Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm tình bạn trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Tâm tình bạn trẻ. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 23 tháng 10, 2020

Tôi thấy gì trong cơn lũ?

 Anh chị em tôi tại Miền Trung Việt Nam đang chịu ảnh hưởng nặng nề của cơn lũ lịch sử. Tôi đã và đang thấy gì trong cơn lũ ấy?

Tôi thấy những dòng nước trắng xóa đang dần thay chân cho đất liền và các ngôi nhà. Nước lênh láng khắp nơi. Từ miền núi nước đổ dốc dữ dội, như muốn cuốn phăng tất cả những gì trên đường nó đi qua. Nơi đồng bằng nước dâng cao ngút không còn một chỗ đất khô ráo lộ ra.

Tôi thấy sinh mạng đồng bào tôi tại Miền Trung Việt Nam đang bấp bênh. Số người chết và mất tích đang dần tăng lên, kèm theo đó là những thiệt hại đáng kể về tài sản. Những người vợ khóc chồng, con cái khóc cha mẹ, anh chị em khóc cùng nhau trước sự ra đi của người thân yêu.

Tôi thấy những cánh tay với lên trên mái ngói khi đội cứu hộ đi qua, họ đang cầu cứu nhân viên cứu hộ. Những chiếc phao được ném vào trong căn nhà đầy nước, lần lượt người già đến trẻ con được kéo ra, đưa lên tàu cứu hộ và đưa về nơi an toàn. Tay chân họ run bần bật với khuôn mặt lo sợ khủng khiếp.

Tôi thấy những ánh mắt ngơ ngác của các em nhỏ. Các em nhớ trường lớp, nhớ bạn bè, nhớ con chữ. Trường cũng ngập nước, sách vở đã ướt hoặc bị cuốn trôi mất, đôi mắt thơ ngây nhìn theo sách vở đang trôi theo dòng nước xiết.

Tôi thấy những cụ già run lẩy bẩy vì lạnh và thiếu áo ấm. Thiếu chăm sóc y tế, đối mặt với bệnh tật trong hoàn cảnh lũ lụt thế này có thể cuốn trôi đời họ bất cứ lúc nào.

Tôi thấy những gói mì, bịch sữa và nhu yếu phẩm cần thiết được chuyền lên nơi bà con đang trú ẩn. Đau lòng khi nhận ra họ không có nước sôi để nấu mì, và họ phải ăn mì sống để cầm cự chờ lũ rút hoặc đợi đội cứu hộ tới sơ tán dến chỗ an toàn.

Tôi thấy những giọt nước mắt của anh chị em tôi lúc nhận ra đội cứu hộ hoặc đoàn tiếp tế lương thực đến gần. Họ khóc vì mấy ngày rồi họ chưa có gì bỏ bụng, kèm theo nỗi lo sợ vì không biết họ sẽ chết lúc nào.

Tôi thấy những con người có tấm lòng nhân ái đang đến với anh chị em tại Miền Trung, bằng cách trực tiếp hay gián tiếp, mong hỗ trợ bà con chút lương thực ít ỏi và trên hết cầu mong nước lũ mau rút để bà con sớm trở về cuộc sống ổn định.

Tôi thấy cả nước đang hướng lòng về Miền Trung thân yêu trong cơn lũ lụt này. Cả nước đang dùng mọi phương cách: gây quỹ, quyên góp quần áo, lương thực và những đoàn thiện nguyện bác ái… tất cả chỉ muốn chia san nỗi đau buồn và thiệt hại nặng nề này.

Tôi thấy không chỉ người trong nước, mà người Việt tại nước ngoài cũng như các nước bạn bè cũng đau đáu với nỗi đau của người Việt Nam. Họ cũng đóng góp để giúp đỡ anh chị em mình trước tình cảnh này.

Tôi thấy những Thánh Lễ, những buổi cầu nguyện, và nhiều hình thức tâm linh khác nhau đang được tổ chức, trong trang nghiêm và thành khẩn. Họ đang cầu nguyện cho đồng bào Miền Trung rất nhiều.

Tôi thấy những cánh tay nối dài trong hoàn cảnh nguy hiểm và cấp bách. Tính mạng đồng bào tôi được đặt lên trên hết, trên cả tiền bạc, kinh tế hay bất cứ điều gì khác. Hàng triệu trái tim chỉ mong đồng bào tôi mau chóng bình ổn cuộc sống.

Tôi cũng thấy chính mình xốn xang, từng khúc ruột như quặn thắt, giọt nước mắt nóng hổi rơi trên hai gò má. Tôi mong ước góp chút gì đó, vật chất hoặc tinh thần, cho anh chị em mình. Đồng thời, việc tôi có thể làm ngay bây giờ là lời kinh Mân Côi đơn sơ và ý nghĩa:

Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Đức Chúa Trời ở cùng Bà. Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ, và Giê-su Con lòng Bà gồm phúc lạ.

Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời, cầu cho chúng con là kẻ có tội, khi này và trong giờ lâm tử. Amen.

 

Little Stream

Nguồn: https://dongten.net/2020/10/21/toi-thay-gi-trong-con-lu/

Thứ Tư, 14 tháng 10, 2020

Lỗi của mình là chẳng thể buông tay

 Tình yêu không có lỗi! Vâng, yêu ai đó, tự bản chất của nó, chưa bao giờ là “có lỗi”, vì yêu ai hay không yêu ai không phải là chuyện có thể dùng lý trí mà bắt ép được. TÌnh yêu tự đến (rồi tự đi) theo cách nó muốn, mà rất ít khi ta có thể can thiệp vào mà thành công. Có khi chỉ cần một ngày đẹp trời, bắt gặp một ánh mắt, một nụ cười, một câu chuyện là tình yêu đã có thể lẻn vào hồn, khuấy động tâm can, làm ta mất ăn mất ngủ. Nếu yêu ai là có lỗi, người ta sẽ trách ông Trời vì đã tạo cớ tạo duyên. Bởi lẽ, nếu không phải vì gặp nhau, hay nghe nói về nhau vào lúc đó, tại chỗ đó, trong hoàn cảnh đó thì làm gì có chuyện yêu nhau? Nếu khuôn mặt, bờ môi kia đừng quá thu hút, thì làm gì có chuyện không gặp nhau đã thấy nhớ vô ngần?

Ta không thể cấm mình yêu ai, cũng chẳng thể cấm ai yêu mình. Nó dường như vượt trên tầm kiểm soát của ta. Tình yêu lại muôn màu muôn sắc, phức tạp và nhiệm mầu. Bởi thế mới có cái gọi là tình đơn phương, tình tay ba, tình chưa trọn, tình chờ đợi, tình sai trái, tình vụng trộm, tình bị ngăn cản… Ai yêu cũng mong được hạnh phúc với người mình yêu. Nhưng sự đời đâu có dễ thế. Cuộc sống cứ luôn trêu ghẹo mình. Có những mối tình đẹp như mơ, nhưng lại chẳng thể đạt đến bến bờ. Đau khổ, hụt hẫng khi chia lìa. Hận thù, oán trách đi kèm theo. Yêu càng nhiều thì càng cay đắng. Chỉ cần một khoảng cách nhỏ, yêu có thể chuyển sang hận. Nỗi đau để lại thường rất sâu, những vết thương lòng cứ đau đáu chỗ nào đó trong tim. Bao nhiêu năm trôi qua, mà vẫn thấy nhức nhối, cố gắng lắm thì còn lại những vết sẹo buồn.

Tình yêu chẳng có lỗi. Nhưng lỗi là do mình, khi mình chẳng có can đảm để buông, vẫn muốn níu kéo, cứ hy vọng trong vô vọng, cứ đợi chờ trong tiếc nuối. Có lẽ vì yêu quá, lý trí mình cũng mất đi ánh sáng để phân minh, mất đi sức mạnh để làm điều cần phải làm. Để rồi, đến một lúc nào đó, ta thấy mình quá sức mệt mỏi, thân xác rã rời, tâm hồn héo hon. Là lỗi của ta khi đã yêu một người không nên yêu, rồi khi biết điều đó, ta vẫn cứ yếu mềm, không chịu chấp nhận sự thật. Là lỗi của ta khi ngỡ rằng vài dòng hỏi thăm, vài lời nhắn gửi, vài món quà tượng trưng của người ấy chính là biểu lộ của tình yêu. Thật ra, trong mắt người ấy, ta chẳng là gì, hoặc cao lắm cũng chỉ như bao người bình thường khác. Có lẽ ta đã quá ảo tưởng về bản thân, nghĩ mọi thứ theo cách đơn giản nhất mà không biết được rằng cái gọi là tình yêu còn đòi hỏi nhiều hơn thế.

Đã đến lúc ta phải học chấp nhận sự thật, rằng mình chỉ là một trong số biết bao con người khác đi ngang qua cuộc đời người ấy. Gặp đó, ấn tượng đó, nhưng rồi cũng phai phôi. Ta không đấu lại ông Trời, không thể tự định đoạt lương duyên, không thể chiếm được trái tim của người vốn dĩ không dành cho ta. Rồi cũng phải buông ra để chuộc lại lầm lỗi, trả mọi thứ về chỗ của nó. Cố chấp trong tình yêu chính là cái sai chồng chất cái sai, vậy mà bấy lâu nay ta cứ ngu muội không chịu nhìn cho rõ. Đã đến lúc ta cần học yêu bản thân hơn. Sao cứ phải nhọc công cố gắng níu giữ điều mà ta đã biết rõ là không thuộc về mình?

Thôi thì học sống cô đơn, để không phải lệ thuộc vào một mối tình nghiệt ngã nào đó. Cô đơn để biết trân quý bản thân, có thể làm điều gì mình thích, chẳng phải dồn tâm trí vào một ai. Tưởng thưởng cho mình một ly cafe, lắng nghe một bản nhạc nhẹ. Cũng có chút chạnh lòng, chút cô quạnh, chút buồn bã. Nhưng như thế vẫn tốt hơn nhiều so với cái cảm giác mỏi mòn khô héo. Ta đã biết mình có lỗi nên phải cố gắng sửa lỗi thôi. Lỗi vì đã sống quá nhiều cho người khác mà đánh mất chính mình, hay chỉ sống cho tương lai hy vọng mờ ảo mà quên đi hiện tại. Lỗi vì cứ khăng khăng là không có người ta mình chẳng sống được, hay mơ mộng là đến lúc nào đó người ta sẽ nhìn về phía mình, lao đến để ôm lấy.

