào. Và đây chính là môi trường cho người ta có thể suy nghĩ sáng suốt. Như thế, muốn suy nghĩ sáng suốt, người ta phải quẳng đi mọi điều mình đã học, và lấy lại trí khôn của một đứa trẻ – không hề vương vấn những kinh nghiệm quá khứ cũng chẳng bị cài đặt theo một chương trình nào từng che lấp con mắt chúng ta khi nhìn vào thực tại.

2. Rồi hãy nhìn vào mình rồi kiểm tra xem mình phản ứng thế nào với mọi người và mọi tình huống, và bạn sẽ phát hiện thấy đằng sau các phản ứng ấy luôn có một ý nghĩ đã bị thiên lệch. Phản ứng của mình hầu như chẳng bao giờ căn cứ theo sự thật cụ thể của người này việc kia, mà chỉ dựa vào những nguyên tắc, những ý thức hệ, những hệ thống tín ngưỡng, những hệ thống kinh tế, chính trị, tôn giáo, tâm lí, những ý kiến có sẵn và những thành kiến, tích cực hay tiêu cực.

3. Thong thả nhìn xem từng người, từng vật và từng tình huống, rồi tìm cho ra những thành kiến, bằng cách tách biệt thực tế hiện ra trước mắt mình bây giờ với những nhận thức và hình dung đã bị cài đặt nơi mình, Bài tập này sẽ giúp bạn có được những mặc khải thần thánh không kém gì mặc khải mà Sách Thánh đã cung cấp cho bạn.

Thành kiến và những tin tưởng không phải là kẻ thù duy nhất làm chúng ta không suy nghĩ sáng suốt được.

Còn một cặp thù địch nữa, là những ước muốn và những lo sợ. Muốn suy nghĩ mà không hề bị những cảm xúc, như ước muốn và lo sợ, những bận tâm riêng ảnh hưởng, cần phải có một sự khổ hạnh kinh khủng.

Người ta thường lầm tưởng rằng suy nghĩ là do đầu óc, đang khi kì thực người ta suy tư bằng con tim – con tim đưa ra kết luận, rồi bắt đầu óc lí luận thế nào để bênh vực cho kết luận ấy. Và đây cũng là một mặc khải nữa hết sức linh thiêng. Hãy xem lại một số kết luận mình đã có và thử coi chúng đã bị những tư lợi của mình tác động thế nào. Đây là điều đúng cho hết mọi kết luận, trừ khi bạn chỉ giữ kết luận ấy tạm thời thôi. Hãy xem bạn từng bám chặt vào những kết luận của mình, liên quan đến con       người chẳng hạn. Những phán đoán ấy có hoàn toàn thoát khỏi mọi cảm xúc không? Nếu bạn cho là   vậy thì rất có  thể bạn chưa xem xét kĩ lưỡng các kết luận ấy.

Đây chính là nguyên nhân quan trọng đưa tới bất hoà và chia rẽ giữa các quốc gia và giữa các cá nhân. Bận tâm của anh không trùng hợp với bận tâm của tôi, vì thế suy nghĩ và kết luận của anh không phải là của tôi.

Có bao nhiêu người bạn biết là thường suy nghĩ – nếu không luôn luôn thì thỉnh thoảng – ngược với tư lợi của mình? Bạn còn nhớ mình đã bao nhiêu lần có cách suy nghĩ ấy? Bạn đã mấy lần làm được việc này: đặt một hàng rào không thể vượt qua giữa những gì mình đang suy nghĩ trong đầu với những nỗi lo sợ và ước ao đang rạo rực trong tâm hồn mình? Cứ mỗi lần bạn làm được việc này, bạn lại thấy muốn suy nghĩ sáng suốt không cứ là phải thông minh. Mà là phải can đảm để có thể đương đầu thành công với những lo sợ và ước ao, vì chưng cứ mỗi khi bạn ước ao điều gì hay lo sợ điều gì là con tim bạn sẽ can thiệp vào suy nghĩ của bạn, dù bạn có biết hay không.

Đó là các bài học mà các vĩ nhân tinh thần đã rút ra: muốn tìm ra sự thật, họ không cần những công thức giáo thuyết mà cần phải có:

a. một tâm hồn đã thoát khỏi chương trình cài đặt cho mình và những bận tâm riêng của mình mỗi khi  phải suy tư;

b. một tâm hồn không có gì cần bảo vệ, cũng chẳng có gì phải ao ước, nhờ đó có thể để cho trí khôn bơi lội tự do, không nao núng, hầu tìm ra sự thật;

c. một tâm hồn luôn sẵn sàng đón nhận những sự thật mới và thay đổi quan điểm của mình.

Một tâm hồn như thế sẽ như ngọn đèn soi sáng cho toàn thể nhân loại hết tăm tối. Nếu mọi người trên thế gian này đều có tâm hồn như thế, thì chẳng ai còn nghĩ mình là người Cộng Sản hay Tư Bản, Kitô Hữu, tín đồ Hồi Giáo hay Phật Tử. Một khi suy tư sáng suốt như thế, người ta sẽ nhận ra mọi tư duy, mọi khái niệm, mọi xác tín chỉ là những dấu hiệu của ngu muội. Và khi đã nhận thức ra điều ấy, người ta sẽ thấy các bức tường của các giếng tách biệt nhau bắt đầu sụp đổ, và cả một đại dương mênh mông tràn vào, nối kết mọi người trong chân lí.


Tác giả: Anthony de Mello, S.J.

Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách: Tiếng gọi yêu thương

Thứ Sáu, 25 tháng 9, 2020

Đây có thể là một trong những diễn văn công giáo tuyệt vời nhất của thế kỷ 21


WGPSG / Aleteia -- Diễn viên Jim Caviezel đã có một bài phát biểu đặc biệt: Đây có thể được coi là một trong những diễn văn công giáo tuyệt vời nhất của thế kỷ 21. Nam diễn viên nổi tiếng, đóng vai Chúa Giêsu trong bộ phim "The Passion of the Christ - Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô” đã kêu gọi thế hệ tiếp theo "hãy đưa tướng quỷ Luxiphe thẳng đường về lại địa ngục!"

Jim Caviezel đã chuẩn bị phát hành bộ phim mới nhất của mình về chủ đề đức tin - 'Thánh Phaolô, vị Tông đồ Chúa Kitô' - đã được phát hành vào mùa Xuân năm 2018 - trong phim, anh ấy đóng vai thánh sử Luca.

Trong tư cách là một ngôi sao lớn nhất được gắn lên ảnh, Jim đã đến hội nghị lãnh đạo cấp cao của FOCUS (hội nghị SLS năm 2019) để quảng bá bộ phim nổi bật này.

Các sinh viên có lẽ đã mong đợi một bài phát biểu về bộ phim mới, nhưng những gì họ nhận được lại là một lời kêu gọi hành động phi thường khiến cả chúng tôi cũng phải 'lạnh xương sống'.

Đám đông đã rất xúc động khi nhìn thấy khuôn mặt nhân hậu, với bộ râu quai nón của Caviezel, đến mức dường như họ không thể bình tĩnh lại được. Anh nhẹ nhàng đưa một ngón tay lên và căn phòng trở nên thật tĩnh lặng đến nỗi có thể nghe thấy tiếng một chiếc kim rơi. Sau đó, Caviezel bắt đầu nói nhẹ nhàng và đọc bài phát biểu đã chuẩn bị của mình với đôi chút vụng về:

“Tên Saolê có nghĩa là ‘người vĩ đại.’ Tên Phaolô có nghĩa là ‘người nhỏ bé’. Trong khi làm bộ phim này, tôi đã học được rằng chỉ cần thay đổi một chữ nhỏ tí xíu thôi, chúng ta cũng có thể trở nên vĩ đại trong mắt Chúa. Nhưng nó đòi hỏi chúng ta phải trở nên bé nhỏ nếu chúng ta muốn trở nên vĩ đại. Đây là cách sống của các thánh. Đây là con đường nên thánh và đây là cách Saolô trở thành Thánh Phaolô.”

Anh tiếp tục nói về ơn gọi, về cách người ta phải cởi mở để có thể phân định được ơn gọi của mình. Anh nói về việc anh ấy biết mình muốn trở thành một diễn viên như thế nào, về khoảng thời gian căng thẳng với vai diễn Edmond Dantes trong phim Bá tước Monte Cristo, cũng như những hy sinh anh ấy phải chịu trong thời gian đóng vai Chúa Giêsu trong phim ‘Cuộc khổ nạn của Đức Kitô’. Caviezel nói:

“Khi tôi ở trên thập giá, tôi mới biết rằng trong sự đau khổ của Ngài có ơn cứu độ cho chúng ta. Hãy nhớ rằng đầy tớ không lớn hơn chủ. Mỗi chúng ta phải vác thập giá của chính mình. Có một cái giá cho đức tin của chúng ta, cho sự tự do của chúng ta. Tôi đã thực sự bị đánh đập, bị đòn roi, bị đóng đinh, bị sét đánh, vâng, phải chịu phẫu thuật tim - đó là những gì xảy ra sau 5 tháng rưỡi khi bị hạ thân nhiệt."

