Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giải đáp thắc mắc. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Giải đáp thắc mắc. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 4, 2020

Ủy ban Phụng Tự giải thích về rước Mình Thánh Chúa trong hoàn cảnh hiện nay


TM. Ủy ban Phụng tự / HĐGMVNLinh mục Giuse Phạm Đình Ái, SSS
WHĐ - Trong thời gian đại dịch hiện nay, Giáo hội tại Việt Nam và rất nhiều nơi trên thế giới phải tạm dừng các cử hành cộng đồng và hạn chế tập trung. Ở hoàn cảnh này, các tín hữu phải tham dự trực tuyến các cử hành phụng vụ và không thể rước Mình Thánh Chúa như khi tham dự Thánh lễ chung cùng cộng đoàn như trước đây. Với những câu hỏi và ưu tư về cử hành và nhận lãnh Bí tích Thánh Thể trong hoàn cảnh hiện nay, Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam giải thích như sau:
1. Thực hành “rước lễ thiêng liêng” là gì?
Rước lễ thiêng liêng là một thực hành đạo đức của người Kitô hữu đã có từ lâu đời (thế kỷ XII) và trải qua hàng thế kỷ cho đến nay, trong đó, theo mô tả của thánh Tôma Aquinô, họ “ước ao cháy bỏng lãnh nhận Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể và trìu mến ôm lấy Người” vào lúc và trong hoàn cảnh không thể hiệp thông Thánh Thể cách Bí tích được (rước lễ/ hiệp lễ Bí tích). Rước lễ thiêng liêng còn được gọi là rước lễ nội tâm, rước lễ trong lòng, rước lễ thần bí hay rước lễ vô hình vì không có dấu chỉ nào rõ rệt và hữu hình (có thể nhìn thấy) như trong hiệp lễ Bí tích.
Thực hành rước lễ thiêng liêng được sử dụng chủ yếu trong hai trường hợp: [i] Chuẩn bị cho việc tiến đến bàn thánh mà lãnh nhận Thánh Thể trong tương lai (Trent, Sess. 13, c. 8); [ii] Không thể rước lễ Bí tích được do những ngăn trở về thể lý (già yếu, đau bệnh), luân lý (tội trọng, mắc vạ tuyệt thông, mắc một hình phạt giáo luật, không giữ chay Thánh Thể) hay hoàn cảnh (chiến tranh, dịch bệnh, bị bách hại).
Không những cho phép các tín hữu rước lễ thiêng liêng khi tham dự Thánh lễ trực tuyến, mà Hội Thánh còn mong muốn cho các tín hữu có lòng ao ước rước lễ thiêng liêng, bất cứ lúc nào trong ngày khi không thể rước lễ thực thụ, với những lời cầu nguyện riêng của mình hay với các lời kinh truyền thống trong Hội Thánh, dẫu rằng hình thức này không thể sánh ví được với hành động đón nhận chính Chúa Giêsu Thánh Thể vào tâm hồn mình cũng như ít toàn hảo theo cách Bí tích hơn là rước lễ Bí tích.
Đối với các Bí tích nói chung và Bí tích Thánh Thể nói riêng, tín hữu nào đã chuẩn bị tâm tình xứng đáng, thì tuy không lãnh Bí tích thực sự họ vẫn nhận được những công hiệu của Bí tích đó do lòng ước ao muốn lãnh nhận và sẽ nhận lãnh khi có cơ hội (Summa Theologica III, q.80, a.11,c.). Đó là lý do ngay từ thời cổ đại, Giáo hội đã công nhận những người tử đạo dù chưa được Rửa tội nhưng cũng đã trở thành Kitô hữu rồi. Mặc dù thân xác họ chưa lãnh nhận nước Rửa tội, nhưng họ đã lãnh Bí tích Rửa tội bằng niềm khao khát. Ngoài ra, mỗi khi thực hiện hành vi rước lễ thiêng liêng, tín hữu sẽ nhận được ơn xá từng phần (x. Enchiridion Indulgentiarum (1999), “Concessiones” 8, §2, 1°). Đối với nhiều vị thánh, các ngài không thỏa mãn ngay cả khi đã lãnh nhận Thánh Thể mỗi ngày trong Thánh lễ. Vì thế, việc rước lễ thiêng liêng trở thành một phần thiết yếu trong cuộc sống của họ vì giúp lôi kéo họ thường xuyên đến gần sát với Chúa hơn.
Liên quan đến thực hành này, xin nhắc lại ở đây lời của thánh Giáo hoàng Gioan Phaolô II trong Thông điệp Ecclesia de Eucharistia (17/04/2003):
Bí tích Thánh Thể được xem như chóp đỉnh của tất cả các Bí tích, vì Bí tích Thánh Thể luôn thể hiện một cách hoàn hảo nhất sự hiệp thông với Thiên Chúa Cha, nhờ sự đồng hình dạng với Chúa Con duy nhất bởi tác động của Chúa Thánh Thần. Với một niềm tin sâu sắc, một trong những tác giả thời danh của truyền thống Byzantin, đã diễn tả chân lý này khi bàn đến Bí tích Thánh Thể: “Như thế mầu nhiệm này thật hoàn hảo, khác với mọi nghi thức khác, và nó dẫn thẳng đến chóp đỉnh của mọi ơn ích, vì đó cũng là cứu cánh tuyệt đỉnh của mọi cố gắng con người. Bởi vì chúng ta gặp chính Thiên Chúa trong mầu nhiệm ấy, và chính Thiên Chúa kết hợp với chúng ta bằng một mối liên kết hoàn hảo nhất.”. Chính vì thế mà vun trồng trong các tâm hồn niềm ao ước Bí tích Thánh Thể triền miên là điều rất thích hợp. Cũng chính vì thế đã khai sinh một cách thức “rước lễ thiêng liêng”, được phổ biến tốt đẹp từ nhiều thế kỷ trong Giáo Hội và rất được các bậc thầy thánh thiện về đời sống thiêng liêng khuyến khích. Thánh Têrêsa Giêsu đã viết: “Khi bạn không thể rước lễ trong Thánh lễ được thì bạn hãy rước lễ thiêng liêng vậy, vì đó là một cách thức mang lại nhiều lợi ích [...]; bằng cách đó bạn ghi khắc trong lòng tình yêu sâu xa với Chúa chúng ta” (số 34).
2. Khi hiện diện trong nhà nguyện có lưu giữ Mình Thánh Chúa, có được rước Mình Thánh đang lưu giữ nơi Nhà tạm lúc tham dự Thánh lễ trực tuyến không?
Không được. Lý do là vì có sự khác biệt rõ rệt về cả giá trị lẫn thực tại giữa hành vi tham dự Thánh lễ thực sự và tham dự Thánh lễ trực tuyến:
[1] Tham dự Thánh lễ trực tuyến chỉ là phương thế để kết hợp với Chúa Kitô, là sự thông hiệp Thánh lễ cách thiêng liêng qua phương tiện truyền thông [truyền thanh và truyền hình] vốn được khuyến khích cho những trường hợp vì một lý do nào đó (già yếu, đau bệnh) hay trong một hoàn cảnh nào đó (chiến tranh, dịch bệnh, bị bách hại) mà không thể hiện diện cách thể lý tại nơi cử hành Thánh lễ (nhà thờ/ nhà nguyện), tức là tín hữu không thể đến nhà thờ/ nhà nguyện để tham dự vào cử hành Thánh Thể cùng với cộng đoàn Giáo hội sống động ở đó (GLCG, số 1322). Đây là lý do mà ĐGH Bênêđictô XVI viết rằng: “Về giá trị của việc tham dự Thánh lễ bằng phương tiện truyền thông, những người nghe truyền thanh hay xem truyền hình nên biết rằng, theo những hoàn cảnh bình thường, họ không chu toàn luật buộc tham dự Thánh lễ. Những hình ảnh sống động có thể cho thấy đúng sự kiện, nhưng không thật sự tái diễn sự kiện ấy. Trong khi việc những người cao tuổi và bệnh nhân tham dự Thánh lễ qua truyền thanh và truyền hình là một điều rất đáng khen, không thể nói như vậy đối với những người nghĩ rằng các phương tiện truyền thông miễn cho họ khỏi đến nhà thờ và thông phần với cộng đoàn Thánh Thể giữa lòng Hội Thánh sống động” (Tông huấn Sacramentum Caritatis, số 57). Trả lời cho một câu hỏi tương tự như vấn nạn trên, cha Edward MacNamara cho rằng: “Trong tình trạng cách ly như hiện nay, tham dự Thánh lễ trực tuyến là rất tốt […]. Đó là một thời khắc cùng với vị chủ tế cầu nguyện, suy niệm Lời Chúa, và thực hiện một hành động dâng hiến thiêng liêng và rước lễ thiêng liêng với hy tế Thánh Thể. Tuy nhiên, như thế không phải là tham gia Thánh lễ thật sự, vốn đòi buộc phải có sự hiện diện hữu thể, và như vậy, không phải là thực hành phụng vụ đúng đắn khi cho rước lễ trong một Thánh lễ trực tuyến” (Edward MacNamara, “Distribution of Communion During a TV Mass”, từ Zenit.org [07/04/2020]).