Ta sinh ra đâu phải để đau khổ! Ta đâu được dựng nên để huỷ hoại chính mình trong một tương quan nào đó mà thôi! Cuộc sống vốn muôn màu muôn sắc. Bên cạnh những thất vọng buồn phiền còn rất nhiều điều tươi đẹp hân hoan. Biết đâu đang có một hạnh phúc nào đó đang chờ ta, thậm chí, biết đâu, nó đang ở ngay bên ta, nhưng lòng ta quá nhỏ bé và khép kín để có thể nhìn thấy nó cho tường tận. Mở lòng ra nhiều hơn, hướng tầm nhìn cao hơn xa hơn, chắc là ta sẽ thấy nhẹ bẫng. Có một vầng dương tươi sáng vượt trên cả những áng mây đen. Đời ta như cánh chim giữa ngàn cơn gió, bớt dính bén với đời thì sẽ dễ tung bay hơn. Suy cho cùng, chẳng có gì là lỗi hay không lỗi trong chuyện tình yêu. Trách mình có lỗi thì cũng chỉ là để mình thấy rõ vấn đề hơn. Ta yếu đuối, cũng còn là vì ông Trời đã đặt để trong ta một trái tim bằng thịt, quá mềm và quá mỏng thôi! Có đau một chút, mới biết mình là con người, mới thấu tỏ được cái tận cùng nhất của cái gọi là kiếp nhân sinh.

Hình như phải đến khi tự mình thấy không còn sức, ta mới chịu buông thì phải? Quyết định rồi… buông!


Pr. Lê Hoàng Nam, SJ

Nguồn: https://dongten.net/2020/10/12/loi-cua-minh-la-chang-the-buong-tay/

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2020

Con đường hoán cải của Marcelo Pietrelli, tác giả ứng dụng kinh Mân Côi


Marcello Pietrelli là tác giả ứng dụng Rosario – kinh Mân Côi. Anh đã xa rời Chúa một thời gian dài nhưng nhờ một linh mục dòng Cappucino, anh đã được ơn hoán cải và dùng kiến thức tin học của mình để lập ứng dụng đọc Kinh Mân Côi.

Có một ứng dụng miễn phí tên là Rosario – kinh Mân Côi, rất dễ sử dụng, được thiết kế tốt. Ứng dụng được hình thành bằng tình yêu, và khi mọi thứ được làm với tình yêu và lòng biết ơn - bằng cách cống hiến thời gian và sự khéo léo - kết quả thật phi thường. Trên thực tế, ứng dụng đã được gần 4 triệu người tải xuống dùng và trong thời gian phong tỏa vì đại dịch, số lượt tải đã tăng 700%.

Tác giả của ứng dụng là Marcello Pietrelli sống ở tỉnh Arezzo miền Toscana, nước Ý. Khi còn là một cậu bé, cũng như rất nhiều thiếu niên sau khi lãnh nhận Bí tích Thêm Sức, Marcello đã xa rời Chúa và Giáo hội. Ở trường, anh bắt đầu theo một người bạn cùng lớp mà anh thần tượng. Anh cố gắng bắt chước người đó trong mọi thứ, nhưng thực tế người đó không phải là một tấm gương tốt để noi theo. Vì vậy, Marcello bắt đầu hành xử như một kẻ lưu manh, trốn học, thi rớt, và gây ra rất nhiều đau khổ cho cha mẹ. Mẹ của Marcello là người có niềm tin mạnh mẽ, đã thực sự lo lắng cho anh, và sau đó bà quyết định đưa anh đến gặp một tu sĩ dòng Capuchino ở Lucignano. Khi đó là tháng 5.

Marcello nhớ rằng trong lần đầu tiên đó, anh đã bực bội và tức giận vì quyết định này của mẹ. Trong Thánh lễ, anh liên tục ngáp dài, khoanh tay đứng đó. Sau Thánh lễ, anh rất vui và nói: “Thôi, bây giờ chúng ta về nhà!. Nhưng mẹ anh trả lời: “Không, bây giờ chúng ta đến phòng thánh để cha Giorgio chúc lành”.

Cha Giorgio Giorgini là một tu sĩ Capuchino tuyệt vời, cũng đến từ miền Tuscano. Cha ban phép lành cho từng người, dùng dầu thánh làm dấu thánh giá trên trán. Khi đến lượt Marcello, cha cũng đặt tay lên đầu anh, và anh cảm thấy một điều tuyệt vời trong trái tim mình. Anh cảm thấy muốn khóc nhưng là một người kiêu hãnh, một người đàn ông cứng rắn, anh không khóc, nhưng thực sự những giọt nước mắt đã đong đầy trên mắt anh. Trên đường đi dự Thánh lễ, anh đã càu nhàu, phàn nàn, nhưng trên đường trở về, anh hoàn toàn im lặng. Và khi mẹ anh đề nghị anh trở lại gặp cha Giorgio trong cả tháng kính Đức Mẹ, anh đã không từ chối.

Marcello đã đi gặp cha nhiều đến nỗi Claudia, vị hôn thê của anh, luôn hỏi anh: "Nhưng anh đi đâu mỗi đêm?". Anh trả lời: "Mẹ tôi bắt tôi phải đi gặp linh mục này, nhưng cha ấy tốt đấy!". Đó là khoảng thời gian đẹp đẽ, nhưng Marcello vẫn rất bối rối. Rồi đến một ngày đặc biệt, đó là ngày 4 tháng 10, lễ Thánh Phanxicô Assisi, và sáng hôm đó anh đã cãi lời mẹ, anh hơi nổi nóng và căng thẳng. Nhưng trong Thánh lễ, cha Giorgio đã nói về vị thánh này và ngài đã chạm vào trái tim anh đến nỗi anh nói: “Tôi muốn thay đổi, tôi muốn thay đổi cuộc đời mình”.

Ngày mà cuộc đời Marcelo thay đổi chính là ngày 4 tháng 10. Sau đó cùng với Claudia, họ bước vào một cuộc hành trình do cha Giorgio dẫn dắt. Cha thực sự là một người cha, một người anh, một người bạn của họ. Cha Giorgio đã giới thiệu Marcello đến với Chúa, và điều đẹp nhất mà cha đem lại cho anh là từ giây phút đó anh không còn cảm thấy bị phán xét hay chỉ trích nữa, nhưng chỉ cảm thấy được yêu, được yêu thương và điều này đã biến đổi cuộc đời anh: thế giới đó mà anh chỉ thấy màu xám đã trở thành có màu sắc.

Gặp cha Giorgio chính là sự cứu rỗi của Marcelo và Claudia. Cuộc sống của họ thật khó khăn, cái chết của mẹ anh, những khó khăn với con trai của họ, nhưng Chúa đã giúp họ rất nhiều, họ có được sự bình an trong tâm hồn và đây là điều quan trọng nhất và đẹp hơn hết. Họ đã gia nhập dòng ba Phan sinh. Họ bị hấp dẫn bởi hình ảnh của Thánh Phanxicô. Trong một thời gian dài, họ đã theo dõi các bạn trẻ Phan sinh tại Lucignano ở đây và điều đó thật tuyệt vời. Marcelo cho biết khi kết hôn, họ muốn có nhiều con, nhưng họ chỉ có Phanxicô, nhưng họ có rất nhiều đứa con tinh thần nhờ Giáo hội.

Nhờ cha Giorgio mà ứng dụng kinh Mân Côi được ra đời. Marcelo kể: Cha đã dạy chúng tôi lòng quảng đại, tin tưởng vào Chúa Quan Phòng. Một ngày nọ, khi biết tôi thích công ngệ thông tin, cha nói với tôi: "Nhìn này, cái này dành cho con". Cha đưa cho tôi một số tiền rất lớn và nói thêm: "Một ân nhân đã tặng cho cha. Con dùng số tiền này để mua một máy tính đẹp và nó sẽ giúp con làm nhiều việc tốt". Anh trả lời: "Nhưng không, con không thể lấy số tiền này". Cha Giorgio cắt ngang: "Hãy cầm lấy số tiền này và im lặng". Bề ngoài cha có vẻ thuộc tuýp người cộc cằn, nhưng cha lại là một người cha rất yêu con cái. Cha rất tốt và vì vậy tôi đã mua máy tính. Lúc đầu tôi nghĩ: Tôi sẽ in một số tờ rơi cho nhà thờ, các bài hát, nhưng rồi tôi không nghĩ đến những việc này nữa. Một ngày nọ, Claudia lại đề xuất với tôi khi tôi đang loay hoay với chiếc máy tính: “Anh không nhớ rằng cha Giorgio đã nói rằng anh sẽ tạo ra những điều tốt đẹp sao?”. Và vì vậy khi tôi bắt đầu lập trình trên Android - bây giờ tôi đang thử sức với iOS - tôi đã nói với Đức Mẹ: “Con muốn dành ứng dụng đầu tiên mà con sẽ làm cho Mẹ”, và do đó tôi nghĩ về kinh kính Đức Mẹ. Cha Giorgio đã nhìn thấy điều chúng tôi sẽ làm từ lâu rồi! Lúc đầu tôi không muốn làm một ứng dụng có âm thanh mà chỉ tạo một chuỗi Mân Côi kỹ thuật số, bởi vì nhiều khi bạn đọc kinh nhưng bạn không có tràng hạt trong tay. Mãi sau này tôi mới bắt đầu thêm âm thanh: đó là vào cuối tháng 8 năm 2012 khi tôi xuất bản nó trên Play Store.

Marcelo không bao giờ nghĩ đến việc tìm kiếm lợi nhuận. Anh nói: “Tôi nghĩ rằng tôi đã nhận được rất nhiều và tôi luôn cảm thấy mắc nợ, vì vậy tôi thưa với Chúa "vì lòng biết ơn, con sẽ làm điều nhỏ này cho Chúa."

Sau khi anh đã thiết kế ứng dụng kinh Mân Côi, nhiều người viết cho anh và yêu cầu anh dịch ra các ngôn ngữ, nhưng anh chỉ biết mỗi tiếng Ý. Thế là họ đã gửi cho anh các bản dịch và các bản thu âm. Hiện nay ứng dụng kinh Mân Côi có 15 ngôn ngữ. Trong ứng dụng, ngoài kinh Mân Côi còn có chuỗi Lòng Chúa thương xót, rất nhiều kinh nguyện và các tuần cửu nhật.