Anh kể lại một khoảnh khắc trong quá trình quay phim Cuộc Khổ Nạn, khi anh bị cây thánh giá đè lên và khi bị người khác kéo sai cách, vai anh đã bị trật khớp. Anh cho biết cảnh quay này vẫn còn nằm trong phiên bản biên tập cuối cùng của bộ phim và nó được nhận định rằng nếu quá trình sản xuất diễn ra trong studio, chúng ta có thể không bao giờ được xem một màn trình diễn chân thực đến như vậy. "Sự đau khổ đã làm nên vai diễn của tôi, giống hệt như nó đã dệt nên cuộc đời của chúng ta."

“Có rất nhiều đau đớn và đau khổ trước khi phục sinh và con đường của bạn đi sẽ không khác gì. Vì vậy, hãy ôm lấy cây thánh giá của bạn và hướng tới mục tiêu của bạn. Tôi muốn bạn bước ra thế giới ngoại đạo này và tuyên xưng đức tin của bạn trước mọi người cách mạnh mẽ. Thế giới cần những chiến binh kiêu hãnh, sinh động bằng đức tin của mình. Những chiến binh như Thánh Phaolô và Thánh Luca, những người dám liều hy sinh cả tên tuổi và thanh danh của mình để đưa đức tin và tình yêu dành cho Chúa Giêsu vào trong lòng thế giới."

Caviezel đã nói về dân chủ và cho thấy sự ‘tự do làm những gì bạn muốn’ không giống với ‘tự do làm những gì bạn nên làm’. Anh trích dẫn câu nói nổi tiếng của thánh Maximilianô Kolbe, “Sự thờ ơ là tội lớn nhất của thế kỷ 20,” và anh nói thêm, “Vâng, thưa anh chị em, đó cũng là tội lớn nhất của thế kỷ 21”.

Anh nối kết toàn bộ bài nói chuyện của mình bằng cách trích dẫn lời hiệu triệu trước trận chiến trong phim ‘Braveheart – Trái tim can đảm’ trong đó nam diễn viên chính William Wallace đã khơi dậy tinh thần cho cả đội quân của mình bằng cách nói về tự do và những gì người ta phải sẵn sàng làm để có tự do. Khi ngừng trích dẫn, Jim bỏ qua những gì đã soạn sẵn để nói với tất cả niềm xác tín:

“Mọi người đều phải chết. Nhưng không phải mọi người đều đang thực sự sống. Từng người một, tất cả chúng ta đều phải đấu tranh cho sự tự do đích thực và phải sống thực, các bạn của tôi ơi! Vì Chúa, chúng ta phải sống! Với Chúa Thánh Thần là khiên đỡ và Chúa Kitô là thanh gươm của bạn, ước mong bạn tham gia cùng với Thánh Micae và tất cả các thiên thần để tống khứ tướng quỷ Luxiphe và tất cả tay sai của hắn về lại địa ngục nơi dành cho chúng!”

Thật thú vị khi nhìn xem Caviezel thay đổi cách nói chuyện, từ việc đọc diễn văn đã soạn sẵn, rồi sau đó bỗng diễn tả tự phát. Rồi như để minh họa cách trực quan sự khác biệt giữa “người vĩ đại” và “người nhỏ bé”, sau khi kết thúc khoảnh khắc đầy cuốn hút, anh ta nghiêng người trở lại bục và nở một nụ cười bẽn lẽn vì đã làm đảo lộn phần diễn văn cuối cùng đã soạn sẵn của mình.

Chỉ đọc lại những câu chữ của bài phát biểu này mà thôi thì không hay lắm; tốt nhất nên xem lại toàn bộ video của bài phát biểu ấy. Nó có thể khiến bạn xem đi xem lại bộ phim 'Paul, Apostle of Christ' (Thánh Phaolô, vị Tông đồ của Chúa Kitô) - hoặc thậm chí nó sẽ thôi thúc bạn có được sự dấn thân thiêng liêng của đội quân Wallace trong một trận chiến có muôn ngàn khó khăn ập xuống trên họ.

Video của bài phát biểu của Jim Caviezel:


Trailer phim 'Paul, Apostle of Christ':


J-P Mauro (Aleteia) / Trần Hùng chuyển ngữ / Nguồn: WGPSG

Thứ Tư, 23 tháng 9, 2020

Đường lối của thiên nhiên

 Hãy khôn như rắn và ngoan như chim câu” (Mt 10,16).

Hãy xem sự nơi chim câu, nơi bông hoa, nơi cây cỏ và nơi thiên nhiên.

Cũng sự khôn ngoan ấy đang làm nên mọi sự nơi chúng ta, những điều mà trí óc chúng ta không bao giờ làm được: từ lưu thông máu, tiêu hoá thức ăn, bơm máu vào tim, mở rộng lá phổi cho đến việc làm cho thân thể chúng ta kháng nhiễm và tự chữa lành các vết thương, trong lúc đầu óc chúng ta tham gia vào các việc khác.

Thứ khôn ngoan tự nhiên này, đến bây giờ chúng ta mới để ý thấy nơi những dân tộc được cho là bán khai, những con người hết sức đơn sơ nhưng cũng rất khôn ngoan như chim câu.

Chúng ta tự cho mình là người tiến bộ vì đã làm ra một hình thức khôn ngoan khác, là sự khôn ngoan của đầu óc tinh xảo, và chúng ta tự cho rằng mình có thể cải thiện thiên nhiên, làm cho mình được an toàn, được che chở và được trường thọ, được sống có tốc độ và được tiện nghi sung sướng, những điều mà các dân tộc bán khai không hề biết. Có được tất cả những điều ấy đều nhờ đầu óc của chúng ta được mở mang trọn vẹn. Cái khó là làm sao lấy lại được sự đơn sơ và khôn ngoan của chim câu, mà vẫn không đánh mất sự tinh xảo của bộ óc quỉ quái như con rắn.

Làm sao được như vậy? Nếu cho rằng chống lại thiên nhiên được ngày nào là cải thiện được thiên nhiên ngày ấy, là bạn đã tự huỷ hoại chính mình vì thiên nhiên chính là con người sâu xa của bạn.

Làm như thế chẳng khác nào lấy tay phải đánh tay trái, lấy chân phải dẵm lên chân trái. Cả hai đều thua. Thay vì sống có sáng tạo và sinh động, bạn đã tự nhốt mình vào cuộc sống dai dẳng ấy. Đây là tình trạng của rất nhiều người trên thế giới. Hãy nhìn xem: họ chết cứng, thiếu sáng tạo, bị bế tắc chỉ vì họ tự nhốt mình trong cuộc chiến chống thiên nhiên, tìm hết cách hoàn thiện mình bằng cách đi ngược lại những gì thiên nhiên đòi hỏi.

Trong cuộc chiến giữa thiên nhiên và bộ óc con người, bạn nên đứng về phía thiên nhiên. Nếu bạn đánh vào  thiên nhiên, thiên nhiên sẽ huỷ hoại con người bạn.

Thế nên, bí quyết là tìm cách cải thiện thiên nhiên cho hợp với thiên nhiên. Làm sao có thể tạo được sự hoà hợp này?

1. Trước hết, hãy thử nghĩ tới một sự thay đổi nào đó bạn muốn thấy trong cuộc sống hay trong con người bạn. Bạn có tìm cách ép bản tính tự nhiên của bạn thay đổi như ra sức nỗ lực và khao khát trở thành một điều gì đó mà đầu óc của bạn đã hoạch định? Làm như thế là lấy rắn đánh chim câu.

Hay bạn chấp nhận tìm hiểu, quan sát, thấu hiểu, ý thức tình trạng và vấn đề hiện tại của mình, không thúc đẩy, không cưỡng ép cho có những gì mình ao ước, để thực tại tạo ra những đổi thay theo kế hoạch của thiên nhiên, chứ không theo kế hoạch của bạn? Làm như thế là hoà hợp rắn với chim câu.

Thử xem một số vấn đề của bạn, một số thay đổi mà mình mong muốn, và thử quan sát xem bạn xử lý việc ấy thế nào.Hãy xem bạn đang tìm cách tạo ra thay đổi cả nơi mình lẫn nơi người khác, bằng cách xử dụng biện pháp thưởng phạt, kỉ luật và kiểm soát, lên lớp và buộc tội, kích thích tự ái và tham vọng, thay vì đón nhận và kiên nhẫn, vất vả tìm cách thấu hiểu và tỉnh táo ý thức.

2. Thứ hai, hãy nhớ tới thân thể của mình, so sánh với cơ thể của một con vật đang sống trong môi trường tự nhiên. Bạn sẽ thấy con vật ấy không bao giờ tăng cân quá đáng, cũng chẳng bao giờ căng thẳng quá đáng trừ khi chuẩn bị ra trận hay chuẩn bị cao chạy xa bay.

Con vật ấy sẽ không bao giờ ăn hay uống bất cứ thứ gì không tốt cho những việc ấy. Nó nghỉ ngơi và tập luyện đúng như nó cần. Nó giãi dầu mưa nắng, nóng lạnh đúng mức.

Nó làm như thế hoàn toàn theo cơ thể của mình và để cho sự khôn ngoan tự nhiên ấy hướng dẫn mình. Bây giờ hãy thử so sánh với sự ma mãnh dại dột của chính bạn. Nếu thân thể bạn có thể lên  tiếng, nó sẽ nói gì với bạn đây?