[2] Tham dự Thánh lễ trực tuyến là một thực hành đạo đức chứ không phải là cử hành phụng vụ. Một việc đạo đức thì không bao giờ gắn với hiệp thông Thánh Thể cách Bí tích. Trong khi đó, Giáo hội cho phép và khuyến khích các tín hữu rước Chúa Kitô “hiện diện cách đích thực, chân thực, và theo bản thể trong Bí tích Thánh Thể” khi tham dự thực sự vào cử hành phụng vụ Thánh lễ như một sự tham dự Thánh lễ cách toàn hảo hơn vào Hy tế Thánh Thể để họ có thể tiếp nhận một cách dồi dào hơn hoa trái của Hy lễ Cực Thánh” (x. Mediator Dei, 118; Indulgentiarum Doctrina, 18-19; Hiến chế Phụng Vụ Thánh, 55; GL 918; Qui chế tổng quát Sách Lễ Rôma, Lời mở đầu, số 13). Còn bên ngoài phụng vụ Thánh lễ, trong những hoàn cảnh đặc biệt, tín hữu có thể rước lễ Bí tích trong 2 trường hợp cử hành phụng vụ sau: [i] Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ; và [ii] Nghi thức thăm viếng và đưa Mình Thánh bệnh nhân (x. GL 918; Nghi thức Hiệp lễ và Tôn thờ Thánh Thể ngoài Thánh lễ, 16-50; Nghi thức Xức dầu Bệnh nhân và việc Săn sóc họ theo Mục vụ, 46-47).
Như vậy, thánh Tôma Aquinô giải thích (St. Thomas Aquinas, Summa theologica III, Q. 80, a.), nếu như trong Hội Thánh có hai cách rước lễ là rước lễ thực thụ (in re) và rước lễ thiêng liêng [bằng lòng ước ao] (in voto), thì ứng với việc tham dự vào Hy tế Thánh Thể, tín hữu sẽ lãnh nhận Mình [và Máu Thánh] trong chính Thánh lễ họ tham dự nhằm làm nổi bật sự liên kết giữa việc rước lễ với Hy lễ; còn ứng với việc tham dự Thánh lễ trực tuyến, tức thông hiệp Thánh lễ cách thiêng liêng, thì tín hữu chỉ rước lễ thiêng liêng mà thôi, cho dù trong nhà nguyện có lưu giữ Mình Thánh. Do đó, như cha Edward McNamara đã giải thích, rước lễ trong một Thánh lễ trực tuyến không phải là thực hành phụng vụ đúng đắn.
Nếu muốn rước lễ Bí tích thì có thể thực hiện ngay sau khi Thánh lễ [trực tuyến] kết thúc, hoặc vào một thời điểm thích hợp khác, và luôn tuân theo các nghi lễ đã được Giáo hội phê chuẩn liên quan đến thực hành cho rước lễ ngoài Thánh lễ. Giáo hội có hai hình thức tương tự nhưng khác nhau của nghi lễ này: “Nghi lễ cho bệnh nhân rước lễ”, và “Nghi lễ cho rước lễ ngoài Thánh lễ với việc cử hành Lời Chúa”. Trong bối cảnh của một cộng đoàn tu sĩ có Mình Thánh được lưu giữ trong nhà nguyện, nghi lễ thứ hai phải được sử dụng (x. Edward MacNamara).
3. Thừa tác viên có thể đến từng nhà để cho các tín hữu rước Mình Thánh không?
Việc thừa tác viên của Hội Thánh đến từng nhà để cho rước lễ thuộc về thực hành trao Mình Thánh ngoài Thánh lễ. Thực hành này được quy định như sau:
[1] Bộ Giáo Luật (1983):
“Hết sức khuyến khích các tín hữu rước lễ trong chính Thánh Lễ. Tuy nhiên, nếu có người xin với lý do chính đáng, thì có thể cho rước lễ ngoài Thánh Lễ, miễn là giữ các nghi thức phụng vụ”. ( Số 918); “(1) Các Kitô hữu lâm cơn nguy tử, dù vì bất cứ lý do nào, cần được bổ dưỡng bằng việc rước lễ như của ăn đàng; (2) Cho dù ngày ấy họ đã rước lễ rồi, cũng rất nên cho họ rước lễ lần nữa nếu mạng sống của họ bị lâm nguy; (3) Bao lâu cơn nguy tử kéo dài, nên cho họ rước lễ nhiều lần, vào những ngày khác nhau” (Số 921); “Không được khoan giãn việc đem của ăn đàng cho bệnh nhân. Các chủ chăn phải cẩn thận canh chừng để các bệnh nhân được bổ dưỡng khi còn tỉnh trí” (Số 922).
[2] Huấn Thị Rước Lễ và Tôn Thờ Thánh Thể ngoài Thánh Lễ (1973):
Các tín hữu được rước lễ trong Thánh Lễ đang được cử hành, “tuy nhiên, các linh mục không được từ chối cho một tín hữu rước lễ, khi người này vì một lý do hợp pháp xin được rước lễ ngoài Thánh lễ” (số 14); “Có thể cho rước lễ vào bất cứ giờ hay ngày nào. […] Tuy nhiên: a) vào thứ Năm thánh, chỉ có thể cho rước lễ trong Thánh lễ; có thể cho người bệnh rước lễ vào bất cứ giờ nào trong ngày này; b) vào thứ Sáu thánh, chỉ có thể cho rước lễ trong cử hành tưởng niệm cuộc thương khó của Chúa, có thể cho người bệnh mà không thể tham dự vào cử hành phụng vụ được rước lễ vào bất cứ giờ nào trong ngày này; c) vào ngày thứ Bảy Tuần Thánh chỉ đưa Của Ăn đàng cho người hấp hối” (số 16).
[3] Nghi Thức Xức Dầu Bệnh Nhân và việc Săn Sóc Họ theo Mục Vụ (1972):
“Các vị coi sóc linh hồn phải lo sao cho những người đau yếu và những người già lão, mặc dầu không đau yếu nặng và không đến nỗi nguy tử, được năng rước lễ, hơn nữa được rước lễ hàng ngày khi có thể được, nhất là trong mùa Phục sinh; việc trao Mình Thánh Chúa có thể thực hiện vào bất cứ lúc nào. […] Những người giúp đỡ bệnh nhân và người già cả cũng có thể rước lễ cùng với người mà họ chăm sóc trong cùng một nghi lễ phụng vụ.” (số 46)
Từ những tài liệu đã được trích dẫn, chúng ta nhận ra rằng, theo ý muốn của Hội Thánh, việc trao Mình Thánh Chúa bên ngoài Thánh lễ đòi hỏi phải có lý do chính đáng/ lý do hợp pháp và đòi hỏi này phải được tuân giữ một cách nghiêm ngặt. Lý do chính đáng để cho/ được rước lễ bên ngoài Thánh lễ, các chuyên viên Giáo Luật giải thích: đó là những người không thể tham dự cử hành Thánh Thể do đau bệnh, già yếu hoặc do không có linh mục cử hành Hy lễ Tạ ơn (x. John B. Beal, et al.(eds.), New Commentary on the Code of Canon Law (2000), 1112-13).
Như thế, đối với những người đau bệnh, già yếu, hay đang trong cơn nguy tử, thừa tác viên của Hội Thánh đến từng nhà/ bệnh viện để cho họ rước lễ ngoài Thánh lễ là thực hành bình thường. Nhưng đối với những người mạnh khỏe, Hội Thánh khuyên bảo một cách mạnh mẽ (maxime commendatur) rằng các tín hữu hãy rước lễ trong chính Thánh lễ. Họ chỉ có thể rước lễ ngoài Thánh lễ trong hai trường hợp: [i] khi làm công việc chăm sóc bệnh nhân/ người già yếu và tham dự vào nghi thức trao Mình Thánh Chúa cho những người này; [ii] khi không có linh mục đến dâng lễ, chẳng hạn tại những vùng xa xôi hẻo lánh và đặc biệt vào ngày Chúa nhật, họ quy tụ thành cộng đoàn phụng vụ tại một nơi xứng hợp (nhà thờ/ nhà nguyện) để cùng nhau “Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ” dưới sự chủ tọa của một thừa tác viên hợp pháp do thánh chức hay do được Bản quyền cho phép.
Vì thế, hoàn cảnh đại dịch (Covid-19) hiện nay không phù hợp cho việc đi đến từng nhà để cho các tín hữu rước Mình Thánh Chúa. Cụ thể, trong hoàn cảnh này:
1. Về kỷ luật Hội Thánh: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên rước Mình Thánh Chúa đi từ nhà này sang nhà khác để trao cho tất cả các tín hữu (cả người đau bệnh và già yếu lẫn những người khỏe mạnh nhưng ngăn trở vì cấm cách do nguy cơ lây nhiễm) không phù hợp “ngôn ngữ phụng vụ” đối với nhu cầu mục vụ bệnh nhân, không xứng hợp với hoàn cảnh đòi buộc để “Cử hành phụng vụ Lời Chúa và cho rước lễ”, cũng không đáp ứng lý do chính đáng vì thiếu linh mục cử hành Hy lễ Tạ ơn. Thực hành này có vẻ mang lại tiện ích cho nhu cầu tạm thời nhưng có nguy cơ đánh mất tính thánh thiêng nền tảng của cử hành bí tích.
2. Về yếu tố xã hội: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên đi đến từng nhà và đi nhiều nhà có thể cản trở qui định cách ly xã hội để phòng tránh lây nhiễm cộng đồng. Thực hành này có vẻ đáp ứng giãn cách xã hội khi không tập trung đông người nhưng có nguy cơ lây nhiễm cộng đồng, gây hoang mang đối với những cộng đồng dân cư chung quanh.
3. Về nguyên tắc luân lý: Việc các linh mục hoặc thừa tác viên đi đến từng nhà và đi nhiều nhà trong giai đoạn tạm dừng các cử hành cộng đồng/ tập trung tại giáo xứ vì nguy cơ lây nhiễm không đáp ứng nguyên tắc “ad impossibilia nemo tenetur” (nghĩa là không ai bị bó buộc làm điều bất khả). Sáng kiến tổ chức cho các tín hữu rước Mình Thánh Chúa tại nhà có thể dẫn đến tình trạng lây nhiễm cho chính thừa tác viên. Hơn nữa, xét về đức ái, thực hành này có thể không phải là chọn lựa tốt hơn so với việc khích lệ các tín hữu tham dự Thánh lễ trực tuyến và rước lễ thiêng liêng vì chúng ta biết rằng tín hữu nào đã chuẩn bị tâm tình xứng đáng, thì tuy không lãnh Bí tích thực sự (in re) họ vẫn nhận được những công hiệu của Bí tích đó do lòng ước ao muốn lãnh nhận (in voto). Khao khát Chúa Kitô cũng chính là hiệp thông với Ngài. 
Nguồn: Văn phòng HĐGMVN