Thứ Sáu, 2 tháng 10, 2020

Trăng thơ

 Rung lắc theo nhịp kéo của chiếc máy cày, gia đình chúng tôi chất đầy cảm xúc trở lại Sài Gòn. Một nỗi buồn man mác lớn dần khi bóng dáng của ngôi thánh đường đơn sơ Giáo xứ Xuân Thanh khuất dần phía cuối con đường. Một niềm vui nho nhỏ sau kỳ trung thu thật ý nghĩa cùng các em ở vùng đất đầy trắc trở này. Đó chính là câu chuyện Trăng Thơ của gia đình sinh viên Công giáo Ngân Hàng chúng tôi

Đầu giờ chiều, mặc dù các gian hàng trò chơi chưa khởi động, nhưng khuôn viên nhà thờ đã ắp đầy tiếng cười nói nô đùa của bọn trẻ. Những khuôn mặt ngây thơ dưới làn da bánh mật phất phơ những ngọn tóc cháy nắng đang kéo những cái thân mệt mỏi vì di chuyển từ sáng sớm của chúng tôi vùng dậy, chạy ra cùng các em. Ấy thế, khi các gian hàng trò chơi đã sẵn sàng sau những nỗ lực chạy đua với thời gian trên bề mặt đất đá thì cũng là lúc bọn trẻ tuôn về từ khắp các nẻo đường. Dù trong lòng rất háo hức với những đôi mắt long lanh tinh nghịch chờ trực về phía khu trò chơi, nhưng các em vẫn nghe theo lời hướng dẫn của chúng tôi, khoanh tay lại, đứng nghiêm trang, và cùng nhau cất lên lời kinh Kính Mừng thật lớn thánh hóa cuộc vui. Lời khai màn của anh chàng sinh hoạt dí dỏm vừa cất lên, các em đã lao mình về phía các trò chơi như những con thiêu thân. Một hội hè xưa đã được tái hiện nơi mảnh đất cằn cỗi này. Những trò chơi dân gian như qua cầu kiều, ném còn, nhảy dây, cướp cờ lần lượt thách thức sức trẻ, thử thách tính lanh lợi, ham chơi của các em. Những trò chơi khác như đá banh, ném lon, đập trăng, tìm báu vật… cũng không kém phần hấp dẫn. Hòa cùng niềm vui thỏa thích của bọn trẻ, chúng tôi cũng đốt hết mình cháy hết thân ân cần hướng dẫn, cổ vũ các em. Đổi lại, các em đã trao cho chúng tôi niềm vui vô bờ trong mọi ngõ ngách của cuộc vui: những bước đi vụng về trên cây cầu kiều, bộ mặt tức tối vì lần ném còn không thành, vẻ tiếc nuối vì lần đá banh trượt, nụ cười sau khi về đích với khuôn mặt lấm đầy bụi đẫm mồ hôi, niềm vui thích khi nhận một chiếc vòng, cây kẹo mút, niềm hạnh phúc nhỏ trên từng chén bắp xào sau hơi thở mệt mỏi vì chơi hết mình cháy nhiệt tình… Giữa đám trẻ vui đùa, chúng tôi cũng kịp trao cho nhau những nụ cười vội vàng.

Khi những tia nắng cuối cùng của chiều thứ bảy chịu nhường chỗ cho bóng tối, thì cũng là lúc khởi đầu cho đêm văn nghệ Trăng Thơ. Khai màn là tiếng trống giòn dã xua tan cái buồn thinh không của chiều tà cùng những bước chân vững chãi, những điệu nhảy tưng bừng của hai chú lân Ngân Hàng. Sau màn trình diễn tuyệt vời ấy, đan xen giữa những lời ca điệu vũ sôi động của chúng tôi là những điệu nhảy vô cùng dí dỏm của những vũ công tí hon đến từ Giáo xứ Xuân Thanh. Những trang pháo tay, tiếng reo hò cùng nối đuôi những bước nhảy lời ca tạo nên một “live show” thật đáng nhớ. Và kết thúc đêm trăng ấy, từng em lắc lư trên tay chiếc lồng đèn nhỏ nhắn, và một món quả nhỏ, nối đuôi nhau. Cùng với các em, chúng tôi đã làm nên một đoàn rước lung linh ánh sáng bên núi đồi bao la. Cuộc rước tưng bừng cũng kết thúc, những ánh đèn lồng cùng các em cứ thấp thoáng mờ dần rồi tắt lịm trong đêm tôi, chúng tôi cũng nhanh chóng chuẩn bị cho Thánh Lễ tạ ơn. Sau tất cả, chúng tôi muốn cùng nhau dâng lên Chúa tất cả tâm tình của gia đình. Lời tạ ơn xen lẫn tiếc nuối, lời xin lỗi quyện hòa hờn dỗi, câu ca trên những chiếc Áo đỏ đã thấm mệt… Mọi cung bậc sắc màu quyện dâng lên Chúa như của lễ đơn sơ. Và đây cũng là dịp gia đình chúng tôi nhìn lại một hành trình đầy gian nan cho buổi Trăng Thơ hôm nay.

Khi cơn dịch trở lại Việt Nam, chúng tôi như những kẻ thẩn thơ, bơ vơ. Bơ vơ giữa hàng tá câu hỏi, hàng chục phương án cho chương trình trung thu hằng năm của nhóm. Thẩn thơ chờ đợi tương lai, nín lặng hy vọng ánh sáng. Ngày trung thu đã gần kề nhưng dịch vẫn còn, sinh hoạt công cộng vẫn chưa có. Thật may, đại dịch đã dần lắng xuống, và chúng tôi bắt tay ngay vào mọi thứ trong thời gian gấp rút. Gạt bỏ bao buổi trăng mộng mơ bên nàng thơ chàng thơ của lòng mình, gác lại những bộn bề lắng lo của cuộc sống, những thành viên Áo đỏ rong ruổi cất lời mời gọi những con người xa lạ trên từng con phố, trong những công viên. Dưới những cơn mưa nặng nề buổi xế Sài Thành, chúng tôi mong muốn những con người ấy cùng mình đóng góp một chút quà mọn cho những đứa trẻ khó khăn. Rồi những tối góp lời ca tiếng hát cho một đêm văn nghệ đầy ắp niềm vui tiếng cười trẻ nhỏ. Cả những buổi góp chút tài khéo cho băng rôn, dụng cụ để có những trò chơi thú vị cho tụi nhỏ… Cùng chung tay, gia đình chúng tôi đã viết nên câu chuyện Trăng Thơ thật ý nghĩa.

Như những thiếu nữ mặn nồng của tuổi trăng rằm, tấm lòng của chúng tôi cũng tròn trĩnh hơn khi đem những món quà nhỏ gởi trao đến những gia đình khó khăn nhất giữa vùng đất đầy sỏi đá này. Chia nhau nhóm nhỏ theo chân những người bản xứ, chúng tôi trao tận tay những món quà tới con người khốn khổ ấy. Chỉ là chút gạo ít ỏi, chút gia vị chẳng đáng một tháng, nhưng lòng muốn san chút sức lực của tuổi trẻ, tâm muốn chia ít lòng của tuổi xuân đến những gia cảnh này. Dừng chân lại từng nhà, chúng tôi nán lại ít lâu để lắng nghe một chút những nỗi buồn bao ngày để ủi an phần nào những nỗi khổ lâu nay. Dưới cái nắng oi ả trên những đoạn đường đất đá chênh vênh, trở về nhà thờ, lòng chúng tôi thật xót xa cho phận người, cùng nỗi tiếc nuối vì thời gian ngắn ngủi bởi lời an ủi vấn vương do cuộc gặp chưa vẹn. Nhưng sau tất cả, chúng tôi cảm thấy tấm lòng mình mở ra hơn và chính những con người khốn cùng ấy làm cho chuyến tông đồ của chúng tôi tròn hơn.

Chào tạm biệt chiếc xe cày lấm đầy gió sương, chúng tôi cất những bước mệt nhoài lên con phà cũ kĩ gắn bó một đời với khúc sông Đồng Nai mà lòng vẫn chất đầy nỗi niềm chan chứa. Quả là một tuần trăng đầy thơ, từ chỗ thẩn thơ giữa khó khăn tư bề đến một trung thu thật ý nghĩa cho các trẻ thơ đầy sự bơ vơ. Chúng tôi mong muốn tiếp tục mang tấm lòng “trăng thơ” của mình tới các bé thơ trên những mảnh đất cằn cỗi lam lũ như Xuân Thanh. Chúng tôi tin Thiên Chúa luôn mở lời với những tấm lòng đầy ắp yêu thương. Người luôn đỡ nâng và dạy cho chúng tôi biết bao điều sau mỗi chuyến đi ấy:

Hỡi bè hỡi bạn gần xa,

Cùng đoàn Áo Đỏ xây nhà mến yêu

Thanh xuân lòng sức có nhiêu

Chung chia phận nhỏ những điều tình chan.


Lyeur Nguyễn

Nhóm Sinh viên Công giáo Ngân Hàng: https://www.facebook.com/svcgnh

Nguồn: https://dongten.net/2020/10/01/trang-tho/

Thứ Sáu, 11 tháng 9, 2020

Nỗi bất an vô hình và những cuộc tự sát thương tâm của người trẻ

 Theo thống kê gần đây của Tổ Chức Y Tế Thế Giới (WHO), trung bình mỗi năm có gần 800.000 người chết vì tự sát trên toàn cầu. Nghĩa là cứ sau mỗi 40 giây là lại có một người tự sát. Đáng tiếc thay, đa số họ là những người còn rất trẻ, dao động trong khoảng từ 15 – 29 tuổi[1].

Đây là một con số cực kỳ báo động. Đến nay, đã có rất nhiều nghiên cứu về biểu hiện và nguyên nhân của vấn đề này. Chẳng hạn, những người muốn tự sát thường có biểu hiện như: xa lánh xã hội; đắm chìm trong các chất kích thích; hay nói những lời tiêu cực, bi quan về cuộc sống hoặc tự gây thương tích cho bản thân…vv. Sau đó các chuyên gia cũng đã đưa ra những nguyên nhân trực tiếp dẫn đến hành vi tự sát của một người như: do một thất bại nặng nề, buồn chuyện tình cảm, gia đình, trường học, cơ quan… hoặc các nguyên nhân đặc thù hơn như: loạn thần kinh, trầm cảm, rối loạn cảm xúc lưỡng cực…vv.

Thế nhưng, đó dường như chỉ là bề nổi của tảng băng chìm. Vẫn còn đó những cái chết bất ngờ của biết bao người trẻ: không dấu hiệu báo trước, không ai hiểu tại sao! Họ vẫn làm việc, thậm chí vẫn thành công, vẫn vui cười, vẫn làm tròn các bổn phận của mình trong cuộc sống và dường như không có bất kỳ một biểu hiện lạ nào. Và rồi, khi cơ sự xảy ra, thông tin về cái chết của họ như một tiếng sét chói tai gây choáng voáng cho những người thân cận. Khi ấy, người ta chỉ còn biết gọi đó là một cuộc tự sát không tên, không nguyên do và bất khả lường đoán.

Đi sâu hơn nữa vào vấn đề, tất nhiên có thể có những nguyên nhân như các nhà chuyên môn đã nhận định – những nguyên nhân ngoại tại, thế nhưng trong những trường hợp kể trên, một cách nào đó ta có thể phát hiện ra “một thủ phạm dấu mặt khác” của những vụ án thương tâm ấy, thủ phạm mang tên nỗi bất an vô hình – nguyên nhân nội tại. Đó là một thứ cảm nhận rất khó gọi tên; một trạng thái như thể bạn đang sống trong giấc mơ vậy. Đôi khi, bạn nghe như có tiếng nói không phải ở bên tai, nhưng là ở nơi sâu thẳm nhất của tâm hồn: “Hãy nhảy lầu đi”, nếu bạn đang ở trên một tòa nhà cao tầng; hay “lao mình vào chiếc xe tải kia đi”, nếu bạn đang đi trên đường; “hãy gieo mình xuống sông đi”, nếu bạn đang đứng trên cầu; “hãy cầm dao và tự đâm mình đi”, nếu bạn đang gọt trái cây…vv. Những lúc ấy, nếu ý thức của bạn không đủ mạnh, thì nguy cơ bạn rơi vào bẫy tự sát cách vô thức là rất cao.