Hãy xem lại sự tham lam, tham vọng, háo danh, muốn ra vẻ ta đây và chiều lòng người khác, tìm cách bỏ qua tiếng nói của thân thể mình, mải mê chạy theo những mục tiêu do mình đặt ra. Bạn sẽ thấy mình không còn sự đơn sơ của chim câu nữa.

3. Thứ ba, hãy tự hỏi xem mình tiếp xúc với thiên nhiên nhiều tới mức nào, tiếp xúc với cây cỏ, trời đất, gió mưa, hoa lá, muông chim…Bạn phơi mình cho thiên nhiên được bao nhiêu? Bạn thân mật với   thiên nhiên, quan sát thiên nhiên, chiêm ngưỡng thiên nhiên, đồng hoá với thiên nhiên tới mức nào?

Khi thân thể bạn xa cách thiên nhiên quá lâu, nó sẽ trở nên nhợt nhạt, suy nhược và mảnh mai vì đã  bị cô lập khỏi nguồn sống.

Khi bạn cách li với thiên nhiên quá lâu, tinh thần bạn sẽ cằn cỗi và suy kiệt vì đã bị bứng ra khỏi gốc rễ của nó.


Tác giả: Anthony de Mello, S.J.
Dịch giả: Lm. Phêrô Đặng Xuân Thành
Trích sách:Tiếng gọi yêu thương

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2020

Ta tìm một sự hoàn hảo, nhưng kiếm đâu ra?

 Hoàn hảo là điều chúng ta luôn mong ước. Về bản thân, ta muốn mình vừa xinh đẹp, giỏi giang, có tài vặt, thu hút người khác, thành công về mọi mặt. Ta cũng muốn gia đình mình thật hạnh phúc, vợ chồng thuận hoà, ăn nên làm ra, con cái hiếu thảo, ngoan ngoãn, biết vâng lời, yêu thương nhau. Ta mong xã hội mà mình đang sống được thái bình, có công bằng và bác ái; mọi người biết đối xử với nhau bằng sự chân thành, không gian dối, lọc lừa, không tệ nạn… Ta tha hồ vẽ lên trong đầu mình một viễn cảnh thiên đường của cõi bồng lai, nơi tràn ngập bình an và hạnh phúc, không hề có một chút khiếm khuyết nào.

Nhưng có lẽ đó chỉ là và vẫn mãi là một điều ước, một niềm hy vọng của ta mà thôi. Chung quanh ta là đầy dẫy những bóng đen của cuộc sống. Cuộc sống không phải là một cuốn tiểu thuyết của riêng ta, nơi ta có thể làm chủ mọi góc cạnh của màn kịch. Sự bất hảo đã trở thành một phần của kiếp người. Ở đời, chẳng có gì là hoàn toàn miễn phí; chẳng có thành tựu nào tự kết trái đơm bông. Tất cả đều có cái giá của nó. Được cái này, mất cái kia. Muốn thành công thì phải đổ mồ hôi nước mắt. Muốn cái trái ăn thì phải chịu khó lao nhọc. Tệ hại hơn, cuộc sống nhiều khi phũ phàng đến độ nỡ cướp mất khỏi ta cả những gì là chính đáng hay chút nhỏ nhoi hạnh phúc mà ta gắng gượng mãi mới có được. Nhưng biết sao được, cuộc sống là thế!

Kiếm đâu ra một sự hoàn hảo tuyệt đối ở đời này? Mọi sự vật đều có những thiếu thốn của nó. Con cá có thể tung tăng dưới nước nhưng không thể bay trên bầu trời. Ngược lại, đàn chim có thể soãi cánh muôn phương trên các tầng mây nhưng lại không thể vẫy vùng dưới vực sâu con nước. Loài người chúng ta tuy có trí tuệ cao nhưng tự mình lại không có những khả năng về khứu giác hay thị giác, xúc giác như một số loài. Tạo Hoá không ban cho ai một sự hoàn hảo về phương diện thể lý hay khả năng, nhưng lại bù đắp cho cái thiếu thốn của thụ tạo bằng một cái gì đó rất đặc biệt và rất riêng.

Tìm kiếm một sự hoàn hảo là điều tốt, nhưng đôi khi ta lại biến thành kẻ cầu toàn và có tham vọng quá cao. Ta muốn một người chồng vừa làm ăn giỏi giang, lại vừa biết lãng mạn, quan tâm chăm sóc mình. Nhưng nếu anh ta đã dành hết sức lực cho công việc thì còn đâu thời gian để suốt ngày quan tâm đến những cánh hoa hay ly cafe chiều mưa như lúc hẹn hò? Ta muốn người vợ của mình phải vừa thạo việc nhà, nuôi dạy con cái thật tốt nhưng vẫn phải giữ được vóc dáng thanh xuân. Nhưng suốt ngày đầu tắt mặt tối với cả nghìn công việc không tên, thử hỏi, cái vóc dáng xinh xắn ngày trước sao có thể không phai tàn? Đã đành, người chồng người vợ nào cũng phải nỗ lực hết sức để chu toàn bổn phận nhưng họ cần lắm sự cảm thông và nâng đỡ từ người kia, bởi sự hoàn hảo trong đời sống vợ chồng không đến từ sự hoàn hảo của mỗi người, nhưng đến từ sự bổ khuyết, hỗ trợ cho nhau. Chẳng phải vì thế mà người nam mới cần người nữ và người nữ mới cần đến người nam đó sao?

Ước muốn được trở nên hoàn hảo cũng dẫn người ta đến chỗ tham vọng và hay so sánh mình với người khác. Nhưng tham vọng của con người lại là thứ vô đáy. Có cái này lại muốn có cái kia. Con người tự cố gắng bắt thang để leo lên thật cao, để rồi phát hiện ra rằng đó chỉ là những hoài công không kết quả. Thật ra, con người cố gắng tích góp thật nhiều cũng chỉ vì mong muốn mình và người thân được hạnh phúc. Nhưng hạnh phúc đâu nhất thiết phải là lắm của nhiều tiền, có quyền có chức. Vẫn có rất nhiều người cảm thấy bất hạnh trên đống vàng của mình đấy thôi. Nỗi cô đơn và chán chường ập đến với tất cả mọi người, kể cả người nhốt mình trong căn nhà sang trọng lộng lẫy. Đâu cần gì phải xinh đẹp quyến rũ mới hạnh phúc. Nhiều minh tinh màn bạc, nổi tiếng là thế, vẫn tự tìm đến cái chết để trốn tránh cái khổ của thế gian đấy thôi. Vậy rốt cuộc, làm sao để thấy mình được tròn đầy, được viên mãn?

Thật ra, giữa dòng đời này, không có gì là hoàn hảo cả, chỉ là người ta có thấy mình đầy đủ hay không thôi. Hài lòng với điều mình đang thụ hưởng thì sẽ chẳng đòi hỏi hay ham muốn điều gì nữa. Bình an đích thực hệ tại ở điều này. Đừng cố gắng chiếm đoạt hay khao khát nắm giữ điều gì không thuộc về mình, cũng đừng lỡ mất những gì mình đang nắm giữ. Nếu không phải của mình thì có cố níu kéo cũng sẽ mất. Còn nếu không biết trân trọng cái mình đang có thì chính nó cũng sẽ vỗ cánh bay đi. Chúng ta cần phải biết cân bằng và dung hoà một căng thẳng đang tồn tại trong mình: một mặt là nỗ lực vươn lên không ngừng để hoàn thiện mình, mặt khác phải luôn giữ mình bình an với những gì đang lãnh nhận.

Sự hoàn hảo ư? Nó hệ tại lòng mình. Một bát cơm trắng có thể đã là quá đủ với một người; một núi sơn hào hải vị lại có khi chẳng đủ với một người khác. Ta là ta, ta là độc nhất giữa cuộc đời, chẳng cần gì phải so sánh với người khác. Bản thân ta là một sự hoàn hảo trong công trình tạo dựng của Tạo Hoá. Hài lòng với chính mình chính là bí quyết của hạnh phúc vì nó đưa ta vào đồng điệu với Tạo Hoá, Đấng luôn hài lòng về chính ta.

 

Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Nguồn: https://dongten.net/2020/09/10/ta-tim-mot-su-hoan-hao-nhung-kiem-dau-ra/

Thứ Tư, 16 tháng 9, 2020

“Ở dữ” vẫn gặp lành?


Từ bao đời nay, ông cha ta vẫn thường quan niệm rằng, ở hiền thì gặp lành. Điều ấy cũng ít nhiều có trong kho tàng kinh nghiệm sống của mỗi người chúng ta. Thuận đời thì vẫn là thế, nhưng ở đời cũng không ít chuyện nghịch lý, chéo queo. Trong cuộc sống đây đó, ta vẫn thấy không ít những người ở chẳng hiền, ở dữ mà vẫn gặp lành theo một nghĩa nào đó.