Thứ Sáu, 10 tháng 1, 2020

Giáo phận Phú Cường: Chuyên mục Giải Đáp Hôn Nhân Công Giáo

Chuyên mục: Giải Đáp Hôn Nhân Công Giáo là một chương trình mà những người thực hiện mong muốn trở nên nhịp cầu để mọi người, đặc biệt là các bạn trẻ dễ dàng tiếp cận và gần gũi hơn với những quy định của Giáo hội Công giáo trong vấn đề hôn nhân.
Quý vị có những câu hỏi liên quan đến hôn nhân Công giáo, xin vui lòng liên hệ với Ban biên tập chương trình qua địa email: giaidaphonnhanconggiao@gmail.com

Chương trình có sự cộng tác của Linh mục Phêrô Nguyễn Hùng Hải, MF, Tiến sĩ Giáo Luật đang giảng dạy tại Đại Chủng Viện Thánh Giuse Sài Gòn, và Học viện Thánh Anphongsô.
Sau đây là giải đáp đầu tiên của chương trình liên quan đến những thuật ngữ như: 1. Hôn nhân khác đạo; 2. Hôn nhân dị giáo; 3. Miễn chuẩn; 4. Bản quyền địa phương; 5. Chuẩn khác đạo; 6. Phép Chuẩn; 7. Thờ cúng tổ tiên; 8. Hôn nhân công giáo; 9. Giải đáp hôn nhân công giáo.
Xin mời quý vị cùng theo dõi phần đầu tiên của Chuyên mục: “Giải Đáp Hôn Nhân Công Giáo”, do Ban Truyền Thông Giáo phận Phú Cường thực hiện.
Ban Truyền Thông Giáo phận Phú Cường

Thứ Sáu, 3 tháng 1, 2020

Tại sao người Công giáo cúi đầu mỗi khi nghe Danh thánh Chúa Giêsu

Tại sao người Công giáo cúi đầu mỗi khi nghe Danh thánh Chúa Giêsu

WGPSG / Aleteia -- Tập tục này lấy cảm hứng từ Kinh Thánh và được Đức Giáo hoàng Grêgôriô X thiết lập vào thế kỷ 13. 

Người Công giáo thực hiện rất nhiều cử chỉ tôn kính trong Thánh lễ, và một trong những cử chỉ được thực hành rộng rãi trong nhiều thế kỷ - đó là cúi đầu mỗi khi Danh thánh của Chúa Giêsu được nhắc đến. Ngay cả khi không được nhấn mạnh nhiều trong vài thập kỷ qua, việc cúi đầu vẫn được nhiều giáo dân cũng như một số linh mục tôn giữ. 