Như thế, hiểm họa cứ rình rập ở mọi lúc, mọi nơi trong cuộc sống. Nhưng vấn đề nan giải ở chỗ, dường như bạn không thể ý thức mà chỉ có thể cảm nhận về chúng. Bạn cảm giác về một cái gì đó như là sự bất lực của bản thân một cách mơ hồ. Sau đó, nếu tình trạng mơ màng ấy trở nên nghiêm trọng hơn, thì theo lẽ thường, phương thế để bạn thoát khỏi giấc mơ là gây ra một cảm giác đau đớn nơi cơ thể, để làm cho mình được tỉnh dậy; và tất nhiên cách thức đau đớn nhất đó chính là tự sát. Nghĩa là với bạn, cái chết là cách duy nhất và tốt nhất để giúp bạn thoát khỏi nỗi bất an vô hình mà bạn đang phải trải qua.

Vậy nỗi bất an vô hình ấy thực sự là gì? Có thể với tâm lý học chiều sâu, nhà phân tâm học người Áo – Sigmund Freud đã gọi đó là cảm thức mặc cảm tội lỗi do sự trừng phạt của cái siêu tôi – những quy tắc, luật lệ của gia đình, xã hội được nội tâm hóa – khi bạn vi phạm các điều cấm đoán trong đó. Phải thừa nhận rằng, bạn là người có một lương tâm cực kỳ nhạy bén. Bạn cảm thấy áy náy sâu sắc chỉ vì một lỗi lầm nhỏ nhặt hoặc u uất vì một nỗi oan ức không thể giãi bày. Mặc cảm tội lỗi khiến bạn mong muốn được trừng phạt hoặc tự làm cho bản thân trở nên khổ sở với những việc lao nhọc quá sức hoặc tự mình gây ra những nỗi đau thể lý khác. Thậm chí cảm thức tội lỗi còn khiến bạn không cho phép mình được vui vẻ, thoải mái trong bất cứ hoàn cảnh nào. Thế nhưng Thiên Chúa đâu có muốn bạn tự hạ thấp và hành hạ bản thân mình như thế, Ngài chỉ muốn bạn khiêm nhường và nhìn nhận sự thật về bản thân mình mà thôi. Để rồi bạn cũng biết tha thứ cho người và cho mình như chính Ngài đã tha thứ cho bạn, và mong bạn sống xứng đáng với sự tha thứ đó.

Ngược về lịch sử một chút, thế kỷ thứ 5 – 4 TCN, các triết gia Hy Lạp như Plato, Aristotle đã cho rằng bạn sẽ bất hạnh nếu bạn không hiện thực hóa được chức năng đặc trưng của con người xét như là những con người. Đó là chức năng của lý trí hành động theo các đức hạnh. Nghĩa là bạn sẽ đạt được hạnh phúc khi bạn luôn làm theo những gì mà lý trí xét thấy là phải làm, và ngược lại, bạn sẽ cảm thấy bất an nếu bạn không làm theo lương tri của lẽ phải. Chẳng hạn, khi bạn xét thấy uống rượu bia nhiều là không tốt, nhưng trong một cuộc gặp gỡ, vì quá vui nên bạn đã uống nhiều hơn lượng mà bạn đã ấn định cho mình. Hôm sau, bạn cảm thấy vô cùng mệt mỏi và dường như không thể làm việc được. Ấy là chưa kể bạn có thể đã có những hành vi mất kiểm soát trong tình trạng say xỉn đó. Hoặc bạn đã quyết định tối hôm nay phải ôn lại toàn bộ kiến thức trước khi bước vào kỳ thi ngày mai, nhưng khi bạn bè đến rủ bạn chơi game hoặc đi dạo phố, thế là bạn bỏ lại tất cả sách vở trên bàn và đi với bạn bè. Kết quả là bạn bị trượt môn hoặc chỉ đạt được kết quả thấp hơn những gì bạn mong đợi…vv.

Tất cả những chuyện tương tự như thế cứ ngày ngày xảy ra; bạn cứ chạy theo những việc thích làm thay vì những việc phải làm. Chính những thất bại liên tiếp ngay trong chính “kinh thành nội tâm” đã tạo ra một thứ xung lực chết chóc, chúng dồn nén lại, âm ỉ trong xương cốt và để lại trong lòng bạn một nỗi bất an vô hình. Trong đó, bạn phải chịu đựng sự buồn phiền, xao xuyến, bức bối và cảm giác như có cái gì đó không được thoả mãn trong lòng; một cảm giác thất bại và oán hận bản thân sâu sắc, mơ hồ nhưng mãnh liệt; không ào ạt nhưng cứ cuồn cuộn trong tâm hồn như sóng ngầm của đại dương vậy. Đến một lúc nào đó, chiếc bình chứa nỗi giằng xé trong tâm hồn bạn không thể chịu thêm bất kỳ một sự dồn nén nào nữa; và rồi, “tự sát” như là cái kết vô hậu của thảm kịch cuộc đời.

Thế nhưng, đó không phải là lộ trình tất yếu của cuộc sống. Lộ trình đời người là tiến về Hạnh Phúc Chân Thực chứ không phải là cái chết lãng xẹt. Cái khó của tấn bi kịch nhân sinh nằm ở chỗ, không phải lúc nào bạn cũng dễ dàng nhận ra và gọi tên những nỗi bất an vô hình trong lòng mình. Trớ trêu thay, càng không biết nó là cái gì thì nó lại càng trở nên nguy hiểm và hung dữ. Nhưng một khi đã nhận ra và gọi tên được những điều khuất tất ấy, lòng bạn sẽ được nhẹ nhõm và lý trí của bạn mới có thể hướng dẫn hành vi theo sự thiện lành được. Giống như kiểu: trong đêm tối ta sợ hãi khi giẫm phải một con rắn, nhưng khi bật đèn pin lên, ta sẽ thấy bình an khi biết rằng đó chỉ là sợ dây thừng. Tất nhiên, không phải cứ chỉ mặt gọi tên như thế là vấn đề nghiễm nhiên được giải quyết. Nhưng chí ít đó là bước đầu tiên và mang tính then chốt của một tiến trình chữa lành sau đó.

Vậy nên, cần thiết lắm những khoảng lặng nội tâm để bạn có thể nhìn vào sâu thật sâu trong cõi lòng đầy khắc khoải của mình. Giống như khi để cho ly nước lắng lại, bạn sẽ dễ dàng nhìn thấy cát bụi, sỏi đá hay ngọc quý bên trong. Một trong những phương thế hữu hiệu để có thể làm được điều ấy, đó chính là phút hồi tâm. Sau mỗi ngày, bạn dành ra chút thời gian lắng đọng, một mình ta với Ta trong nơi cô tịch của thời gian và không gian, rồi tự hỏi: chuyện gì đã xảy ra trong tâm hồn tôi hôm nay? Điều gì làm tôi vui mừng và điều gì làm tôi sầu khổ? Ngày mai, tôi phải sửa đổi những gì và phát huy những gì để trở nên hoàn thiện và hạnh phúc hơn mỗi ngày. Tóm lại, tôi đã nhận ra và thi hành Ý Chúa thế nào trong ngày sống của mình và tôi phải làm gì để làm vinh danh Người hơn! Nhờ đó, những tư tưởng xúi bẩy bạn tự làm hại mình sẽ cong đuôi cao bay xa chạy như tên gián điệp bị vạch trần chân tướng xấu xa của hắn vậy!


Hv. Văn Tài, S.J

[1] Cf. https://www.who.int/mental_health/prevention/suicide/suicideprevent/en/ (truy cập ngày 06/09/2020)

Nguồn: https://dongten.net/2020/09/09/noi-bat-an-vo-hinh-va-nhung-cuoc-tu-sat-thuong-tam-cua-nguoi-tre/

Thứ Hai, 7 tháng 9, 2020

Xưa và Nay – Một hướng đi

 Khoảnh khắc tựu trường luôn là khoảnh khắc đặc biệt đối với đời học sinh. Vì đó là thời khắc mang ý nghĩa quy tụ, bắt đầu một hành trình mới trong một chặng đường tri thức. Thật dễ dàng để nhận ra sự khác biệt trong khoảnh khắc tựu trường cũng như việc học xưa và nay, như những bước tiến của thời đại, nhưng ý nghĩa cốt lõi vẫn luôn là như thế.

Tôi vẫn nhớ khoảnh khắc được mẹ chở trên chiếc xe đạp cọc cạch đến trường. Băng qua con đường mòn nhỏ, bánh xe chạy trên những bờ ruộng, bờ kênh còn chút trơn trượt của sương sớm. Mùi cỏ thơm thoảng lên sống mũi, kèm theo hương vị sông nước quê nhà gợn lên trong lòng đứa bé như tôi một niềm vui khó tả. Từ xa, tôi đã thấy các bạn khác cũng được ba hay mẹ dắt tay đến trường. Trong bộ đồng phục ngắn ngủn, phai màu vì tận dụng đồ năm ngoái, trên cổ đeo chiếc khăn quàng đỏ bay phất phới, khuôn mặt nôn nao, háo hức là cảm giác của lũ học sinh chúng tôi. Trường quê nằm gọn trong một khoảng sân rộng, xung quanh toàn cỏ với cỏ. Có lẽ trường làng tôi ngày xưa không đẹp như các trường học ngày nay, chỉ đơn giản là một dãy nhà với nhiều phòng, vài cái bàn ngồi học, và chiếc bảng phấn cũ kỹ đặt phía trên. Trường đã cũ nên nhiều chỗ sơn bị bong ra, và rong rêu qua năm tháng dần tạo nên cái nét cổ kính của riêng nó. Nhớ lại cái cảm giác của mừng vui vì sắp gặp lại bạn bè, thầy cô lúc đó thật khó tả.

Các bạn tôi đã quy tụ quanh sân trường, tụ nhau chơi cò cò, nhảy dây, bắn bi hay trốn tìm. Tiếng ồn ào náo nhiệt sau những tháng hè im ỉm khiến sân trường vui hẳn. Tiếng trống trường vang hồi dài, chúng tôi nhanh chân tập trung giữa sân trường. Thầy hiệu trưởng lên nói lời khai mạc và đánh tiếng trống khai giảng. Sau đó, chúng tôi ai về lớp nấy gặp thầy cô chủ nhiệm của mình. Chiều hôm đó cả lớp đi lao động đầu năm học, vai vác chổi, đồ hốt rác mà miệng thì cười nói vui vẻ hết sức. Sau một hồi làm việc sân trường sạch cỏ, lớp học sạch sẽ hơn và sẵn sàng cho buổi học vào ngày mai. Cái nét hồn nhiên của tuổi thơ là vậy.