Ở đời người hiền nhiều mà kẻ dữ cũng không ít. Dường như ở xã hội nào, ở bất kể nơi đâu, bên cạnh những người ở hiền vẫn thấp thoáng bóng dáng những kẻ ở dữ. Đâu đó trong nhà này, xóm kia, từ trẻ đến già, từ nhà ra ngõ, ta đều bắt gặp những con người như thế. Những người trẻ được mệnh danh là “đồ con bất hiếu”, “nghịch tử”, “bọn đầu trộm đuôi cướp”,… vẫn sống ngay bên ta. Nơi chúng, ta thấy có đứa chơi game thâu đêm suốt sáng đến hại người hại cả mẹ cha, có đứa suốt ngày trộm cắp đến “bôi tro trát trấu” vào mặt cha mẹ, có đứa chơi bời đủ thứ mà chẳng ai dám chứa, có đứa hút nay chích mai khiến gia đình lâm cảnh tang thương, “kẻ đầu bac tiễn người đầu xanh”… Trẻ thế già cũng vậy: có người vào tù ra tội lôi cả gia đình vào cuộc, có người suốt ngày rượu chè rồi đánh đập vợ con trong cơn lè nhè, có kẻ dính vào cờ bạc đến khi lạc đường về, có kẻ bám chuyện gái trai mà quên vợ chồng mặc con cái… Họ đúng là những người ở dữ.

Nếu như người ăn ở hiền lành mang lại hạnh phúc cho những người xung quanh bao nhiêu thì những kẻ ở dữ ấy lại mang đến đủ nỗi bất hạnh cùng đủ thứ tai họa cho người kề cận bấy nhiêu. Chỉ đếm trên đầu ngón tay thôi, ta cũng đủ rùng mình run sợ trước những thảm cảnh như thế. Biết bao giọt nước mắt vô cớ đã rơi vì con cái, biết bao đồng lương vất vả đêm ngày bị quăng xuống sông xuống biển. Cha mẹ phải cúi đầu hổ thẹn với gia tiên, hay chẳng dám ngẩng mặt ngửa mày khi gặp bà con lối xóm. Con cái cũng phải chịu đựng một tuổi thơ đầy bất hạnh, một tương lai chẳng mấy ánh sáng. Bao bà vợ sợ hãi khi về nhà, run mình lúc đêm hôm vì phải ôm một món nợ quá lớn bởi phải chịu những trận đòn quá nặng của người đã từng kết tóc se duyên trọn kiếp. Không ít ông chồng phải sống cảnh “gà trống nuôi con” vì sự ra đi không hẹn ngày về của người đã từng nguyện trăm năm… Bao bất hạnh bấy nhiều tủi hờn. Lối ăn nết ở ấy đã khiến cho đau khổ chất chồng khổ đau trên những người dưới một mái nhà.

Dù họ có ăn ở dữ như thế nào, thì dường như họ vẫn gặp lành. Ta tìm thấy ngay trong gia đình của họ, nơi chính những người đang chịu đau khổ vì họ. Những con người ấy vẫn can trường cam chịu và chờ đợi những tia hi vọng nhỏ nhoi. Có những ông bố bà mẹ vẫn mòn mỏi chờ đợi đứa con của mình quay trở về với một tấm lòng bao dung của người cha nhân hậu. Vẫn có những người con sống trọn lòng thảo hiếu cho dù cha có xấu thế nào dù mẹ có không tốt tới đâu. Có những người vợ vẫn gồng gánh gia đình thay cho người chồng tệ bạc. Vẫn có những ông chồng âm thầm chăm sóc con cái lo toan việc nhà thay cho bà vợ xấu xa… Những con người ấy vẫn ngày đêm ngậm đắng nuốt cay để tiếp tục bước đi vì chữ tình chữ nghĩa. Có lẽ một mối dây thiêng liêng nào đó vẫn níu chân họ lại bên những con người ăn ở chẳng hiền như thế: tình thương với những giọt máu của mình, lòng thảo hiếu của kẻ làm con, và tình chồng nghĩa vợ lâu nay…Chính vì những mối dây bền vững ấy, những người ở dữ lại vẫn gặp lành.

Nhìn vào cái “may mắn” gặp lành của những người ở dữ kia, ta thấy hình ảnh của những chứng nhân giữa đời thường. Họ đã hi sinh rất rất nhiều, thậm chí là cả một đời, để làm chứng cho tình thương yêu của con người. Đó cũng là thứ tình cảm tồn tại vững bền và lớn lao trong tương quan giữa Thiên Chúa và con người bao đời nay. Chiêm ngắm họ, ta vẫn thấy vụt lên những tia hy vọng nhỏ nhoi cho những kẻ ở dữ. Chính sự chịu đựng can trường, sự đón nhận lớn lao, và tình thương mãnh liệt đó đã mở ra cho ta niềm hy vọng về sự biến đổi của những người kia. Chính lối sống ấy của họ là hồi chuông cảnh tỉnh những con người đang lạc bước trong bóng đêm vô định của cuộc đời. Hơn nữa, đó là minh chứng cho tình thương và ơn tha thứ của Thiên Chúa dành cho ta, đặc biệt với những người ở dữ. Dường như trong chuyện này, qua hình ảnh của những con người kia, Thiên Chúa cũng muốn ta nhìn lại cách ăn nết ở của mình. Từ đó, nhờ ơn Chúa, ta có thể biến đổi mình hơn mỗi ngày:

Trăm năm trong cõi người ta
Phận hiền số dữ lỡ sa chân vào
Can trường nín lặng nôn nao
Chữ thương bền mãi nỡ nào bỏ ngơ.

Lyeur Nguyễn

Thứ Hai, 14 tháng 9, 2020

Mười con không nuôi nổi một mẹ

 Câu nói ấy thấu tình đạt lý, giàu kinh nghiệm sâu xa của người xưa. Có nhiều phiên bản khác nhau, xin nói tới phiên bản: Một mẹ nuôi được mười con, nhưng mười con không nuôi nổi một mẹ. Tưởng chừng như rất dễ hiểu, nhưng kỳ thực còn bao điều quý giá chất chứa trong những lời ngắn gọn ấy.

Một mẹ nuôi được mười con. Chẳng cần nói chi nhiều, chỉ cần nghĩ tới tình mẹ, nghĩ về sự hy sinh cả đời vì các con, cũng đủ để những người con cảm được giọt mồ hôi nhọc nhằn của mẹ, thấm sâu trong từng hạt cơm, từng nồi canh ngon. Nói ngắn gọn, đó là chữ Tình. Mẹ nuôi các con với tất cả chữ tình, với tất khả năng và điều kiện, với tất cả sức lực mà mẹ có.

Ngược lại, mười con không nuôi nổi một mẹ. Bởi vì, mẹ thì coi con như kho tàng quý giá nhất đời mình, còn các con lại coi mẹ già như “gánh nặng” phải mang. Đó là vì các con tranh dành nhau, ghen tỵ nhau. Nói ngắn gọn, các con đã quên đi Tình Mẹ mình nhận được, các con quên đi chữ Tình, và quên cái Tình mà mình cần dành cho mẹ và dành cho nhau.

Trong lúc đại dịch Cô Vy vẫn còn dai dẳng, có lẽ là thời gian thích hợp để làm đậm thêm chữ Tình, cho dù hoàn cảnh ngày càng thêm khó khăn, không chỉ sức khỏe, nhất là về công ăn việc làm.

Chữ Tình ấy, không chỉ vô cùng quan trọng trong gia đình, mà còn có tầm quan trọng hơn nữa, khi xét cấp độ thế giới. Nếu bạn từng đọc cuốn sách: 21 bài học cho thế kỷ 21, thì bạn sẽ gặp được những nhận xét khá “chua cay” của tác giả, tôi xin tạm diễn ý như sau:

Khi người ta nói đến các vùng đất trên thế giới, có lẽ phần lớn nghĩ về Tây Âu và Bắc Mỹ như các vùng đất hứa, vì thực thế con số cho thấy điều ấy. Số người đổ về, để đi học, đi làm, nhập cư vào đây, ngày càng nhiều, còn số người nhập ngược lại các vùng khác trên thế giới, kể là ít. Ví dụ, có thể tham khảo số người xin nhập cư vào Mỹ và Đức, vượt xa số người xin nhập cư vào Nga, hoặc cũng vượt xa số người xin nhập cư vào khối Ả Rập hoặc Trung Quốc… Bây giờ, xin quay trở lại một trong những chủ đề nóng nhất của châu Âu: đó là vấn đề người di dân tị nạn. Họ phải chạy tới châu Âu vì lý do chiến tranh, hoặc do nghèo khổ… Tóm lại, số người nhìn về châu Âu như miền đất hứa và là chỗ “duy nhất” để cập bến, khoảng chừng 1 đến 2 triệu. Trong khi đó, châu Âu với “hãnh tiếng” là cởi mở, tự do, bao dung và giàu có, với 500 hoặc 700 triệu người. Câu hỏi đặt ra: 500 triệu người giàu có và quảng đại, lại không muốn và không thể đón nhận 1 triệu người nghèo khổ hay sao? Thế thì còn hy vọng gì nhiều về các giá trị nhân sinh mà con người thường “nói to” trên diễn đàn thế giới?

Đương nhiên, bạn sẽ hỏi lại rằng, trong mỗi quốc gia, đều còn có bao nhiêu người vất vả, nghèo khó, chứ có phải ai cũng có điều kiện… Cho nên mỗi nước họ phải tự lo cho họ trước… Lý do thì nhiều, nhiều lắm. Ví dụ, trở về nước Việt mình, người nghèo thì vẫn thiếu từng đồng, công nhân viên mà được tăng lương thì tính vài chục nghìn mỗi lần, còn các vụ tham nhũng thì cứ tính nghìn tỷ này nghìn tỷ khác, thử hỏi sao mà hiểu được!