Nguồn gốc của việc cúi đầu này chủ yếu được lấy cảm hứng từ những lời sau đây trong Thư của thánh Phaolô Tông Đồ gửi tín hữu Philípphê: 

“Chính vì thế, Thiên Chúa đã siêu tôn Người và tặng ban danh hiệu trổi vượt trên muôn ngàn danh hiệu. Như vậy, khi vừa nghe danh thánh Giêsu, cả trên trời dưới đất và trong nơi âm phủ, muôn vật phải bái quỳ; và để tôn vinh Thiên Chúa Cha, mọi loài phải mở miệng tuyên xưng rằng: “Ðức Giêsu Kitô là Chúa”. (Phi-líp-phê 2: 9-11) 

Thực tế mà nói, việc quỳ gối mỗi khi nhắc đến Thánh danh Giêsu là một việc khá khó khăn, nên Đức Giáo hoàng Gregory X đã tìm kiếm một giải pháp. Ngài viết về giải pháp này cho Dòng Đa Minh vào năm 1274, bày tỏ mong muốn có một số cử chỉ cụ thể được thực hiện để tôn vinh Thánh danh Giêsu. Phần tông thư dưới đây của Đức Giáo hoàng Gregory X đã được in trong cuốn sách Với Chúa: Một cuốn sách Cầu nguyện và Suy ngẫm của thánh Phanxicô Xaviê Lasance: 

“Mới đây, trong Công đồng được tổ chức tại Lyons, chúng tôi nhận định rằng quả là đáng tuyên dương khi khích lệ các tín hữu vào Nhà Chúa cách khiêm tốn và sốt sắng, và cư xử cách đúng hợp sao cho xứng với ơn Chúa ban và sự soi sáng của Ngài.

"Chúng tôi cũng nhận xét rằng thật là thích đáng khi cổ động các tín hữu thể hiện sự tôn kính đối với Danh Hiệu vượt trên mọi danh hiệu, một Danh Hiệu duy nhất để chúng ta van nài ơn cứu rỗi – đó là Thánh Danh Giêsu Kitô, Đấng đã cứu chúng ta khỏi ách tội lỗi. Vì vậy, để tuân theo lời dạy của Thánh Phaolô: ‘Khi nghe Danh thánh Chúa Giêsu, hãy quỳ gối', chúng tôi mong rằng khi đọc Danh thánh này, nhất là trong Thánh Lễ, mọi người sẽ cúi đầu để biểu hiện rằng họ đang quỳ gối tôn kính cách thẩm sâu trong tim mình.” 

Đức Giáo hoàng Grêgôriô muốn mọi người không chỉ tôn vinh Danh thánh Chúa Giêsu, mà còn dâng mình cho Chúa với một cử chỉ yêu thương đơn giản. 

Dòng Đa Minh đã thực hiện nghiêm túc yêu cầu này của Đức Giáo Hoàng, và đứng hàng đầu trong việc quảng bá Danh Thánh Chúa Giêsu trong Giáo hội Công giáo, thuyết giảng về Danh Thánh, thành lập các Hội đoàn mang Thánh danh Giêsu, cũng như cung hiến cho Thánh danh Giêsu các bàn thờ trong Thánh đường. 

Tập tục này là một điều đơn giản, phản ánh mong muốn tôn vinh Danh thánh Giêsu, Danh hiệu duy nhất mang ơn cứu độ cho chúng ta. 

Philip Kosloski (Aleteia) / Nguyên Thủy chuyển ngữ

Thứ Sáu, 20 tháng 12, 2019

Bí mật tông tòa và Ấn tín tòa giải tội

Ngày 17/12/2019, Tòa Thánh công bố 2 Phúc chiếu (Rescriptum) của Đức thánh cha Phanxicô:


– Phúc chiếu thứ nhất do Đức hồng y Quốc vụ khanh Tòa Thánh Pietro Parolin và Đức hồng y Luis Francisco Ladaria Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin ký ngày 3/12/2019 cho biết Đức thánh cha đã quyết định đưa ra các sửa đổi đối với văn kiện “Normae de gravioribus delictis” (Chuẩn mực về các tội phạm nghiêm trọng) dành quyền phán quyết cho Bộ Giáo lý Đức tin, theo Tự sắc “Sacramentorum Sanctitatis Tutela” của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II (ban hành ngày 30/4/2001), được sửa đổi bởi Phúc chiếu 2/5/2010 với chữ ký của Bộ trưởng Bộ Giáo lý Đức tin khi ấy là Đức hồng y William Levada;

– Phúc chiếu thứ hai được Đức hồng y Quốc vụ khanh Tòa Thánh Pietro Parolin ký ngày 6/12/2019, cho biết Đức thánh cha Phanxicô đã quyết định ban hành Chỉ thị “Về Bảo mật trong tiến trình pháp lý”, trong đó Đức thánh cha hủy bỏ bí mật tông tòa liên quan tới các vụ bạo hành tình dục và ấu dâm.

*****

Để hiểu rõ quyết định của Đức thánh cha, chúng ta cần phân biệt bí mật tông tòaấn tín tòa giải tội.


1. Theo Tự sắc “Các con là ánh sáng thế gian” được ĐTC Phanxicô ban hành ngày 7/5/2019, thuộc diện bí mật tông tòa là những tài liệu được lưu trữ trong văn khố mật của Tòa Thánh có liên quan tới các vụ tố cáo, các vụ xử án và các quyết định liên quan tới các trường hợp bạo hành tình dục hay lạm dụng quyền bính, các trường hợp lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên hay các người dễ bị tổn thương, các phim ảnh ấu dâm, các trường hợp không bị tố cáo và các vụ bao che các kẻ lạm dụng từ phía các Giám Mục và Bề trên tổng quyền các dòng tu (x. Thư của ĐHY Pietro Parolin ký ngày 4 tháng 12 năm 2019; Thư của ĐHY Pietro Parolin và ĐHY Ladaria công bố năm 2001 và tu chính năm 2010). Với quyết định hủy bỏ bí mật tông tòa của ĐTC, các cơ quan pháp luật sẽ có thể tiếp cận hoặc tham khảo các chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra theo giáo luật của các cơ quan của Giáo Hội.

2. Còn ấn tín tòa giải tội là những gì hối nhân xưng thú với cha giải tội nơi tòa giải tội. Đây là điều bất khả xâm phạm và tuyệt đối cấm cha giải tội tiết lộ hối nhân bằng lối nói hay bằng cách nào khác và vì bất cứ lý do gì. Buộc cả các thông dịch viên và tất cả mọi người đã biết được tội bằng bất cứ cách nào do việc thú tội của hối nhân, cũng đều buộc giữ bí mật (x. Gl điều 983). Bị phạt vạ tuyệt thông tiền kết dành cho Tòa Thánh, linh mục nào trực tiếp vi phạm ấn tòa giải tội (x. Gl điều 1388, 1).


3. ĐTC Phanxicô xác định ấn tín tòa giải tội vẫn là điều tuyệt đối, bất khả xâm phạm và hoàn toàn không bị chi phối bởi Tự sắc “Các con là ánh sáng thế gian” được Đức Thánh Cha Phanxicô ban hành ngày 7 tháng 5 năm 2019, nghĩa là các linh mục không được phép tiết lộ tội phạm và tội nhân cho các cơ quan pháp luật của chính quyền vì đây là lỗi ấn tòa giải tội.