Thắm thoát hơn hai mươi năm trôi qua, nghĩ lại chợt thấy khoảnh khắc tựu trường của thời đại mới chắc hẳn vui hơn chúng tôi ngày xưa nhiều lắm. Cơ sở vật chất, tiện nghi hẳn phải đầy đủ, đẹp đẽ và mới mẻ hơn. Đồng phục đẹp hơn và hiện đại hơn ngày trước. Tinh thần học tập của thời đại mới cũng phải mạnh mẽ và rõ ràng hơn. Trước đây việc đến trường của chúng tôi không nằm trong diện chính yếu, vì nhà quá nghèo nên có bạn đồng lứa với tôi có đứa ở nhà chăn trâu, ra ruộng phụ ba mẹ. Vậy nên chúng tôi thời ấy xem việc học là một con đường để lựa chọn trong nhiều con đường khác nhau. Còn trong thời đại mới này thì khác, việc đào luyện tri thức luôn là điều tất yếu và cực kỳ cần thiết. Vì nó góp phần xây dựng tương lai không chỉ cho bản thân, gia đình mà cả xã hội nữa.

Các bạn học sinh trong thời đại mới có lẽ cũng không còn thích thú với những trò chơi khi xưa của chúng tôi. Vì ngày nay các bạn đã có những phương tiện giải trí mới và hiện đại. Những trò chơi điện tử luôn được cập nhật liên tục, cùng với những thiết bị điện tử phục vụ nhu cầu nghe nhìn và học hỏi, đã giúp các bạn rất nhiều trong việc vừa chơi vừa học. Bên cạnh đó, những công cụ phục vụ cho việc học trong giáo dục ngày nay luôn lựa chọn điều tốt nhất, lợi nhất và giúp ích cho cả giáo viên lẫn học sinh. Nhìn vào khía cạnh này dễ dàng nhận ra mong mỏi của đất nước và xã hội đặt vào thế hệ trẻ như thế nào. Việc đầu tư chất lượng cao chỉ để giúp từng người trong tầng lớp trẻ thêm tri thức, kinh nghiệm và kỹ năng. Tất cả được định hình cách chỉnh chu và gần như hoàn hảo trong khả năng cho phép.

Nhưng có những điểm chung mà tôi nhận ra nơi mỗi học sinh xưa cũng như nay, là chính ý thức, mục đích và mong mỏi của từng học sinh trong mọi thời đại. Dù xưa hay nay thì việc học vẫn là con đường hữu ích cho tương lai, vì thế mà mỗi học sinh đều đặt ra cho mình những mục tiêu, đích nhắm riêng để hướng tới. Hình thức học tập thì có thể khác nhau, nhưng tinh thần học tập luôn là một. Thi thoảng vẫn có những nhận xét về thái dộ học của những học sinh thời nay, hay so sánh với lối học ngày xưa, có lẽ điều này chưa hẳn đúng lắm. Bởi lẽ mỗi thời đại luôn có cách thức phù hợp riêng của nó, và tất cả đều dẫn người ta đến mức trưởng thành cả về nhân bản, đạo đức và kiến thức.

Một điểm chung khác cũng cần ghi nhận là mục đích phổ quát mà việc học mang lại. Bởi lẽ việc học bao đời nay không chỉ là tiến thân, mà luôn có một mục đích khác lớn hơn rất nhiều. Đó là trở thành một người có ích và giúp ích cho xã hội, đất nước. Có biết bao nhân tài đời trước đã sống và làm điều này như một tấm gương sáng cho những thế hệ đi sau học theo. Nếu học chỉ để tiến thân, mưu ích cho bản thân thì thực quá ích kỷ và hạn hẹp, chưa phát huy hết tinh thần của việc học. Thế nên, việc định hướng mục đích học này cách rõ ràng từ trước tới nay vẫn luôn là điều quan trọng.

Tôi cũng nhận thấy những băn khoăn của học sinh ngày hôm nay với thời đại của trước đây không khác nhau là mấy. Vẫn trăn trở cho việc tiếp thu lượng kiến thức rộng lớn trong nhiều lãnh vực, vẫn khao khát đạt điểm tốt trong suốt năm học, và quyết tâm để đạt kết quả tốt trong các kỳ thi. Nhờ những động lực như thế mà việc hy sinh, dấn thân và cố gắng mỗi ngày là điều không thể thiếu đối với học sinh. “Có công mài sắt có ngày nên kim”, “học, học nữa, học mãi”, “học ăn, học nói, học gói, học mở” là những điều mà cha ông truyền lại cho bao đời và vẫn còn ý nghĩa trong ngày nay. Con đường học thức là một con đường thênh thang đòi hỏi một sự nỗ lực lớn lao trước bao nhiêu thách đố.

Ngẫm về khoảnh khắc tựu trường, tôi thấy nhớ những cảm xúc tựu trường đầu đời học sinh cách đây hơn hai mươi năm, thấy thương yêu và trân trọng những giây phút ấy. Tôi cũng ngẫm về việc học của mình hiện tại với điều kiện đầy đủ gấp xưa nhiều lần. Ước gì việc học của tôi hôm qua, hôm nay và tương lai vẫn luôn đúng hướng, để không phụ lòng đất nước, thầy cô, cha mẹ, bạn bè và những ai hằng mong mỏi.

Lạy Chúa, một năm học mới đã bắt đầu với nhiều điều ngổn ngang. Xin giúp chúng con luôn ý thức mục đích việc học của chúng con không chỉ là tiến thân, nhưng còn nhiều mục đích cao cả hơn nữa. Ước gì qua việc học này, chúng con khám phá ra hoạch định diệu kỳ của Chúa và chung tay xây dựng một xã hội, thế giới tốt đẹp hơn từng ngày. Amen.


Little Stream

Nguồn: https://dongten.net/2020/09/07/xua-va-nay-mot-huong-di/

Thứ Hai, 17 tháng 8, 2020

Một chia sẻ về đồng hành thiêng liêng với giới trẻ

 MỘT CHIA SẺ VỀ ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG VỚI GIỚI TRẺ

Lm. Antôn Nguyễn Cao Siêu SJ

I. TRÊN ĐƯỜNG VỀ EMMAUS (Lc 24,13-35)

Con đường từ Giêrusalem về Emmaus dài khoảng 11 cây số. Hai môn đệ của Chúa Giêsu đang trên đường về nhà của họ. Vì cái chết đau đớn và nhục nhã của Thầy trên thập giá, họ mất niềm tin, mất hy vọng, trái tim họ trở nên nguội lạnh. Qua trình thuật của Luca, chúng ta có thể học nơi Đức Giêsu cách đến với tha nhân, đồng hành với họ, để loan báo Tin Mừng cho họ.

1. Chúa Giêsu đến đúng lúc và trở thành bạn đồng hành (c. 15)

Ngài đến đúng lúc, không sớm hơn, không muộn hơn. Đến đúng lúc họ đang bỏ cuộc, quay quắt, ray rứt về chuyện đã qua. Đến đúng lúc là điều quan trọng, vì sớm quá thì chưa chín, muộn quá thì chuyện đã hỏng. Ngài “tiến đến gần và cùng đi với họ.” Để nâng đỡ một người, cần khiêm tốn đi chung với họ, trở nên bạn của họ. Đến gần và đi chung để gây thiện cảm, để không làm họ sợ. Để đồng hành, cần điều chỉnh tốc độ: đi nhanh với người đi nhanh, đi chậm với người đi chậm.

2. Chúa Giêsu gợi chuyện (cc. 17-19)

Ngài không cắt đứt, nhưng muốn tham dự vào câu chuyện dở dang của hai người: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” Đức Giêsu giả vờ không biết khi Ngài hỏi: “Các anh vừa đi vừa trao đổi với nhau về chuyện gì vậy?” (c. 17). Ngài là người đi bước trước, mở lời trước. Nỗi buồn có thể làm người ta khép lại, vậy đừng chờ họ đến với mình. Đức Giêsu nhận được một câu trả lời lạnh nhạt, có chút mỉa mai: “Chắc ông là người duy nhất trú ngụ tại Giêrusalem mà không hay biết những chuyện đã xảy ra trong thành mấy bữa nay.” Nhưng Ngài không vội nản lòng, và khiêm tốn tiếp tục gợi chuyện: “Chuyện gì vậy?” (c.19). Ngài làm như không biết để hai ông có cơ hội bày tỏ nỗi đau của mình.

3. Chúa Giêsu lắng nghe (cc. 19-24)

Ngài lắng nghe nỗi đau của hai ông. Thầy Giêsu của họ là một ngôn sứ đầy uy quyền của Thiên Chúa, vậy mà Thầy lại bị đóng đinh như một người bị Thiên Chúa nguyền rủa. Đây là điều các ông không thể nào hiểu nổi, khiến các ông rơi vào thất vọng: “Trước đây chúng tôi vẫn hy vọng rằng chính Người là Đấng cứu chuộc Ítraen”(c. 21). Hai ông còn kể chuyện các phụ nữ trong nhóm của họ ra thăm mộ. Nhưng xem ra họ không tin vào những điều các bà này nói (cc. 22- 23). Mất hy vọng vào Thiên Chúa, mất niềm tin vào con người. Hai môn đệ đã bày tỏ nỗi lòng cho một người ngoài cuộc, một người lạ tình cờ gặp trên đường.

Thầy Giêsu không ngắt lời họ. Ngài thinh lặng lắng nghe để họ cởi mở nói cho hết. Cởi mở là bước cần thiết để họ lấy lại niềm tin và hy vọng.

4. Chúa Giêsu giải thích, soi sáng bằng Kinh Thánh (cc. 25-27)

Sau khi đã lắng nghe, “bấy giờ” Đức Giêsu mới vén mở cho hai ông thấy ý nghĩa của mầu nhiệm đau khổ mà Thầy các ông phải chịu. Nhờ lắng nghe hai ông tâm sự, Đức Giêsu biết được đâu là mấu chốt của vấn đề, đâu là nút thắt cần phải gỡ. Và Ngài đã trả lời vào chính vấn đề hiện nay của họ. Họ bị sốc trước cuộc Thương Khó của Thầy mình, nên Ngài cho họ thấy đau khổ là nhịp cầu Đức Kitô phải đi qua để vào vinh quang (c. 28). Đây không phải là một tai họa do con người hay do Thiên Chúa chúc dữ. Đức Giêsu đã dùng Kinh Thánh để giúp các ông hiểu rằng con đường Thầy các ông đi nằm trong chương trình của Thiên Chúa. Sau này, các ông nhớ lại giây phút ấy: “Dọc đường, khi Người nói chuyện và cắt nghĩa Kinh Thánh cho chúng ta, trái tim chúng ta đã chẳng bừng cháy lên sao?” (c. 32). Như thế, Đức Giêsu chẳng những soi sáng cho trí tuệ để hiểu, Ngài còn làm ấm lại trái tim đã ra nguội lạnh của hai người. Tình yêu đã trở lại.