Xin trở lại chữ Tình, xin trở lại sự dối gian của lòng người. Nếu bạn làm được gì đó tốt cho gia đình, cho xã hội, dù là nhỏ nhất, thì hãy cố gắng làm, để chữ Tình lớn thêm. Tránh để các “khẩu hiệu to tướng và nói khoác” của cả ta lẫn tây đánh lừa. Ước được sống thực tế và thực Tình!


Tứ Quyết SJ

Nguồn: https://dongten.net/2020/09/14/muoi-con-khong-nuoi-noi-mot-me/

Thứ Bảy, 5 tháng 9, 2020

Cám dỗ cuối cùng

Lm. Ron Rolheiser, OMI

Cám dỗ cuối cùng là cám dỗ phản bội lớn nhất: Làm điều đúng nhưng với lý do sai.

Nhà thơ người Mỹ Thomas Stearns Eliot (1888-1965) đã viết câu trên để nói lên khó khăn biết bao khi loại bỏ các lý do xấu trong hành động tốt của chúng ta, bỏ tính ích kỷ để cuối cùng đừng làm các việc chính nghĩa chỉ vì mình.


Thomas Becket, Tổng giám mục Canterbury, bị sát hại vào năm 1170

Nhân vật chính trong vở Giết người ở Nhà thờ chính tòa (Murder in the Cathedral) của T. S. Eliot là Thomas Becket, Tổng giám mục giáo phận Canterbury, người đã tử vì đạo vì đức tin của mình. Từ mọi hình thức bên ngoài, Becket là vị thánh, vị tha, hành động do đức tin và tình yêu thúc đẩy. Nhưng như Eliot trêu chọc trong tác phẩm Giết người ở nhà thờ chính tòa, chuyện bên ngoài không nói lên chuyện bên trong sâu sắc hơn, không cho thấy hậu quả tận căn hơn. Không phải vì Thomas Becket không phải là vị thánh hoặc không trung thực trong động lực làm điều tốt; nhưng đúng hơn đây là “cám dỗ cuối cùng” ông cần vượt lên để trở thành một vị thánh hoàn hảo. Bên dưới bề mặt, luôn có một trận đấu tranh đạo đức sâu đậm hơn, tinh tế và vô hình hơn, một “cám dỗ cuối cùng” cần vượt lên. Cám dỗ cuối cùng đó là cám dỗ gì?

Đó là cám dỗ được ngụy trang như một ơn và cám dỗ chúng ta theo cách: không vụ lợi, trung thành, làm điều tốt, không làm nguy hại cho sự thật, quan tâm đến người khác, đưa sự cô tịch thinh lặng của mình lên một mức độ cao, vượt lên trên sự tầm thường của đám đông, là người có đạo đức xuất chúng, chấp nhận tử đạo nếu được yêu cầu. Nhưng tại sao? Vì lý do gì?

Có nhiều lý do để giải thích vì sao chúng ta muốn trở thành người tốt, nhưng động cơ ngụy trang như một ơn thực sự là một cám dỗ tiêu cực chính là điều này: hãy tốt vì được kính trọng, được ngưỡng mộ, bạn sẽ có danh tiếng mãi mãi vì điều này sẽ mang đến cho bạn. Đây là cám dỗ mà người tốt phải đối diện. Muốn có danh thơm không phải là một chuyện xấu, nhưng xét cho cùng ước muốn đó vẫn là vì chúng ta.

Trong những lúc suy nghĩ sâu xa, tôi bị ám ảnh về chuyện này và nó làm cho tôi nghi ngờ về mình. Những gì tôi làm thực sự tôi làm cho Chúa Giêsu, cho người khác, cho thế giới hay tôi làm cho danh thơm của tôi, và tôi hài lòng về việc này như thế nào? Tôi làm cho người khác để họ có thể có cuộc sống trọn vẹn hơn, ít sợ hãi hơn hay tôi làm vì được tôn trọng? Khi tôi đi dạy, có phải động lực chính là làm cho người khác yêu Chúa hay để tôi được ngưỡng mộ vì tư tưởng của tôi? Khi tôi viết sách báo, tôi thực sự cố gắng truyền khôn ngoan hay tôi muốn cho thấy tôi khôn ngoan đến như thế nào? Đó là cho Chúa hay cho tôi?

Có lẽ chúng ta không bao giờ thực sự có thể có câu trả lời vì động lực của chúng ta luôn lẫn lộn và không thể phân loại chính xác. Tuy nhiên, chúng ta còn nợ người khác và chính mình về điều này, xem xét kỹ lưỡng về cầu nguyện, về lương tâm trong việc hướng dẫn thiêng liêng, khi thảo luận với người khác. Làm thế nào để chúng ta vượt qua “cám dỗ cuối cùng” đó, để làm những điều đúng đắn và không làm chỉ vì chúng ta?

Cuộc đấu tranh để vượt lên tính ích kỷ và động lực bản thân bằng tấm lòng vị tha trong sáng, trung thực có thể là một trận chiến không thể phân thắng bại. Theo truyền thống, chúng ta có bảy mối tội đầu (kiêu ngạo, hà tiện, dâm dục, giận dữ, tham ăn, tham lam, lười biếng) gắn liền với bản chất của chúng ta và với chúng, chúng ta sẽ phải đấu tranh suốt đời. Vấn đề là chúng ta tưởng mình đã vượt lên được, thì chúng ta lại ngụy trang dưới hình thức tế nhị hơn trong cuộc sống của mình. Chẳng hạn, Chúa Giêsu khuyên không nên tự cao tìm chỗ cao nhất trong bàn ăn, sau đó phải xấu hổ khi bị mời xuống chỗ thấp hơn, nhưng khiêm nhường ngồi ở chỗ thấp nhất để sau đó được mời lên chỗ cao. Rõ ràng, đây là lời khuyên thiết thực, nhưng nó cũng có thể tạo ra một kiểu tự hào để chúng ta có thể thực sự được tự hào. Một khi chúng ta tỏ ra mình khiêm tốn và chúng ta được công chúng công nhận, chúng ta còn cảm thấy tự hào thực sự cao hơn là sự khiêm tốn của mình! Với các mối tội đầu khác cũng vậy. Khi chúng ta thành công để không nhường bước trước các cám dỗ khó khăn hơn, chúng sẽ bắt rễ lại trong các hình thức tinh vi hơn trong lòng chúng ta.

Chúng ta chỉ công khai và vụng về làm các lỗi lầm của mình khi chúng ta chưa trưởng thành, và thường nó không còn khi chúng ta đã trưởng thành. Đơn giản chúng có hình thức tinh tế hơn. Chẳng hạn khi tôi chưa trưởng thành, tôi còn bị cuốn hút trong đời sống riêng và tham vọng của mình, có thể tôi chưa nghĩ nhiều đến việc giúp đỡ người nghèo. Nhưng khi tôi lớn tuổi hơn, chín chắn hơn và được học thần học nhiều hơn, tôi sẽ viết các bài báo công khai thú nhận chúng ta cần phải làm nhiều hơn cho người nghèo. Vậy mà, thách thức người khác và chính mình quan tâm đến người nghèo là một điều tốt… và mặc dù điều này có thể sẽ không giúp được gì nhiều cho người nghèo, nhưng chắc chắn sẽ giúp tôi cảm thấy tốt hơn cho chính tôi.

Làm thế nào để chúng ta có thể vượt lên điều này, vượt lên cám dỗ cuối cùng này, cám dỗ làm điều đúng nhưng với lý do sai?

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2020

Điều giáo dân trông đợi nơi linh mục

Giáo dân Việt Nam rất quý trọng linh mục. Lòng quý trọng này vừa là một lợi điểm lại vừa là một nguy cơ. Là lợi điểm vì giúp cho linh mục cảm thấy mình cần thiết và có ích. Từ chỗ này, linh mục cũng cảm thấy ít bị cô đơn. Là nguy cơ, vì lòng quý trọng ấy có thể làm cớ cho linh mục ỷ y mà tôn mình lên, coi thường thiên hạ, cho mình có quyền ăn trên ngồi trước.

Lòng quí trọng của giáo dân dành cho linh mục nên được coi là một ơn riêng Chúa dành cho hàng ngũ linh mục Việt Nam. Nhờ đó các vị được an vui và phấn khởi trong chức vụ. Vậy, với lòng quý trọng này, giáo dân đợi chờ gì nơi linh mục?

Giáo dân trông chờ linh mục là người của Chúa Giêsu, gần gũi và đầy tinh thần phục vụ.

Chức linh mục được đề cao đến tận tầng mây

Từ xưa và bây giờ cũng thế, giáo dân được nghe nói linh mục là một Đức Kitô khác, nhất là trong các lễ mở tay (mà bây giờ gọi là lễ tạ ơn sau ngày chịu chức). Chức linh mục được đề cao và đưa lên đến tận tầng mây. Do sự đề cao quá đáng quyền chức này mà linh mục cũng dễ bị cám dỗ tôn mình lên, nhất là trong ngày chịu chức, khi người ta đến xin phép lành đầu tay hay ngỏ lời chúc mừng. Thời trước Công đồng Vaticano II, người ta thường đến quì trước tân linh mục để hôn tay và xin phép lành.