Đức Giám mục Tôma Nguyễn Văn Trâm

Phỏng vấn Phó Tổng Thư ký Thánh bộ Giáo lý Đức Tin về quyết định hủy bỏ bí mật Tông Tòa (Khác với Bí mật Tòa Giải Tội)



“Một quyết định mang tính lịch sử nhằm loại bỏ những chướng ngại và ngăn trở”, đó là điều mà Đức Tổng Giám mục Malta, Charles Scicluna, Phó Tổng Thư Ký Thánh bộ Giáo lý Đức Tin mô tả về quyết định của Đức Giáo Hoàng trong việc hủy bỏ bí mật Tông Tòa liên quan tới các vụ bạo hành tình dục và ấu dâm được công bố vào Thứ Ba, ngày 17 tháng 12 năm 2019. Sau đây là cuộc phỏng vấn của Đài Phát Thanh Vatican với Đức Tổng Giám Mục Scicluna.

Quyết định của Đức Giáo Hoàng có tầm quan trọng ra sao ?

Tôi nhớ là khi các giám mục được Đức Giáo Hoàng gọi đến Vatican vào tháng 2 năm 2019 để tham dự Hội nghị về bảo vệ trẻ em, thì hội nghị đã có hẳn một ngày để thảo luận về vấn đề tính minh bạch trong các trường hợp lạm dụng tình dục. Và trong tháng 5 năm 2019, chúng ta đã có một luật mới có tác động quan trọng và phát triển tính minh bạch trên, và bây giờ chúng ta có một luật khác của Đức Giáo Hoàng, nói rằng: các trường hợp lạm dụng tình dục không thuộc bí mật Tông Tòa – mức độ bảo mật cao nhất. Và vì vậy, với luật này thì vấn đề về tính minh bạch đang được thực hiện đầy đủ nhất.

Quyết định này thay đổi cụ thể những gì ?

Ví dụ, nó mở ra con đường giao tiếp với các nạn nhân và hợp tác với các cơ quan nhà nước. Một số quyền tài phán đã sử dụng cách dễ dàng bí mật Tông Tòa liên quan tới các vụ lạm dụng tính dục, để nói rằng họ không thể, hoặc không có quyền chia sẻ thông tin với các cơ quan nhà nước cũng như với các nạn nhân. Bây giờ, trở ngại đó đã được dỡ bỏ, không thể viện lý do bí mật Tông Tòa nữa. Tuy nhiên, luật này còn đi xa hơn. Như trong Tự Sắc ”Vos estis lux mundi” (Các con là ánh sáng thế gian, công bố Ngày 9 tháng 5 năm 2019), luật này khẳng định rằng: thông tin là điều cốt yếu nếu chúng ta thực sự muốn dấn thân cho công lý. Và như vậy, luật mới này mang lại quyền tự do thông tin cho các cơ quan có thẩm quyền và cho các nạn nhân.

Liệu việc bãi bỏ bí mật Tông Tòa có khiến các tài liệu sẽ trở nên công khai ?

Các tài liệu trong một phiên tòa hình sự không thuộc phạm vi công cộng, nhưng chúng có sẵn cho các cơ quan chức năng, hoặc những người thuộc các bên liên quan, và các cơ quan chức năng có trách nhiệm theo luật định về vấn đề này. Vì vậy, tôi nghĩ rằng, ví dụ, khi một người yêu cầu thông tin từ Tòa Thánh, thì người ta phải tuân theo các quy tắc quốc tế: đó là phải có một yêu cầu cụ thể và phải thực thi tất cả các thủ tục của luật pháp quốc tế. Tuy nhiên, ở cấp địa phương, mặc dù các tài liệu không thuộc phạm vi công cộng, nhưng việc liên lạc với các cơ quan chức năng, cũng như việc chia sẻ thông tin và dữ liệu thì được tạo điều kiện. (Andrea Tornielli, Zenit, 17-12-2019)

Văn Việt

Thứ Hai, 19 tháng 8, 2019

Thiên Chúa có trả thù không?


Em thấy trên mạng hoặc đôi lần biết có người bị Thiên Chúa trừng phạt vì dám xúc phạm đến Ngài. Nếu ai đó làm điều tàn ác, họ sẽ gặp tai ương và bị quả báo? Nhiều người cho rằng đó là do Thiên Chúa ra tay. Nếu vậy, Thiên Chúa không nhân từ chút nào! Ngài muốn trả thù? Như thế Thiên Chúa thật ích kỷ, vì ai không tin vào Chúa là Ngài tìm cách giết người đó!
…………..

Cảm ơn em về những băn khoăn trên đây. Đâu đó nhiều người trong chúng ta cũng nghe có hiện tượng như em hỏi. Thậm chí có người còn nguyền rủa cho những ai làm điều ác, lộng ngôn và chống đối Thiên Chúa. Khi họ gặp nạn, người ta dán nhãn: họ bị quả báo, bị Thiên Chúa trừng trị. Như thế mới công bằng.

Em có thể đọc thấy vài câu chuyện dường như tương tự trong Kinh Thánh về vấn đề này: “Phải chăng Thiên Chúa ích kỷ hoặc thích trả thù, nếu ai đó xúc phạm đến Ngài?” Chẳng hạn, khi Ađam và Eva không nghe lời Thiên Chúa, họ ăn trái cấm. Thiên Chúa đã đuổi họ ra khỏi Vườn Địa Đàng. Khi dân Do Thái muốn rời đất Ai Cập, vua Pha-ra-ô không đồng ý. Thiên Chúa đã cho biết bao tai ương xảy ra, thậm chí các con đầu lòng của người Ai Cập phải chết. Nhiều người cho rằng Thiên Chúa thật bất công khi muốn giúp dân Do Thái, nhưng lại sát hại nhiều người!

Môsê là người thành công dẫn dân Do Thái ra khỏi Ai Cập, nhưng chính ông lại không được vào Đất Hứa. Người ta cho rằng có lần Môsê ngập ngừng làm theo lời Thiên Chúa, nên ông phải chịu hậu quả như thế (Ds 20,12). Khi vào Đất Hứa, vua Đa-vít thành công xây dựng vương quốc và tôn thờ Thiên Chúa. Sau đó, con ông là Salômon (làm vua 970-931 TCN) lúc đầu hằng thờ phượng Thiên Chúa. Nhờ đó, vương quốc của ông thịnh vượng và giàu có bậc nhất trong thiên hạ. Tuy nhiên, về sau ông thờ thần ngoại bang. Thiên Chúa không làm ngơ trước thái độ khinh thường và bất trung của vua. Hình phạt chẳng bao lâu đã xuất hiện. Sau khi Salômon chết, vương quốc hùng cường và phồn thịnh của ông ly khai về chính trị và tôn giáo. Nam Bắc phân tranh, huynh đệ tương tàn.

Một điệp khúc trong thời Cựu Ước là: Nếu không tuân lệnh, trung thành với Giáo Ước Sinai, con cái Do Thái sẽ gặp hoạn nạn, đất nước sẽ lụi tàn. Đó có phải là sự trả thù của Thiên Chúa? Hoặc như lời em nói: “Như vậy là Chúa ích kỷ, vì ai không tin vào Chúa là Ngài tìm cách giết người đó!” Nói cách khác, Thiên Chúa hay ghen tuông. Nếu ai đó thờ thần ngoại bang, chối Chúa, họ sẽ bị trừng phạt, vì họ không làm theo lời của Thiên Chúa. Bởi đó, nhiều người sợ Thiên Chúa, vì Ngài ruồng bỏ những ai không tin theo Ngài.