5. Chúa Giêsu đồng bàn với hai môn đệ (cc. 28-31)

Đức Giêsu giả vờ muốn đi xa hơn để họ có tự do mời Ngài. Thật vậy, họ đã bắt đầu thấy thích người khách lạ này nên nài ép Ngài ở lại với họ, và mời Ngài dùng bữa. Chính lúc Ngài bẻ bánh, thì mắt họ nhận ra Ngài. Kinh nghiệm của hai môn đệ Emmaus cũng là kinh nghiệm của chúng ta. Lúc ta tưởng Ngài vắng mặt, thì thật ra Ngài đang ở bên. Lúc ta nhận ra Ngài ở bên, thì Ngài lại biến mất. Nhưng chính lúc Ngài biến mất, ta lại thấy Ngài ở gần bên. Ngài đến lúc ta không ngờ. Ngài đi mà ta không giữ lại được. Ngài ở lại với ta, ngay cả khi ta không thấy Ngài nữa. Cuối cùng, hai môn đệ đã lấy lại được niềm tin, yêu, và hy vọng đã mất.

Khi suy niệm đoạn Tin Mừng nổi tiếng trên đây, chúng ta đã thấy đôi nét của công việc Đồng Hành Thiêng Liêng, đặc biệt với giới trẻ. Chúa Giêsu phục sinh đã đồng hành, cùng đi với hai môn đệ theo nghĩa đen, trên con đường từ Giêrusalem về Emmaus. Đây đúng là một đồng hành thiêng liêng, vì vấn đề được trao đổi có tính thiêng liêng. Hầu chắc hai môn đệ cũng là người trẻ. Chúa Giêsu là mẫu mực cho những nhà đồng hành. Các vị đồng hành có thể học tập được nhiều điều nơi Ngài. Tập đến với tha nhân và cùng đi với họ như một người bạn, tập gợi chuyện cho họ nói, tập lắng nghe, tập soi sáng vấn đề bằng Lời Chúa, và cùng chia sẻ bữa ăn với họ.

Hôm nay vẫn có nhiều bạn trẻ đang lê gót về Emmaus. Họ đang buồn và đang cần những người đồng hành.

II. ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG LÀ GÌ?

Đồng hành thiêng liêng (spiritual accompaniment) là một lối nói mới thay cho lối nói được dùng trước đây: linh hướng (spiritual direction). Lối nói mới này cũng phản ánh một cái nhìn mới. Khi nói đến linh hướng, người ta dễ nghĩ đến chuyện một vị linh hướng hướng dẫn một người thụ hướng trong đàng thiêng liêng. Khi linh hướng, vị linh hướng thường được coi là người “thay mặt Thiên Chúa dẫn dắt một tập thể hay cá nhân ngang qua sự chỉ đạo một chiều, mà ít để ý đến tác động của Thánh Thần nơi tâm hồn người thụ hướng hay khả năng của người ấy trực tiếp mở ra với Thánh Thần”[1] Còn trong đồng hành thiêng liêng, vị đồng hành cũng giúp đỡ một người khác, nhưng là giúp người đó nhận ra hoạt động của Thiên Chúa trong đời người ấy. Như thế có thể nói, vai trò của vị đồng hành thu hẹp hơn vì có nhân vật thứ ba hiện diện, đó là Chúa Thánh Thần. Đây mới là nhân vật chính. Đây mới là “Thầy dạy đích thực và tối thượng” mà cả vị đồng hành lẫn người được đồng hành đều phải lắng nghe và vâng phục trên con đường cùng nhau tìm kiếm Ý Thiên Chúa[2]. Đời con người là một cuộc hành trình dài, Thiên Chúa vẫn ngỏ lời với từng người cách riêng tư kín đáo trong mọi thời điểm và biến cố. Người đồng hành giúp tôi nhận ra và đáp lại tiếng Chúa nói riêng với lòng tôi, cũng như giúp tôi thực thi những đòi hỏi của Chúa.

III. HÌNH ẢNH CỦA NGƯỜI ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

Trong Tông huấn Niềm Vui của Tin Mừng (2013), Đức Thánh Cha Phanxicô viết về đồng hành như sau: “Trong thế giới chúng ta, các mục tử có chức thánh và các nhà hoạt động mục vụ khác có thể làm cho hương thơm của một Đức Kitô gần gũi và cái nhìn thân mật của Ngài trở nên hiện thực. Hội Thánh sẽ phải khai tâm mọi người – linh mục, tu sĩ và giáo dân – trong “nghệ thuật đồng hành” này. Nó dạy chúng ta biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác” (169).

Như thế theo Đức Thánh Cha, vị đồng hành thiêng liêng là những mục tử có chức thánh và những người làm công tác mục vụ, các tu sĩ và giáo dân. Theo ngài, nét đầu tiên và quan trọng của vị đồng hành thiêng liêng là sự gần gũi của người đó với Đức Kitô. Vì nếu không gần gũi với Đức Kitô thì vị đồng hành cũng không thể làm người khác gần gũi với Đức Kitô được. Vị ấy phải gần đến mức hương thơm của Đức Kitô thấm vào mình và hồn nhiên tỏa hương thơm ấy đến nỗi người được đồng hành cũng cảm được. Vị đồng hành phải có kinh nghiệm bắt gặp được cái nhìn thân mật của Đức Kitô trong cầu nguyện, rồi được ghi dấu sâu đậm và được biến đổi bởi cái nhìn ấy, để rồi qua cái nhìn của vị đồng hành, người khác bắt gặp được cái nhìn thân mật của chính Đức Kitô.

Tuy nhiên, có một đời sống thân thiết và thiết thân với Đức Kitô cũng chưa đủ. Đức Thánh Cha còn coi đồng hành là một nghệ thuật cần được trau dồi, tập luyện, “nghệ thuật đồng hành.” Vị đồng hành cần có hiểu biết về tâm lý đầy đủ để nắm được tiến trình phát triển và trưởng thành của người trẻ. Lắm khi vị đồng hành cũng phải nhìn nhận giới hạn của mình trước một trường hợp khá nghiêm trọng, để giới thiệu người bạn trẻ đó cho một vị khác có chuyên môn hơn về tâm lý trị liệu. Ngay cả vị đồng hành cũng cần được đồng hành và được linh hướng. Vị đồng hành nào mà không ý thức được Thánh Thần đang làm việc trong đời mình, thì cũng chẳng có khả năng giúp các bạn trẻ nhận ra hoạt động của Thánh Thần trong đời họ. “Không phải cứ linh mục hay tu sĩ là có thể đồng hành hay linh hướng một cách phù hợp được. Ai muốn làm đồng hành hay linh hướng, cần được huấn luyện chuyên nghiệp và đào luyện liên tục.”[3] Vị đồng hành cần biết mình, biết khả năng và giới hạn của mình, nhờ đó dễ giúp bạn trẻ tiến bước trên hành trình đức tin của họ.

IV. ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG KHI NÀO?

Khi nghĩ đến linh hướng, người ta thường nghĩ đến chuyện vị linh hướng ngồi với người thụ hướng, trong một chiếc phòng ấm cúng, đôi khi có một ngọn nến cháy lung linh trên bàn. Đồng hành thiêng liêng với người trẻ không nhất thiết phải theo hình thức đó. Đức Giêsu đã đồng hành trong thực tế với hai môn đệ Emmaus, khi đi chung với họ mấy cây số. Thánh Luca nhấn mạnh chuyện Ngài gặp họ “dọc đường” (Lc 24,32.35). Trong hình thức đơn sơ nhất, đồng hành có thể diễn ra bất cứ nơi nào, lúc nào thuận tiện, khi nào có cuộc gặp gỡ bề sâu giữa vị đồng hành và người bạn trẻ. Có khi chỉ qua ít phút trao đổi cũng đủ làm cho vấn đề được soi sáng. Dĩ nhiên một cuộc gặp gỡ có thể kéo dài lâu giờ, và đôi khi cần có nhiều lần gặp gỡ mới mong thấy được ý Chúa. Thường cuộc gặp gỡ diễn ra giữa hai người, vị đồng hành và người bạn trẻ. Nhưng cũng có khi vị đồng hành phải giúp đỡ cho cả một nhóm, có cùng mối quan tâm thiêng liêng, có cùng mục tiêu phụng sự Chúa và Giáo Hội. Đồng hành cho một nhóm bạn trẻ là giúp nhóm ấy có tương quan thân thiết với Chúa Giêsu, trưởng thành trong ba nhân đức tin cậy mến, và trở nên những người có khả năng làm chứng cho Chúa trong môi trường mình đang sống.

V. LẮNG NGHE TRONG ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

Như ta thấy trong trình thuật Emmaus, trước khi Đức Giêsu gỡ rối cho hai môn đệ, Ngài đã chăm chú lắng nghe họ, không ngắt lời. Lắng nghe là phần không thể thiếu trong đồng hành thiêng liêng.

Đức Thánh Cha đã trình bày về lắng nghe như sau: “Chúng ta cần phát triển nghệ thuật lắng nghe, chứ không chỉ là nghe suông. Khi giao tiếp, lắng nghe là mở lòng để có được sự gần gũi mà thiếu nó thì không thể có sự gặp gỡ thiêng liêng. Lắng nghe giúp chúng ta tìm ra cử chỉ và lời nói thích hợp để chứng tỏ chúng ta không chỉ là những khách qua đường. Chỉ khi có thái độ lắng nghe với lòng tôn trọng và cảm thông, chúng ta mới có thể bước vào con đường tăng trưởng đích thực và đánh thức một khát vọng về lý tưởng Kitô giáo: ước muốn đáp lại trọn vẹn tình yêu của Thiên Chúa và làm cho những gì Ngài đã gieo trong cuộc đời chúng ta sinh hoa kết quả.” (Niềm Vui Tin Mừng, 171). Như thế Đức Thánh Cha đã coi lắng nghe là một nghệ thuật. Để nắm được nghệ thuật này, ngài đòi vị đồng hành phải mở lòng, chứ không chỉ mở tai. Mở lòng để có thể nghe được những điều mà tai không nghe được, những điều nằm phía sau hay phía dưới điều người kia nói. Ngài còn cho thấy hai thái độ cần có khi lắng nghe, đó là lòng tôn trọng và cảm thông. Tôn trọng vì biết những gì mình đang nghe là những điều thánh thiêng, thấy Thiên Chúa đang chạm vào chỗ sâu thẳm của lòng người, chờ mong người ấy mở ra và đáp lại. Đức Thánh Cha đã diễn tả thái độ tôn trọng như sau: “chúng ta cần biết cởi dép khi đứng trên nền đất thánh thiêng của người khác” (Niềm Vui Tin Mừng 169). Thông cảm vì biết con người có những giới hạn về nhiều mặt, mỗi người có những giới hạn riêng, nên không vội vã xét đoán hay kết án. Vì hoàn cảnh mỗi người mỗi khác, vị đồng hành phải đặt mình vào trong hoàn cảnh của người đối diện, để thực sự hiểu hết được câu chuyện đời người ấy. Bây giờ người ta dùng lối nói “lắng nghe thấu cảm” (empathetic listening) để diễn tả lối lắng nghe này.