Hồi đầu tháng 12-2004, tại lễ truyền chức linh mục ở Đài Bắc cho mười một phó tế, nhiều người cũng đã làm như thế. Đây là một cử chỉ đầy lòng tin và sự khiêm nhường.

Cử chỉ này có thể làm cho tân linh mục xúc động và tăng thêm lòng tạ ơn Thiên Chúa. Có lẽ vì coi linh mục như một Đức Kitô khác nên người ta mới có những cử chỉ như thế. Qua đó linh mục phải hiểu rằng giáo dân muốn linh mục là người của Chúa Giêsu và đồng hóa với Người về lòng nhân ái và tinh thần phục vụ. Trong cuộc đời truyền đạo, Chúa Giêsu luôn gần gũi tiếp xúc với người ta và tìm cách làm ơn cho họ.


ĐỒNG BÀO CHÚNG TA THÍCH SỰ HÀO NHOÁNG VÀ HÌNH THỨC BÊN NGOÀI. NGƯỜI TA THÍCH VUI, THÍCH DỄ, THÍCH ỒN ÀO. VỀ ĐIỂM NÀY, PHẢI GIỮ CHỪNG MỰC. NẾU CHIỀU THEO KHUYNH HƯỚNG NÀY THÌ LINH MỤC CŨNG DỄ TRỞ THÀNH HỜI HỢT NÔNG CẠN.

Giáo dân cũng đợi chờ nơi linh mục đức tính này là dễ gặp, dễ nhờ. Vì đức tính này mà linh mục được định nghĩa rất sâu sắc và thâm thúy là con người “được ăn” hay “bị ăn” (Le prêtre est un homme mangé). Kiểu nói này là của một linh mục người Pháp, cha Chevrier, người lập ra Hội Linh mục Prado.

Nhiều linh mục ngày nay dành nhiều thời giờ cho mình mà ít cho giáo dân. Có linh mục làm lễ sáng xong là rút lui lên lầu, suốt ngày sống với máy vi tính và các thứ máy móc khác, hoặc đi vắng không mấy khi có mặt ở nhà, mọi việc giao cho văn phòng giáo xứ, khiến cho giáo dân nhiều người cần gặp mà không được.

Lại có những cha sở tuy gặp được, nhưng giáo dân rất sợ vì tính lạnh lùng và hay bẳn gắt. Bởi vậy, điều giáo dân đợi chờ nơi linh mục là họa lại hình ảnh Chúa Giêsu trong cách hành xử, nói năng và tiếp xúc.

Giáo dục đức tin trước khi xây cất cơ sở

Nói về việc linh mục thi hành đúng chức năng, Đức Giáo hoàng Ghê-go-ri-ô Cả có một bài giảng rất sâu sắc thấm thía. Đại ý ngài than phiền là có nhiều linh mục, nhưng rất ít linh mục chịu làm việc theo chức năng của mình hay có làm thì lại làm những việc ở bên ngoài chứ không phải việc bên trong. Việc chính yếu của linh mục là rao giảng lời Chúa, cử hành bí tích, giáo dục đức tin và lo phần rỗi cho các tín hữu. Những việc này phải làm trước rồi mới đến những việc khác như xây cất, mở mang cơ sở, hoạt động xã hội, phát triển dân sinh…

Ở Việt Nam, cha sở có một vị trí xã hội tốt, nói thì dân dễ nghe và người ta cũng hay nhờ thế cha sở để làm công kia việc nọ. Vì thế, cha sở cũng dễ bị cám dỗ trở thành một nhân vật ngoài đời để có thế ăn nói với người ta.

Điều này có thể đưa linh mục đi ra khỏi phạm vi chức vụ chính thức của mình. Linh mục không phải là quan. Vậy, phải coi chừng với tính thích làm quan tự nhiên của mình mà luôn nhớ rằng linh mục chính yếu là người phục vụ lời Chúa và Tin Mừng của Người.

Tuy nhiên, nếu linh mục chỉ biết có phòng thánh, nhà thờ và nhà xứ của mình thì cũng không đủ. Mà nếu chỉ lo những công việc ở bên ngoài phạm vi phòng thánh, nhà thờ, nhà xứ thì cũng không được nữa. Vậy phải theo một bậc thang giá trị mà dành ưu tiên cho những việc thuộc bổn phận linh mục. Mà bổn phận đó là làm lễ, giải tội, giảng thuyết, đi kẻ liệt, thăm viếng người nghèo khổ, ốm đau bệnh tật.

Một linh mục, nếu làm đầy đủ bổn phận của mình thì chẳng còn thời giờ rảnh rỗi bao nhiêu. Mà nếu có rảnh rỗi thì cũng nên dành thời giờ để học hành đọc sách vở thêm. Làm linh mục rồi nhưng vẫn còn phải học, ít là học cho biết viết bài giảng và giảng thế nào cho người ta nghe được.

Soạn và viết bài giảng là một trong những hy sinh hãm mình của linh mục bên cạnh việc giải tội và “đi kẻ liệt”. Thường sau khi làm linh mục rồi, ít ai còn thích hay tiếp tục làm việc tinh thần. Vì vậy, điều giáo dân đợi chờ nơi linh mục là lo cho có giờ để làm việc tinh thần mỗi ngày, ít là để soạn bài giảng, không dài quá, không chạy theo thời sự mà chú trọng vào ý nghĩa lời Chúa, không khuyên lơn hời hợt mà mở lối cho những áp dụng thiết thực, cũng không chiều theo thị hiếu của người nghe mà chú tâm vào việc giáo dục đức tin và đem lại cho người ta một cái gì có chất lượng. Muốn vậy phải tiếp tục học và tìm tòi suy nghĩ.

Tác phong đĩnh đạc

Giáo dân muốn linh mục có tác phong đĩnh đạc trong cách ăn mặc, nói năng, cư xử. Ngày nay linh mục thường ăn mặc như người đời. Ăn mặc như người ta có cái lợi là dễ hòa đồng, thoải mái, nhưng có cái bất lợi là có thể làm cho linh mục quên danh tính của mình mà không còn giữ gìn hay ít giữ gìn trong lời ăn tiếng nói, trong cách ăn mặc và cư xử với người ta nữa.

Tất nhiên, “cái áo không làm nên thầy tu”, nhưng thầy tu phải làm cho cái áo của mình có vẻ gì là tu chứ. Vì vậy, tuy ăn mặc như người đời, nhưng linh mục vẫn phải giữ cho mình cái cốt cách là linh mục. Cốt cách đó là phải ăn mặc đơn sơ xứng đáng với con người được học hành, có chữ nghĩa và có văn hóa, không chải chuốt quá đáng mà cũng không lôi thôi xoàng xĩnh trong cách ăn mặc, bừa bãi trong lối nói năng.

Nhiều giáo dân lấy làm ái ngại cho những linh mục áo quần luộm thuộm, đầu tóc bù xù, nói năng bừa bãi. Mới đây có dư luận cho rằng nhiều linh mục trẻ sau năm 1975 thiếu nhân bản trong cách hành xử. Dư luận này đáng cho các linh mục lưu ý vì có liên quan đến ảnh hưởng và uy tín của các vị trong vấn đề làm chứng cho Chúa và cho đạo.

Có những linh mục chỉ chơi với người giàu
Vật chất ở đây là tiền bạc, của cải, đất đai nhà ở, đồ dùng cá nhân. Các linh mục phần đông không để ý đến vấn đề này bao nhiêu, nhưng giáo dân rất để ý. Người ta vẫn thích những linh mục không lo làm giàu hay tìm kiếm cho mình hoặc bà con họ hàng mình của cải vật chất. Họ còn nể trọng những linh mục sống đơn sơ giản dị, không xa hoa trong cách ăn mặc và biết sử dụng bạc tiền một cách đích đáng. Ai mà chẳng muốn có một cái máy vi tính, một chiếc xe gắn máy tốt, một máy ảnh kỹ thuật số hảo hạng, một căn phòng đầy đủ tiện nghi, càng sang càng cho là có giá trước mặt người đời. Khuynh hướng này khá mạnh và hiện ra rõ nét nơi nhiều linh mục thuộc thế hệ mới.
Đó là kiểu cách tự nhiên theo thói đời. Nhưng linh mục là người đã chọn theo Chúa chứ không theo đời. Lý tưởng là thế nhưng thực tế lại không như vậy. Thành ra linh mục luôn ở trong thế giằng co căng thẳng. Có người hỏi tại sao ít người vào đạo Công giáo, trong khi đạo có tổ chức, kỷ luật, nhiều nhà thờ đẹp đẽ, nhiều cơ sở to lớn và các lễ nghi rất tưng bừng lôi cuốn. Chắc có nhiều lý do mà một trong lý do là tại giới linh mục chúng ta xa cách.
Chúng ta xa giáo dân và những người ngoài đạo, lại cách biệt nữa. Sự xa cách đó là do lối giao thiệp và đời sống của chúng ta. Về cách giao thiệp thì có thể vì chúng ta quá bận việc nên không có thời giờ và cơ hội tiếp xúc. Còn về đời sống thì chúng ta xa cách họ, vì dù sao, nói chung, đời sống của chúng ta vẫn cao hơn phần đông đời sống của họ. Vì thế, về phía chúng ta, xem ra chúng ta ít có dịp và ít có thời giờ; về phía họ, họ ngại và sợ gặp chúng ta. Thực ra, khi người ta không ở cùng một mức độ như nhau, thì cũng khó gặp gỡ và chuyện trò với nhau lắm, trừ ra khi hai bên đều cố gắng để xích lại gần nhau.
Về sự gặp gỡ, giáo dân muốn chúng ta để ý đến những người nghèo và ít học. Người ta đã phê bình và còn phê bình những linh mục nào chỉ chơi với người giàu và có học, còn người nghèo hay ít học, có đến gặp linh mục thì thường chỉ được tiếp đãi một cách hết sức qua loa hay lạnh nhạt.