Em thân mến,

Thực ra, chúng ta đang đi vào một khía cạnh của Thiên Chúa: trả thù, ghen giận và trừng phạt. Tuy nhiên, có biết bao chuyện nói lên lòng thương xót và yêu thương của Thiên Chúa. Khi Ađam và Eva phạm tội, Thiên Chúa hứa ban một Đấng Cứu Chuộc đến để giải thoát dân. Khi thấy dân đau khổ bên Ai Cập, Thiên Chúa muốn cứu dân. Khi thấy dân không có người hướng dẫn, Thiên Chúa gửi các ngôn sứ, các tư tế và phong vương để đồng hành với dân. Chính những người này giúp dân thấy Thiên Chúa thật công bình. Nếu dân theo đường lối của Thiên Chúa, họ sẽ được bình an. Nếu không theo Thiên Chúa, nhiều khó khăn và thử thách sẽ xảy đến. Trước tình cảnh ấy, đúng là Thiên Chúa thời Cựu Ước có vẻ uy quyền, xa lạ và thưởng phạt nghiêm minh. Thời đó, dân sợ Thiên Chúa lắm! Họ không dám gọi Tên của Ngài. Dĩ nhiên, người dân chẳng thể gặp, hay nói chuyện trực tiếp với Ngài. Thiên Chúa lúc ấy dường như xa cách muôn trùng. Dân dường như sợ Thiên Chúa, như em nói.

Tuy nhiên, em biết không, thời Tân Ước, tức là từ thời Chúa Giêsu lại hoàn toàn khác. Lúc này, Đức Giêsu đến từ Chúa Cha để trình bày Thiên Chúa đầy lòng thương xót và luôn ở với con người. Ngài là đấng Emmanuel và là Tình Yêu. Em nhớ Đức Giêsu kể câu chuyện đứa con hoang đàng (x. Lc 15,11-32), là chúng ta, từ khước người cha nhân hậu, là Thiên Chúa. Dù vậy, Thiên Chúa vẫn chờ đợi người con quay trở về, và sẵn sàng tha thứ tất cả. Ngài còn mở tiệc ăn mừng vì đứa con ấy nay trở về sống chung với Cha. Bất cứ khi nào chúng ta ăn năn, giao hòa với Thiên Chúa, Ngài đều tha thứ và đón nhận chúng ta.

Hơn nữa, cả cuộc đời Đức Giêsu, chúng ta thấy Thiên Chúa luôn đi tìm những con chiên lạc trở về (Lc 15,1-7). Ngài mời gọi tất cả những ai mang gánh nặng nề, hãy đến cùng Ngài để được nghỉ ngơi, bồi dưỡng. Chính Đức Giêsu thường lui tới với người tội lỗi, quân thu thuế để giúp họ sống tốt hơn (Lc 7,36-50). Đặc biệt, chính Đức Giêsu phải chịu chết để cứu độ con người. Trong cuộc thương khó, nếu chúng ta là Thiên Chúa, chắc chúng ta trừng phạt những kẻ đang hành hạ, và giết mình. Nhưng Chúa Giêsu không phản kháng; trái lại, Ngài sẵn sàng xin Chúa Cha tha cho họ, vì họ không biết việc họ làm. Ngài đã bị đóng đinh và chịu chết. Nhưng Ngài đã sống lại! 

Một trường hợp nữa để thấy lòng nhân từ của Chúa: đó là thánh Phaolô. Khi Chúa Giêsu sống lại, nhiều người bỏ đạo Do Thái để tin vào Đức Giêsu là Đấng đã chết và nay đã phục sinh. Phaolô là một trong những thủ lãnh bách hại những người theo Giêsu. Tuy nhiên, chúng ta thấy Thiên Chúa không trả thù hay giết hại ông. Ngược lại, trên đường Phaolô đi bách hại tại Đa-mát, Thiên Chúa đã khiến ông ngã ngựa. Sau đó, Ngài nói cho ông biết kẻ ông đang bách hại là Đức Giêsu. Chúa đã không phạt ông nhưng lại yêu thương và chọn gọi ông làm tông đồ của Người. Sau lần đó, ông tin vào Chúa Giêsu và hăng say rao giảng Nước Trời. Ông là một trong hai vị thánh lớn nhất của Giáo Hội (cùng với Phêrô).

Như em nói, chúng ta thật khó để thoát ra lối suy nghĩ rằng Thiên Chúa hẹp hòi, ích kỷ và hay trả thù. Chẳng hạn, những người làm điều ác, xúc phạm đến Thiên Chúa, Ngài có trừng trị họ không? Thật khó để trả lời rốt ráo! Nhiều trường hợp chúng ta thấy họ gặp tai ương và đối diện với cái chết. Phải chăng đó chỉ là sự trùng hợp, hay “lưới trời lồng lộng”? Hoặc ít ra đó là lời cảnh giác, nhắn nhủ cho những ai xúc phạm đến Thiên Chúa hoặc làm điều dữ. Những gì chúng ta thấy, chỉ là suy diễn của con người.

Em có thể hỏi thêm: “Nếu Thiên Chúa biết mọi sự và có thể làm được mọi sự, tại sao Người không ngăn cản được sự dữ ?” Thưa, “Thiên Chúa vẫn luôn có thể rút ra những điều tốt lành từ những sự dữ. Chẳng một đau khổ nào ta có thể giải mã được. Nhưng nó vẫn luôn đặt nền tảng trên sự khôn ngoan vô cùng của Thiên Chúa.” (Youcat, số 51). Khó hiểu quá! Điều ấy nghĩa là Thiên Chúa luôn muốn tốt cho con người. Chúng ta có thể cảm nhận: “Thiên Chúa thì thầm trong những lúc ta vui, Người thì thầm trong lương tâm ta. Nhưng Người nói lớn và mạnh trong những đau khổ của ta. Những đau khổ đó là cái loa tăng âm để làm thức tỉnh một thế giới mê ngủ.” (Clive Staples Lewis 1898–1963, văn sĩ Anh, tác giả cuốn Ký sự Namia).

Tóm tại, đây quả là đề tài thú vị để chúng ta suy nghĩ và cầu nguyện với Thiên Chúa. Ngài là thẩm phán đáng sợ hay là Thiên Chúa giàu lòng thương xót? Giống như tương quan giữa người con với cha mẹ, chúng ta chỉ hiểu được khi có tương quan với Thiên Chúa. Hy vọng em để Thiên Chúa chất vấn, để những thắc mắc ấy là cơ hội cho Thiên Chúa giãi bày. Chính trong Kinh Thánh, ước gì chúng ta có thể hiểu hơn về Thiên Chúa đang muốn nói gì.

Chúc em nhiều bình an và luôn mạnh khỏe với ơn của Thiên Chúa. Xin Thiên Chúa hằng yêu thương và chăm sóc cho em trong mọi biến cố vui buồn. Xin đừng tránh xa Thiên Chúa, nhưng hãy để Thiên Chúa kết bạn với em. Chúa không gọi chúng ta là tôi tớ, nhưng Ngài gọi chúng ta là bạn hữu (Ga 15,15). Ngài là một người bạn hằng yêu thương và tha thứ!

Chào em.

Giuse Phạm Đình Ngọc SJ

Thứ Hai, 15 tháng 7, 2019

Ai được mời gọi phải sống khó nghèo?


Trong một thế giới ngày một trở nên tục hóa, (secularization) tôn thờ vật chất, tiền bạc, chuộng khoái lạc (Hedonism) và mọi vui thú vô luân, vô đạo (immoral, unethical) thì khó nghèo là một bất hạnh to lớn phải tránh (misfortune, evil ), một điều đáng cười chê và khinh bỉ, vì không có một giá trị nào đối với những người chỉ biết coi trọng tiền bạc, phương tiện vật chất, giầu sang trên mọi giá trị tinh thần, luật công bình, lòng nhân đạo, bác ái để quay mặt đi hay vô cảm trước nỗi đau khổ vì nghèo đói của người khác. Tắt một lời: đối với những kẻ này chỉ có tiền là trên hết và có giá trị nhất mà thôi.!