Có người chia ra ba loại lắng nghe.

1. LOẠI LẮNG NGHE THỨ NHẤT là chú tâm vào những gì giới trẻ nói để tìm ra những vấn đề của họ, những nhu cầu của họ, những mối bận tâm của họ. Có những bạn trẻ mất đức tin vì không ai gỡ cho mình một khúc mắc đã có từ lâu. Đức tin vẫn cần sự ưng thuận của trí khôn nữa.

Lắng nghe là cách thức để khám phá những câu hỏi của người trẻ, mà chúng ta có thể trả lời với giáo huấn của Giáo Hội. Theo tôi, loại lắng nghe thứ nhất này không phải là không quan trọng, thậm chí đây là điều thường xảy ra. Nhiều người trẻ đến với vị đồng hành mà họ tin tưởng vì họ đang gặp vấn đề mà tự họ không giải quyết được. Có những vấn đề về đức tin, thí dụ về cách cầu nguyện, về bùa ngải, về một người bị quỷ ám, về làm sao biết được ý Chúa, đặc biệt trong việc chọn lựa ơn gọi. Có những vấn đề về luân lý, thí dụ như vấn đề quan hệ trước hôn nhân, thủ dâm, đồng tính… Cũng có cả những vấn đề có vẻ đời thường, thí dụ như chọn người bạn đời, chọn việc làm, giải quyết vấn đề trong gia đình… Người đồng hành được nghe những điều làm người trẻ nặng lòng. Có thể là một vấn đề rất khó giải quyết, những cũng có thể là một vấn đề quá đơn sơ và dễ dàng. Trong loại lắng nghe thứ nhất này, người bạn trẻ có vẻ thụ động để lắng nghe lời giải đáp từ người đồng hành. Họ sẽ sung sướng khi thấy vấn đề của mình được giải quyết ổn thỏa, nhận được ánh sáng để hiểu rõ hơn, hay thấy lương tâm thanh thản hơn trước chuyện đã qua. Cũng phải cho thấy giáo huấn của Chúa Giêsu hay của Giáo hội không phải là một áp đặt vô lý trên tự do con người, nhưng nhằm bảo vệ cho con người khỏi những trói buộc của tội lỗi.

Để có thể trả lời những vấn đề làm người trẻ bận tâm, những vấn đề thuộc đủ mọi lãnh vực, có tính thiêng liêng nhiều hay ít, vị đồng hành phải là người có kiến thức sâu rộng về nhiều mặt: về thần học, Kinh Thánh, về truyền thống linh đạo trong Giáo Hội, về tâm lý… Đức tin của bạn trẻ có thể bị rơi vào khủng hoảng chỉ vì không thấy Thiên Chúa là đấng toàn năng trước sự dữ đang xảy ra. Thiên Chúa cũng bị coi là Thiên Chúa vô cảm, không biết yêu thương, khi người trẻ hay gia đình của họ gặp nhiều thử thách quá sức chịu đựng. Như thế người đồng hành phải cho họ thấy khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa, một Thiên Chúa tôn trọng tự do con người, một Thiên Chúa chấp nhận cỏ lùng mọc chung với lúa tốt, một Thiên Chúa cho phép Xatan ảnh hưởng trên con người (SGLCG 760). Thập giá của Đức Giêsu, Con Thiên Chúa, là sự dữ lớn nhất mà Thiên Chúa cho phép xảy ra, để trao ban ơn cứu độ của Ngài qua cái chết thảm khốc của người Con Một. Nơi đây, tưởng như Thiên Chúa chịu thua lòng độc ác của loài người tội lỗi, tưởng như tử thần có khả năng nuốt chửng Đấng ban sự sống, Đấng là Sự Sống. Nơi đây tưởng như Thiên Chúa vắng mặt, thinh lặng hay khoanh tay. Nhưng chính qua thập giá Chúa Giêsu, Thiên Chúa cho thấy một Tình Yêu lớn lao (Ga 3,16), tình yêu mạnh hơn cái chết, khi cho Đức Giêsu được phục sinh. Mầu nhiệm thập giá giải quyết được nhiều khúc mắc trong đời sống đức tin của người trẻ. Hiểu biết về Kinh Thánh cũng cần cho vị đồng hành, vì thi thoảng có những câu lời Chúa đặt vấn đề cho bạn trẻ khiến họ bối rối. Vị đồng hành không cần phải có chuyên môn Kinh Thánh, nhưng phải có đủ khả năng để cho thấy câu lời Chúa đó nằm trong bối cảnh nào, được viết theo thể văn nào, nên thực sự nó mang ý nghĩa gì và phải áp dụng ra sao. Thí dụ như lời khuyên đưa má ra sau khi bị tát, hay phải yêu kẻ thù…

Hơn nữa, vị đồng hành còn phải thông thạo những vấn đề mà giới trẻ ngày nay đang đối diện, những điều làm họ say mê, và những điều bị họ coi là không hợp thời, những cám dỗ đang lôi kéo họ, và những lý do khiến họ rời xa Chúa và Giáo Hội. Những hiểu biết rành rẽ về người trẻ của vị đồng hành sẽ giúp cho cuộc đối thoại dễ dàng hơn. Không thể đồng hành với người trẻ nếu không biết khá rõ về vấn đề đồng tính, ngừa thai, phá thai, thủ dâm, phim sex, oral sex hay quan hệ trước hôn nhân; về hậu quả của chúng và về lý do tại sao Giáo Hội cấm đoán chúng.

2. LOẠI LẮNG NGHE THỨ HAI là nghe xem người trẻ nghĩ gì về Giáo Hội để biết Giáo Hội phải thay đổi như thế nào.

Có những người trẻ muốn được đồng hành để giải quyết những vấn đề của mình, nhưng cũng có một số ít người trẻ thao thức về sứ mạng của Giáo Hội. Họ thấy Giáo Hội có những bất toàn hay bất cập, chậm chạp trong việc đối diện và giải quyết những vấn đề cấp bách. Họ biết Giáo Hội có những vị lãnh đạo bất xứng, những lạm dụng về tiền bạc hay thân xác, những chia rẽ và bè phái, những quan liêu trong cách phục vụ, những chạy đua về tiếng tăm, vật chất, hưởng thụ… Không nên coi những người này là thành phần nổi loạn, chống đối Giáo Hội. Trái lại, vị đồng hành có thể nhận ra họ là những người mang nặng mối ưu tư về Giáo hội và nóng lòng muốn đóng góp phần của mình. Chấp nhận đối thoại thẳng thắn và tích cực lắng nghe, vị đồng hành có thể tìm thấy một người trẻ tích cực cộng tác với mình trên con đường canh tân bộ mặt Giáo Hội hay giúp Giáo Hội ứng phó với một tình huống khó khăn chưa từng thấy. Khiêm tốn lắng nghe một bạn trẻ, dù ý kiến người đó còn non nớt, nông cạn hay phiến diện, vị đồng hành cho thấy thái độ của Giáo Hội: đón nhận đóng góp của bất cứ ai có thiện chí với lòng biết ơn. Tinh thần sáng tạo của người trẻ, nhất là người trẻ trí thức, sẽ giúp cho Giáo Hội giữ được vẻ tươi mới, hợp thời, và khiến Giáo Hội hấp dẫn những người trẻ khác.

3. LOẠI LẮNG NGHE THỨ BA mà Thầy Alois, tu viện trưởng cộng đoàn Taizé ở Pháp đang thực hành, rất gần với điều chúng ta đã nói đến trên đây về đồng hành thiêng liêng.

Tu viện Taizé ở Burgundy nổi tiếng vì thu hút những người trẻ, kể cả những người không bao giờ đi nhà thờ. Thầy Alois giải thích rằng những người làm việc ở Taizé là những người biết lắng nghe người trẻ để khám phá ra nơi Thánh Linh đang hoạt động trong cuộc đời họ, ngay cả trong cuộc đời những người không coi mình là tín hữu. Công việc của những người lắng nghe này là không áp đặt ý tưởng của họ lên giới trẻ, mà là giúp các bạn trẻ thấy sự hiện diện của Thánh Thần trong cuộc đời họ. Thầy Alois xác tín rằng nếu Thiên Chúa là tình yêu, thì nơi nào có tình yêu và lòng trắc ẩn, nơi nào có khát khao công lý và sự hòa giải, thì Thiên Chúa hiện diện ở đó, ngay cả trong những người chưa được rửa tội. Alois tin rằng những người trẻ đã tràn đầy Thánh Thần rồi. Họ chỉ cần chúng ta giúp đỡ để nhận ra điều đó thôi.

Lối đồng hành trên đây của Taizé nhấn mạnh đến việc vị đồng hành không hướng dẫn người trẻ đi tìm ý Chúa ở ngoài cuộc đời của họ, nhưng hướng dẫn họ tìm ý Chúa trong cuộc đời của họ. Không quay ra, nhưng quay vào trong lòng mình. Điều này giả thiết là Thánh Thần đã hiện diện và hoạt động trong cuộc đời mỗi bạn trẻ, bất chấp họ là ai, họ có phải là kitô hữu không, hay có phải là kitô hữu ngoan đạo hay không. Đồng hành là giúp họ nhận ra sự hiện diện và hoạt động ấy, dù còn mờ nhạt và kín đáo. Khi người trẻ khám phá ra điều đó, họ sẽ ngỡ ngàng và reo vui, vì bấy lâu họ tưởng đời họ là mảnh đất bỏ hoang, cằn cỗi, không người canh tác. Họ ngây ngất khi vị đồng hành cho thấy Thánh Thần hay Thiên Chúa đã có mặt cả trong lúc họ cô độc hay tự cô lập mình, đã tế nhị nâng đỡ họ cả trong lúc họ tưởng mình phải một mình chèo chống. Giúp bạn trẻ nhìn lại đời mình, thấy đời mình dưới một ánh sáng mới, thấy Thánh Thần luôn đồng hành với mình: đó là việc của người đồng hành. Để làm được việc đó, vị đồng hành cần có nhiều kinh nghiệm thiêng liêng, có khi là kinh nghiệm của chính cuộc đời mình. Như Simôn và người môn đệ Chúa yêu ra thăm mộ, dù ngôi mộ tối tăm u ám, họ vẫn nhìn thấy tấm khăn che đầu được xếp gọn gàng và được để sang một bên. Chỉ cần một chi tiết nhỏ trong cuộc đời đầy vấp ngã của người bạn trẻ, cũng đủ làm sáng lên tất cả những gì tưởng như là đổ vỡ hoàn toàn. Vị đồng hành phải là người nhận ra cái biến cố tưởng như vô nghĩa đó, cái may mắn tình cờ đó, cái cố gắng nhỏ nhoi đó của tình yêu khi lòng đã muốn buông xuôi, đều nằm trong sự quan phòng của Thiên Chúa, từ đó giúp bạn trẻ thấy chẳng có gì phải thất vọng hay tuyệt vọng. Cơ hội để làm lại vẫn còn. Niềm tin không bị mất…

Nhà văn Antoine de Saint-Exupéry có viết: “Đừng đi trước tôi, tôi không đi theo đâu. Đừng đi sau tôi, tôi không dẫn đường đâu. Hãy đi bên tôi và là bạn của tôi.” Vị đồng hành thật là một người bạn, bạn đường của người bạn trẻ, dù vẫn là người thầy.