LM ANRÊ ĐỖ XUÂN QUẾ, OP

Thứ Tư, 19 tháng 8, 2020

Đức tin qua thăng trầm thời cuộc

Một nhà văn đã từng nói, anh có thể mang nhà thờ ra khỏi vùng đất tôi sống, nhưng không thể mang tôi ra khỏi ánh sáng của nhà thờ đã có trong trái tim tôi.

Bố tôi vẫn được nằm cạnh mẹ tôi trong nghĩa trang Công giáo

Đất nước bước vào giai đoạn mới, có những chuyện nhiều người biết, nhưng chỉ có thể nói đến vào những thời điểm thích hợp. Câu chuyện tôi kể cho các bạn đã xảy ra ở nhiều gia đình, nhiều người. Do vậy cách tiếp cận giản dị nhất là hãy bắt đầu từ gia đình tôi, từ mẹ tôi. Đó là một người phụ nữ bình dị như biết bao người phụ nữ khác ở miền Bắc. Bà mang tên thánh là Maria.

Cô gái xóm đạo đi thoát ly

Mẹ tôi sinh ra trong gia đình Công giáo ở Hà Nội. Ông ngoại tôi là người Tây học, nói thạo tiếng Pháp và là một trong số những người ít ỏi đầu tiên ở Việt Nam hành nghề nhiếp ảnh. Số phận đưa đẩy ông ngoại tôi phiêu bạt về một tỉnh miền Trung du. Ở đây mẹ gặp cha tôi và từ đó bà bắt đầu một cuộc sống thăng trầm theo gia đình nhà chồng.

Cha tôi là con trưởng. Mẹ tôi về làm dâu, ở cùng cha mẹ chồng. Ông nội tôi là một người biết làm ăn nên có phần khá giả. Cũng như những thanh niên khác thời đó, cha mẹ tôi tham gia công việc nhà nước. Cha tôi đi bộ đội. Mẹ tôi tham gia vào đoàn thể như Hội Phụ nữ xã – huyện, Dân công, Bình dân học vụ.

Ngày ấy, những người đi ra khỏi nhà để làm việc nhà nước, bất kỳ việc gì miễn là không ăn cơm nhà thì được gọi là “thoát ly”. Muốn đi lễ thì cũng không có nơi nào mà đi, bởi những năm 1960, nhiều nơi ở miền Bắc, các đình chùa, miếu mạo, nhà thờ đã đóng cửa. Giáo dân chỉ đọc kinh thầm trong nhà.

Ngay cả trong quân đội cũng có tình trạng như vậy, đã có lần vào nửa đêm thay ca gác tôi mới biết anh bạn cùng chiến hào với mình là giáo dân vì bắt gặp anh ấy đang lẩm nhẩm đọc kinh. Anh ấy đã ngã xuống ngay trước cửa ngõ Sài Gòn vào buổi sáng ngày 30-4- 1975, về với Chúa sau khi hoàn thành ổn phận của một công dân miền Bắc.

Sau năm 1975, đất nước chuyển dần từ thời chiến sang thời bình, cuộc sống dần dần lấy lại được cái gọi là “mùa bình thường” như Văn Cao viết trong bài hát Mùa xuân đầu tiên. Trong cái đà dần hồi phục ấy, tôn giáo cũng bắt đầu hồi sinh cho dù rất chậm chạp. Chùa chiền, nhà thờ, các công trình được phục dựng, sơn sửa, không khí tâm linh ấm dần lên lan tỏa đến từng nhà. Không khí cởi mở với tôn giáo, nhất là với Công giáo được ghi nhận nhiều hơn từ sau những năm 1990.

Ngôi nhà có cả bàn thờ Chúa và Phật

Sau năm 1990, khi đi học ở nước ngoài về tôi bất ngờ thấy ở trong nhà mình có bàn thờ Chúa, điều mà chưa bao giờ tôi nghĩ đến. Hỏi ra mới biết mẹ tôi đã trở lại với niềm tin của mình sau mấy chục năm gián đoạn.

Cha tôi là một người cộng sản nhưng không phản đối việc mẹ tôi trở lại với đức tin của mình. Vì thế không ngạc nhiên, trong nhà tôi ngoài bàn thờ Phật, bàn thờ gia tiên thì còn có bàn thờ Chúa.

Nhà tôi có cả bàn thờ Công giáo và bàn thờ Phật.

Tôi là người ngoại đạo, hay nói đúng hơn là vô thần, là nhà khoa học có nghiên cứu ít nhiều về tôn giáo. Với tôi, tôn giáo trong đó có Công giáo, ban đầu đơn thuần chỉ là đối tượng để nghiên cứu, phân tích. Nhưng dần dần tôi có thiện cảm, mối thiện cảm này bắt nguồn từ chính mẹ tôi và sau là những hàng xóm của tôi ở phường 13, quận Phú Nhuận, Sài Gòn (xem bài Nhà khoa học ngoại đạo sống trong xóm đạo).

Tôi biết chắc chắn đức tin và đạo đức Công giáo ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nhân cách và lối sống của con người trong đạo nhiều lắm. Từ khi sinh ra và lớn lên, suốt hàng chục năm trời tôi chưa thấy mẹ tôi đánh chúng tôi một roi nào. Mẹ tôi cũng chưa một lần nói tục, thậm chí chưa một lần giận dữ theo kiểu “đá thúng, đụng nia” cho dù lũ chúng tôi bảy đứa (bốn trai, ba gái) không phải lúc nào cũng ngoan ngoãn, quan hệ với mọi người thiên hạ đâu phải lúc nào cũng thuận thảo.

Nhà tôi làm nghề ảnh ở phố huyện nên cũng có chút dư dật, được cái mẹ tôi sẵn lòng cho những người khó khăn mượn tiền. Trong số đó có nhiều người mượn rồi xù luôn, thay vì làm ầm ĩ lên thì mẹ tôi lại đến tìm hiểu xem họ làm sao mà rơi vào hoàn cảnh đó để tìm cách trợ giúp.

Mẹ tôi có một niềm tin rất lớn vào lòng tốt của con người. Bà dạy chúng tôi rằng không ai muốn làm người xấu, do hoàn cảnh đưa đẩy mà nên nỗi, khi qua cái đận đó thì họ sẽ tốt trở lại.

Tôi nhớ mãi một chuyện, vào tết năm 1965, làng tôi còn nghèo, mẹ tôi ngược xuôi mãi mới xoay xở được một liễn mỡ lợn để ăn Tết và dự tính còn tằn tiện cho cả năm. Thế mà đêm 29 tết bị mất cắp. Ngày ấy, chuyện như thế là tày đình, công an huyện tìm được người lấy cắp là một người phụ nữ chồng chết, một nách ba con ở cách nhà tôi không xa. Mẹ tôi chạy vạy xin cho người phụ nữ ấy khỏi phải đi tù và biếu luôn liễn mỡ để ăn Tết.

Cách nay chín năm, mẹ chúng tôi đã về với Chúa ở tuổi 83. Khi còn sống mẹ tôi ăn ở với xóm giềng như bát nước đầy, hầu như đám hiếu hỷ, tang ma nào của làng xã mẹ tôi cũng đều có mặt để giúp sức. Có lẽ vì vậy mà khi tiễn mẹ tôi ra đồng có rất đông bà con xóm giềng. Thêm nữa đây là đám tang mà có cả những người đạo Phật và Công giáo đến đọc kinh Phật và tham dự thánh lễ an táng trong nhà thờ.

“Mẹ tôi và nhiều người phụ nữ Công giáo miền Bắc khi xưa là thế”

Sau này có điều kiện đi nghiên cứu, tôi mới thấy chuyện như của mẹ tôi không phải là cá biệt mà khá nhiều ở miền Bắc. Tôi đã dành thời gian suy nghĩ rất nhiều và coi đó là một hiện tượng xã hội diễn ra trong một thời kỳ rất đặc biệt.

Riêng với trường hợp những người như mẹ tôi, chỉ có thể lý giải được là ở họ niềm tin vào sự thiêng liêng rất bền vững, không gì phá vỡ được, đôi khi do hoàn cảnh họ phải tiết chế hành động ra bên ngoài. Nhưng niềm tin thì vẫn nguyên vẹn trong trái tim và khối óc của họ. Niềm tin vào Thiên Chúa là niềm tin của cảm xúc yêu thương, tha thứ. Do vậy nó sẽ đi mãi với những ai khi đã đặt trọn niềm tin vào Đấng Cao Cả.

Mẹ tôi và rất nhiều người phụ nữ Công giáo miền Bắc khi xưa là thế. Họ rất thuần phác và khi họ tin thì giá nào họ cũng trở về.