Mặt khác, trong mức độ và điều kiện cần thiết để sống cho phù hợp với nhân phẩm và chu toàn mọi bổn phận chính đáng, thì tiền bạc và phương tiện vật chất như nhà ở, quần áo, thuốc men lương thực và phương tiện di chuyển ( xe cộ) lại trở nên cần thiết và phải được thỏa mãn đúng mức.

Và không có gì là sai trái đạo đức khi xử dụng những phương tiên trên cho mục đích chính đáng.

Cụ thể, sống và làm mục vụ ở Âu Mỹ, Canada, Úc Châu và Tân Tây Lan... thì đòi hỏi phải có xe hơi để di chuyển chứ không thể đi xe đạp hay đi bộ được. Đức Thánh Cha còn cần cả phi cơ và một đoàn xe hộ tống để bảo vệ cho ngài trong mọi cuộc công du mục vụ. Ngoài ra ngân sách (budget) của Tòa Thành cần hàng trăm triệu đôla mỗi năm để chi phí cho mọi nhu cầu thiết yếu như truyền giáo, huấn luyện và trợ giúp các Giáo Hội nghèo trên khắp thế giới.

Như thế, không thể đòi hỏi sống nghèo bằng cách cắt hết mọi phương tiện vật chất kể cả tiền bạc cần thiết cho nhu cầu Phúc âm hóa và mục vụ của Giáo Hội địa phương hay hoàn vũ. Cũng không thể nói tiền là không quan trọng và cần thiết cho đời sống con người ở khắp nơi.

Chỉ có người nào quá ngây thơ, ảo tưởng hay không thực tế mới đòi hỏi như vậy mà thôi.

Nhưng nếu vậy, thì Ai phải sống cái nghèo của Phúc Âm để đáng được Chúa chúc phúc như Người đã nói trong Bài Giảng Trên Núi xưa kia : “ Phúc cho ai có tâm hồn nghèo khó vì Nước Trời là của họ” ( Mt 5: 2 Lc 6: 20)

Chúa không giảng lý thuyết suông mà Người đã thực sự sống khó nghèo từ khi sinh ra nơi chuồng bò cho đến khi chết trần trụi trên thập giá, đúng với tinh thần Người đã nói với các môn đệ ngày kia rằng “ con chồn có hang, chim trời có tổ nhưng Con Người không có chỗ tựa đầu.”( Mt 8: 20; Lc 9: 58)

Chắc chắn Chúa đã không “đóng kịch” để phỉnh gạt ai về sự khó nghèo mà Người đã tự ý chọn khi sống thân phận con người và đi rao giảng Tin Mừng Cứu Độ trong suốt 3 năm tại thế.

Như thế, sự khó nghèo phải có giá trị thực dụng và thiêng liêng rất cao mà Chúa muốn dạy các Tông Đồ trước tiên và tất cả mọi người chúng ta ngày nay trong Giáo Hội.

Thực vậy, sự khó nghèo mà Chúa Giêsu đã chọn và thực sự sống trước hết không có nghĩa là phải chê ghét mọi nhu cầu cần thiết cho đời sống con người như tiền bạc, cơm ăn, áo mặc, thuốc men, nhà ở và phương tiện di chuyển, nhất là trong hoàn cảnh thế giới ngày nay hoàn toàn khác biệt với hoàn cảnh xã hội thời Chúa sống và đi rao giảng Tin Mừng.

Dầu vậy, tinh thần khó nghèo mà Chúa đã làm gương vẫn có thể thực hiện được –và phải thực hiện- trong hoàn cảnh xã hội ngày nay. Đó là sự khó nghèo nội tâm, sự chê ghét trong nội tâm để không tôn thờ hay làm nô lệ cho tiền bạc và mọi phương tiện vật chất đến nỗi quên mất hay coi nhẹ mục đích quan trọng hơn : đó là tìm kiếm Chúa và Vương Quốc giầu sang của Người trên hết mọi sự ở trần gian này.

Đó là tất cả ý nghĩa của lời Chúa dạy các Tông Đồ xưa và nay sau đây:

“ Không ai có thể làm tôi hai chủ, vì hoặc sẽ ghét chủ này mà yêu chủ kia, hoặc sẽ gắn bó với chủ này mà khinh dể chủ kia. Anh em không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của được.” ( Mt 6 : 24)

Không thể vừa làm tôi Thiên Chúa vừa làm tôi tiền của có nghĩa là không thể yêu mến và tôn thờ Thiên Chúa như yêu mến và tôn thờ tiền của được.

Cứ nhìn vào thực trạng sống của con người –trong đó có người tin hữu Chúa Kitô- ở khắp nơi trên thế giới ngày nay cũng đủ cho ta thấy ai đang làm tôi Thiên Chúa và ai đang làm tôi tiền của.

Trước hết là tập đoàn tài phiệt, đại tư bản gian ác ở Mỹ đã và đang là nguyên nhân gây ra thảm trạng kinh tế của Hoa Kỳ hiện nay, khiến cho hàng triệu người thất nghiệp, đau khổ và không có bảo hiểm sức khỏe. Lý do chỉ vì bọn tài phiệt trên đã tìm mọi cách để làm giầu, vơ vét của cải với sự hỗ trợ ngầm ( vì đã bỏ nhiều tiền ra mua chuộc ) của giới cầm quyền ở Quốc Hội và Nhà Trắng, bất chấp sự đau khổ của người dân đang sống ở mức nghèo khó. Người không có bảo hiểm sức khỏe không thể vào các bênh viện nào để được chửa trị vì bọn điều hành hệ thống bệnh viện ở Mỹ không bao giờ chữa trị cho ai không có bảo hiểm sức khỏe để chúng moi tiền ! Thế ra bệnh viện, bác sĩ hoạt động vì tiền chứ không vì nhân đạo, vì muốn cứu giúp bệnh nhân đau khổ ?. 

Tại sao các quốc gia khác như Anh, Pháp, Canada, Úc ,Tân Tây Lan cho người dân của họ miễn phí khi nằm bệnh viện mà Mỹ mang tiếng là giầu có lại không làm được như vậy ?

Lý do duy nhất là bọn tài phiệt nắm trọn hệ thông chăm sóc sức khỏe (healthcare) để bán bảo hiểm sức khỏe cho người có tiền mà thôi. Vì thế mọi cải cách y tế đều không đi đến đâu vì bọn cầm đầu ngành phúc lợi này không bao giờ muốn hy sinh quyền lợi to lớn của họ cho ai hết.!

Họ đúng là những kẻ tôn thờ tiền của trên mọi giá trị tinh thần, lòng nhân đạo và bác ái khiến họ hoàn toàn vô cảm (numb) trước những người nghèo khó và bệnh tật không có bảo hiểm sức khỏe.

Ai sống ở Mỹ đều biết rõ thực trạng này.

Ở thế cực bên kia, những kẻ tự xưng là vô sản, tranh đấu để đạp đổ giai cấp tư bản vì quyền lợi của giai cấp vô sản, nhưng thực chất chính họ lại trở thành những “đại tư bản đỏ” chỉ vì cũng tham tiền, tham của cải vật chất như ai, không thua kém gì , và có thể còn hơn bọn tư bản vô tâm vô đạo kia nữa. Họ cai trị để làm giầu cho tập đoàn của họ và con cháu họ chứ không vì phúc lợi nào của người dân, chẳng may sống dưới chế độ bất công, bóc lột vô nhân đạo của bọn họ.