VI. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỒNG HÀNH THIÊNG LIÊNG

Nếu vị đồng hành chấp nhận dành thì giờ để đồng hành với bạn trẻ, và nếu người bạn trẻ cũng có ý muốn gặp gỡ vị đồng hành, hẳn cả hai đều hướng đến một mục tiêu nào đó. Dù cuộc gặp gỡ như thế nào đi nữa, mục tiêu vẫn là làm sao khám phá ra ý Chúa cho cuộc đời người bạn trẻ và giúp họ hạnh phúc sống theo ý Chúa. Mỗi bạn trẻ có một hoàn cảnh riêng, một ơn gọi riêng từ Thiên Chúa. Chỉ khi chọn đúng điều Chúa muốn, người đó mới được hạnh phúc thật sự. Nếu tôi phải đồng hành với một bạn trẻ đồng tính, làm sao tôi giúp bạn ấy đón nhận khuynh hướng tính dục của mình? Làm sao tôi giúp bạn ấy cắt đứt với những tương quan không phù hợp trước đây? Và hơn nữa, làm sao tôi cho thấy bạn ấy hoàn toàn có khả năng là một người Công giáo tốt lành, hạnh phúc và triển nở ngay khi bạn ấy vẫn là người đồng tính.

Vị đồng hành là người bạn đường có nhiệm vụ đi chung và giúp người bạn trẻ nhận ra những dấu hiệu cho thấy ý Chúa. Vị đồng hành không áp đặt ý của mình lên người bạn trẻ, nhưng tôn trọng những suy nghĩ và tình cảm của người bạn này. Như thế vị đồng hành cần có thái độ “bình tâm” (indifference) như lối nói của thánh I-nha-xi-ô trong Linh Thao. Bình tâm ở đây không phải là bình tĩnh hay lãnh đạm lạnh lùng, mà là thái độ khiêm tốn của người đang tìm kiếm chứ chưa tìm thấy. Chính vì thế bình tâm là tạm thời không nghiêng hơn về chọn lựa nào cả. Một trong những nguy hiểm của vị đồng hành là vội vã cho rằng mình đã thấy hướng đi cho người bạn trẻ rồi, không cần phải tìm kiếm thêm nữa. Như thế vị đồng hành quên rằng mình vẫn đang trong hành trình cùng tìm kiếm với người bạn trẻ này. Đồng hành là lắng nghe những chuyển động âm thầm của Thánh Linh đang tác động nơi tâm hồn người bạn trẻ. Có khi người đồng hành đành phải bỏ đi ý nghĩ của mình sau khi lắng nghe người trẻ, đơn giản là vì, qua cuộc trò chuyện, họ cảm nhận tác động của Thánh Linh lôi cuốn mãnh liệt một người trẻ bước theo con đường rất riêng tư, ít người đi.

Vị đồng hành và người bạn trẻ cùng nhau tìm ý Chúa. Người bạn trẻ kể cho vị đồng hành nghe những biến cố đã và đang xảy ra trong đời mình, cũng như những chuyển động nội tâm của mình, nói theo kiểu của Linh Thao là những “an ủi” hay “sầu khổ”. Vị đồng hành lắng nghe, cảm thông, và cùng với người bạn trẻ “phân định” xem đâu là tác động của Thiên Chúa hay Ác thần. Vị đồng hành phải là người có kinh nghiệm về phân định (discernment), thậm chí nhạy bén trong việc nhận ra cả chuyện quỷ dữ giả dạng thần lành, lôi kéo người ta đi theo con đường của nó, trông có vẻ rộng và tốt, nhưng cuối cùng lại dẫn đến diệt vong (Mt 7,13-14). Để có kinh nghiệm về phân định, vị đồng hành cần nắm vững các nguyên tắc, nhưng cũng cần trải qua những kinh nghiệm thương đau nơi chính bản thân mình. Thánh I-nha-xi-ô chỉ đưa ra những nguyên tắc để phân định xem đâu là tác động của Chúa, đâu là cám dỗ của quỷ, sau khi chính Ngài đã có nhiều kinh nghiệm cá nhân về việc bị ma quỷ đánh lừa, được kể trong sách Tự Thuật.[4]

Đồng hành thiêng liêng là một tiến trình huấn luyện cần thiết giúp người trẻ trưởng thành trong đời sống kitô. Người trẻ bước vào đời, sống đức tin của mình với bao câu hỏi và thắc mắc mà tự mình không sao trả lời được, với bao cám dỗ và vấp ngã thấy khó tự mình đứng lên. Có được một người đồng hành với mình, hiểu mình, gần gũi mình như một người bạn, giỏi hơn mình như một người thầy: đây thật là một ơn phúc. Việc đồng hành trước hết giúp người trẻ giữ vững đức tin giữa những sóng gió của lạc thuyết, sau nữa làm đức tin ấy mạnh mẽ và phát triển đến tột cùng. Nếu vị đồng hành là một người say mê Giêsu và có đời sống gương mẫu, thì chắc chắn người trẻ ấy sẽ trưởng thành trong ơn gọi kitô và có khả năng làm chứng về đức tin của mình trong mọi môi trường sống. Nhờ quen quay vào trong để nhận ra con người nội tâm, quen có kinh nghiệm gặp gỡ Thiên Chúa một cách cá vị, và nhờ quen với việc phân định để tìm ý Chúa, người bạn trẻ sau này có thể đứng vững và dễ dàng tìm thấy cách thức mình phải sống đức tin trong hoàn cảnh riêng của mình, dù khó khăn đến đâu.

Vị đồng hành là một người bạn gần gũi và hiểu được những sâu kín của lòng người bạn trẻ, nên có thể nảy sinh tình cảm giữa hai người. Không phải ai cũng bắt chước được tình bạn linh hướng giữa thánh Phanxicô và thánh nữ Clara, hay thánh Têrêsa và thánh Gioan Thánh Giá. Chính vì thế vị đồng hành cần giữ khoảng cách và thường xuyên xét mình để nhận ra những thay đổi nơi tình cảm của mình, và có thể cả nơi tình cảm nơi người bạn trẻ. Cha De Guibert, S.J. khuyên: “Nếu vì tình cảm mà vị linh hướng cảm thấy ngại tiếp tục đồng hành, thì hãy tìm cơ hội để chuyển đương sự đến một vị linh hướng khác.” Bầu khí của cuộc gặp gỡ giữa vị đồng hành và người bạn trẻ phải là bầu khí thiêng liêng, đáng tin cậy, và an toàn.

KẾT: Đồng hành với giới trẻ là việc mục vụ quan trọng. Để có một thế hệ kitô hữu trẻ trung, trưởng thành, năng động, không thể nào không có bóng dáng của những vị đồng hành đứng phía sau. Nhu cầu có những vị đồng hành cho giới trẻ là nhu cầu có thực và khẩn trương, nếu không chúng ta sẽ chỉ lôi kéo được một lớp trẻ đông đảo, với những sinh hoạt vui vẻ ồn ào bên ngoài, nhưng lại thiếu sự sâu lắng bên trong để tĩnh lặng mà gặp Đấng Vô Hình. Mặt khác, có được một vị đồng hành tốt lại không phải là chuyện dễ dàng. Đồng hành là một ơn gọi, một “nghệ thuật” như lời Đức Thánh Cha Phanxicô nói. Cần phải “khai tâm”, phải tốn công huấn luyện các vị đồng hành. Các linh mục, tu sĩ là những người dễ có được nền huấn luyện cần thiết để trở nên một vị đồng hành: đời sống thiêng liêng, nhân bản; kiến thức thần học, Kinh Thánh, tâm lý và cả kinh nghiệm trong việc sống với giới trẻ, biết sử dụng ngôn ngữ của họ. Giáo dân cũng có thể đồng hành với người trẻ, miễn là hội đủ những điều kiện cần thiết. Dù là ai đi nữa, vị đồng hành cũng phải là người kết hiệp sâu xa với Thiên Chúa, nhạy bén với tác động nhỏ của Thánh Linh, có phán đoán chín chắn và quân bình, có sự khiêm tốn dễ thương để hạ mình tiếp xúc với người trẻ, dám dành thời giờ để lắng nghe chuyện tưởng như không quan trọng.

Làm thế nào để duy trì sức sống của Giáo Hội? Cần thế hệ trẻ. Nếu chúng ta để giới trẻ bơ vơ, nếu họ không thấy ai đáng tin để họ có thể tâm sự và đặt câu hỏi, mong một câu trả lời, nếu họ không thấy ai coi họ là quý và dám dành giờ ngồi bên họ… thì tương lai của Giáo Hội sẽ là những nhà thờ vắng bóng người trẻ, xa lạ với đức tin và lạnh lùng với giáo sĩ. Chỉ mong Giáo Hội Việt Nam, nhờ ơn Chúa nhà thờ và hội đoàn vẫn còn thu hút người trẻ, biết nắm lấy cơ hội đang có, để đồng hành với người trẻ hôm nay.

Trích Tập san Hiệp Thông / HĐGM VN, số 118 (tháng 5 & 6 năm 2020)

[1] Trương Thanh Tùng, “Việc Phân Định của Vị Linh Hướng trong Đồng Hành và Trợ Giúp Phân Định,” trong Phân Định Thiêng Liêng, Tạp chí Linh Đạo I-Nhã (nxb Đồng Nai, 2019) 279.

[2] Ibid., 281.

[3] Một tài liệu chưa xuất bản của Julio Giulietti, S.J. “Ai dám dạy dỗ, thì không bao giờ tránh học hỏi” (Quicumque audet docere, numquam desistat discere).

[4] Trong bài này tôi không đi sâu vào vấn đề “phân định”. Muốn nghiên cứu thêm, xin đọc cuốn Phân Định Thiêng Liêng do Tạp Chí Linh Đạo I-Nhã ấn hành, nhà xuất bản Đồng Nai, 2020.

Nguồn: https://hdgmvietnam.com/chi-tiet/mot-chia-se-ve-dong-hanh-thieng-lieng-voi-gioi-tre-40452