Khi mẹ tôi trở về với đạo Công giáo, cha tôi có một chút băn khoăn, cha tôi sợ là khi chết mẹ tôi sẽ được an táng trong khu nghĩa trang riêng của cộng đồng Công giáo, nếu như thế hai người sẽ bị chia xa sau gần 70 năm sống bên nhau.
Nhưng rồi cuối cùng thì cha mẹ tôi cũng ở bên cạnh nhau trên một ngọn đồi. Trên bia mộ, bên cạnh họ tên, chúng tôi khắc thêm dòng chữ Maria theo nguyện vọng của mẹ tôi. Vậy là cha mẹ tôi vẫn ở cạnh nhau, bà vẫn hướng về đức tin mà bà hằng theo đuổi.


GS-TS NGUYỄN MINH HOÀ

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020

Người công giáo trong đại dịch covid-19

 Chào thầy! Thầy có thể giới thiệu về bản thân một chút với quý độc giả?

Chào quý độc giả. Tôi là tu sĩ thuộc Dòng Mẹ Chúa Cứu Chuộc (trước đây gọi là dòng Đồng Công).


  1. Thầy thấy dịch bệnh lần hai tại Việt Nam lúc này như thế nào?

Điều này chắc rất nhiều người biết rõ hơn tôi nếu thường xuyên theo dõi các phương tiện truyền thông. Số ca lây nhiễm đang ngày một gia tăng, nhiều người, nhiều khu vực đang phải cách ly, nhiều phương án đang được chính phủ đưa ra để phòng ngừa…. Điều ấy cho thấy tình hình dịch bệnh tại Việt Nam đang diễn biến phức tạp, khó lường.


  1. Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam phòng chống dịch như thế nào?

Tôi thấy ngay từ đợt dịch lần thứ nhất vào đầu năm nay, Giáo Hội Công Giáo tại Việt Nam đã rất có trách nhiệm và tích cực cùng với cộng đồng xã hội phòng chống sự lây lan của nạn dịch. Cùng với những hướng dẫn cụ thể của chính quyền cũng như của ngành y tế, các vị chủ chăn của hầu hết các giáo phận cũng đã có những những chỉ dẫn thích hợp trong sinh hoạt phượng tự của cộng đoàn Dân Chúa. Mục đích là nhằm bảo vệ sức khỏe và mạng sống của mỗi người cũng như của cộng đồng.

Dĩ nhiên, không chỉ dừng lại ở các cách thức tự nhiên, Hội đồng Giám mục và các giáo phận đã triển khai ngay việc cầu nguyện hằng ngày xin cho cơn dịch bệnh mau chấm dứt. Trong khi các thánh lễ cộng đoàn không thể cử hành thì hầu như tất cả các giáo phận đều có chương trình phát trực tuyến các Thánh lễ hàng ngày cho giáo dân tham dự. Nhiều hoạt động từ thiện, bác ái được âm thầm thực hiện để giúp đỡ những hoàn cảnh khó khăn trong đại dịch. Tất cả những điều trên vẫn tiếp tục được thực hiện trong lần hai này.


  1. Hiện nay nhiều nơi phải dâng lễ Online, thầy có trải nghiệm gì mỗi khi dự thánh lễ trực tuyến như thế?

Vì đang sống trong cộng đoàn có đủ linh mục, nên tôi không phải tham dự lễ Online. Tuy nhiên điều khó khăn là phải đeo khẩu trang và giữ khoảng cách khiến cho cảm xúc và tâm tình thật là khó diễn tả. Nói chung vừa có chút buồn, chút không thoải mái, nhưng cũng vừa tha thiết khẩn nài…

Về thánh lễ trực tuyến, theo một số người thân quen của mình chia sẻ thì: dù không được tham dự trực tiếp và không được hiệp lễ thực sự, nhưng trong hoàn cảnh ngặt nghèo, thánh lễ trực tuyến vẫn đem lại cho họ ơn phúc thiêng và sự an ủi của Chúa. Đồng thời việc dự lễ trực tuyến có khi là một trải nghiệm “ăn năn” vì những lần được dự lễ “thật” mà không chăm chú, hay lười biếng không tham dự.

  1. Giáo Hội đồng hành với con cái mình như thế nào trong giời gian khó khăn này?

Câu hỏi này làm mình nhớ đến trăn trở của đức Tổng giám mục Nguyễn Năng như được trong thư mục vụ của ngài: Một đàng chúng ta phải bảo vệ sức khỏe và mạng sống thể xác của bản thân cũng như của cộng đồng, nhưng đàng khác cũng cần cân nhắc để đừng làm phương hại đời sống đức tin.

Mình thấy Giáo Hội, hơn bao giờ hết, vẫn luôn đồng hành với con cái mình. Tuy có thể phải cách ly về thể lý, nhưng về tinh thần, các vị mục tử vẫn tha thiết với giáo dân của mình, và luôn hướng dẫn con cái sống đức tin, làm việc bác ái, thực hành các việc đạo đức. Hẳn nhiên người Công Giáo ước mong sống trong sự quan phòng của Thiên Chúa, sống theo thánh ý nhiệm mầu của Ngài.


  1. Nhiều người vẫn trách Thiên Chúa không giúp con người trong đại dịch! Thầy chia sẻ với những người ấy như thế nào?

Chẳng phải Thiên Chúa bỏ rơi con người hay Ngài bó tay trước cơn đại dịch đâu! Ngài vẫn mãi mãi là chủ tể muôn loài, là Cha yêu thương. Còn tại sao dịch bệnh lại xảy ra thì đó là một mầu nhiệm, mầu nhiệm sự dữ. Đối với chúng ta, cái chết khiến chúng ta khiếp sợ, số lượng người chết hàng loạt càng khiến chúng ta kinh hãi và thương tâm. Nhưng xét cho cùng, chết là điểm hẹn của tất cả mọi người, ai cũng sẽ đến đó. Vấn đề là sớm hay muộn mà thôi.

Chúng ta bất bình trước những thảm họa, nhưng nếu chúng ta nhìn thấy từng đoàn người hớn hở dắt tay nhau tiến về nhà Cha vui hưởng hạnh phúc muôn đời, chắc chúng ta sẽ bớt băn khoăn. Sách Khôn Ngoan dạy chúng ta rằng: “Linh hồn những người công chính ở trong tay Chúa, và đau khổ sự chết không làm gì được các ngài.” (Kn 3,1).

Đối với chúng ta, những người còn đang sống, chúng ta nhận ra rằng thế giới vật chất này là vô thường, bản thân mình chỉ là thụ tạo yếu đuối mỏng manh. Nhờ đó chúng ta biết khiêm tốn hơn, biết từ bỏ những gì là phù du, biết sám hối và định hướng lại cuộc đời để hướng tới sự sống vĩnh cửu, sự sống dồi dào, sự sống đích thực.


  1. Niềm tin công giáo và Thiên Chúa có thể dập tắt được đại dịch?

Tôi tin là thế. Thiên Chúa là Cha toàn năng, là chủ tể muôn loài và là chủ tể của lịch sử. Nhìn lại lịch sử cứu độ, chúng ta thấy biết bao lần Thiên Chúa đã ra tay cứu giúp nhân loại khỏi họa diệt vong. Và Ngài vẫn sẽ tiếp tục cứu giúp chúng ta. “Dù cho bao phen con yếu đuối, thành tâm xin ăn năn thống hối, là Ngài lại thứ tha!!!” Do đó:

Hỡi những kẻ tín trung, hãy đàn ca mừng Chúa,
cảm tạ thánh danh Người.
Người nổi giận, giận trong giây lát,
nhưng yêu thương, thương suốt cả đời.
Lệ có rơi khi màn đêm buông xuống,
hừng đông về đã vọng tiếng hò reo. (Tv 30, 5-6).

Chúng ta hãy tin tưởng phó thác vào quyền năng và lòng thương xót của Ngài. Có lẽ Ngài cho phép dịch bệnh xảy ra để chúng ta có thể khám phá và thấm thía các bài học Ngài muốn dạy bảo chúng ta.


  1. Thầy thấy các tín hữu sống khác sau thời đại dịch?

Có lẽ cần phải làm một cuộc khảo sát để có thể đưa ra nhận định chính xác. Còn theo nhận định chủ quan của tôi thì đời sống đức tin của các tín hữu nói chung vẫn ổn định. Một số người có hoang mang dao động, nhưng họ lấy được thăng bằng khi bình yên trở lại. Nhiều người khác thì nhờ dịch bệnh bám chặt vào Chúa hơn, ý thức hơn về thân phận mỏng manh của mình, biết sống yêu thương, bác ái hơn.


Thầy có muốn nói gì thêm…


Mình nghĩ mỗi chúng ta cần có ý thức chung tay, chung sức trong việc đẩy lùi dịch bệnh. Chúng ta không chỉ áp dụng các biện pháp phòng ngừa do cho bản thân và cho những người chung quanh, mà còn bằng hành động thiết thực. Các nhà chức trách, các y tá bác sĩ, các nhà khoa học đang nỗ lực trong phận sự của mình. Phần những người Kitô hữu, chúng ta tin vào sức mạnh của lời cầu nguyện, vào Thiên Chúa. Đây chính là điều chúng ta phải cống hiến cho quê hương đất nước và cho thế giới.


Thực hiện: Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Nguồn: https://dongten.net/2020/08/17/nguoi-cong-giao-trong-dai-dich-covid-19/