Đó là thực trạng của những kẻ yêu mến tiền và của cải vật chất trên hết mọi sự ở đời này.

Trước thực trạng này, người tín hữu Chúa Kitô- giáo sĩ, tu sĩ và giáo dân- phải sống thế nào để nói lên giá trị của sự khó nghèo mà Chúa Kitô đã nêu gương sáng trước tiên?

Chắc chắn Chúa không cấm ta làm việc để có tiền chi phí cho những nhu cầu cần thiết cho đời sống con người như cơm ăn, áo mặc, thuốc men, nhà ở, máy móc và phương tiện di chuyển. Nhưng chỉ có sự khác biệt là chúng ta phải xử dụng những phương tiện cần thiết ấy đúng nghĩa là những phương tiện chứ không phải là mục đích tối cao phải tìm kiếm cho đời mình. Mục đích tối cao đó chính là điều Chúa Giêsu đã chỉ rõ cho các môn đệ xưa kia và cho chúng ta ngày nay. Đó là : “Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người; còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.” ( Mt 6: 33)

Nói khác đi, tìm kiếm Thiên Chúa để sống theo đường lối của Ngài phải là ưu tiên hàng đầu, phải là mục đích tối cao nhất của những ai tin có Chúa là nguồn hạnh phúc và thực tâm yêu mến Người trên hết mọi lợi lãi ở trần gian này. Có như thế, thi mới xứng đáng là người có đức tin và sống đức tin ấy cách cụ thể để làm chứng cho những giá trị - trong đó có giá trị của sự khó nghèo- mà Chúa Kitô đã giảng dạy và làm gương cho ta bắt chước.

Lời Chúa phải được thực hành trong Giáo Hội và trong đời sống của mọi tín hữu. Nghĩa là không thể đọc và nghe lời Chúa như đọc sách báo, xem phim ảnh, truyền hình rồi quên ngay để còn dành tâm trí và thì giờ tìm kiếm hay lo cho những việc mà người không có niềm tin nơi Chúa coi là quan trọng nhất: đó là tìm tiền bạc và danh vọng phù phiếm bằng mọi giá. Thêm vào đó là tìm kiếm để hưởng những thú vui không mấy lành mạnh như nhẩy nhót, du hí ở những nơi tội lỗi và sửa sang thân thể cho trẻ đẹp và hấp dẫn, thêm khiêu gợi thèm muốn vô luân vô đạo cho người khác.

Xã hội Âu Mỹ sống với “văn hóa của sự chết” là điển hình rõ nét nhất về lòng tham mê tiền bạc, của cải vật chất và mọi vui thú vô luân vô đạo, trống vắng niềm tin và mọi khát vọng siêu nhiên.

Nói khác đi, nếu không có sự khó nghèo nội tâm để chê ghét những của phù vân và vui thú vô luân vô đạo ở trần gian này thì người ta sẽ khó mà nhận ra sự khó nghèo thiêng liêng khi sống trong sự sung túc vật chất, buông thả luân lý, đạo đức như Chúa đã cảnh giác sau đây:

“ Ngươi nói tôi giầu có, tôi đã làm giầu, tôi chẳng thiếu thốn chi. Nhưng ngươi không biết rằng ngươi là kẻ khốn nạn, đáng thương, nghèo khổ. Đui mù và trần truồng. Vì thế Ta khuyên ngươi đến với Ta mà mua vàng đã thử lửa để làm giầu, mua áo trắng để mặc khiến ngươi khỏi xấu hổ vì để lộ thân thể trần truồng, mua thuốc để xức mắt cho ngươi nhìn thấy được.” ( Kh 3: 17-18)

Lời Chúa trong Sách Khải Huyền trên đây đã chỉ rõ cho ta thấy là nếu chỉ yêu mến và tìm kiếm sự sang giầu, với tiền bạc và của cải ở trần gian này thôi, thì người ta sẽ trở nên nghèo nàn, trần trụi và đui mù về mặt thiêng liêng, khiến không thể nhìn ra Chúa là cội nguồn của mọi vui thú, giầu sang đích thực, mà những ai tin có Người phải tìm kiếm để chiếm hữu cho bằng được. Đây mới chính là lợi lãi mà người tin có Thiên Chúa phải tìm kiếm với tất cả khả năng của khối óc và mọi phương tiện vật chất ở trần gian này để chiếm lấy như lợi lộc đích thực của đời mình. 

Nếu không, thì khi nhắm mắt lìa đời, không sớm thì muộn, vì “ bộ mặt của thế gian này đang biến đi.” ( 1 Cor 7 :31) người ta không những phải bỏ lại tất cả mọi của cải và danh vọng phù vân đã tích lũy được để ra đi với hai bàn tay trắng, không một hành trang, không “một bảo hiểm thiêng liêng” để được vào vui hưởng sự sống và hạnh phúc vinh cửu với Chúa trên Nước Hằng Sống.

Đó là lý do tại sao Chúa Giêsu đã dạy bảo mọi người chúng ta như sau :

“ Anh em đừng tích lũy cho mình những kho tàng dưới đất nơi mối mọt làm hư nát., nơi kẻ trộm khoét vách và lấy đi. Nhưng hãy tích lũy cho mình những kho tàng trên trời, nơi mốt mọt không làm hư nát, nơi trộm cắp không đào ngạch và lấy đi được.” ( Mt 6 : 19-20).

Tìm kiếm những kho tàng không hư mất , những tờ giấy bạc không bị nhàu nát mai một, trước kết có nghĩa là phải có lòng khao khát muốn nên thánh vì Chúa là Đấng Thánh. Và muốn được như vậy, thì cần thiết phải từ bỏ mọi tội lỗi, trong đó có tội ham mê tiền của đến quên mục đích tối cao là tìm Chúa và Vương Quốc an bình và hạnh phúc của người. Mặt khác, không ham mê tiền của cũng giúp người ta dễ dàng mở lòng nhân ái thực thi bác ái cách rộng rãi nhờ tiền của mình kiếm được. Đây là cách mua bảo hiểm tốt nhất cho đời sống mai sau trên Nước Trời.

Như thế, mọi tín hữu đều phải biết khôn ngoan tìm kiếm và tích trữ cho mình những của cải không hề hư mất, những đồng tiền không thể mất giá, thay vì chỉ chú tâm tìm kiếm những kho tàng không thể mang theo về nơi vĩnh phúc. Cụ thế, là người Tông Đồ, tất cả đều được mời gọi và mong đợi ( expected) sống cái nghèo của Phúc Âm theo gương Chúa Kitô “Người vốn giầu sang phú quí, nhưng đã tự ý trở nên nghèo khó vì anh em để lấy cái nghèo của mình mà làm cho anh em trở nên giầu có.” ( 2 Cor 8:9)

Thực hành tinh thần nghèo khó trên đây -xin nói lại một lần nữa- không có nghĩa là không được có tiền bạc và những phương tiện sống cần thiết như nhà ở, áo quần, xe cộ , máy móc…Ở Mỹ , phải có xe hơi thì mới đi làm mục vụ được, vì không thể đi bộ hay xe đạp đến thăm người đau ốm ở tư gia hay bệnh viện. Nhưng không vì lý do này mà linh mục phải sắm cho mình những xe đắt tiền và sang trọng như Mercedes, BMW, Lexus, Infinity… hoặc đeo đông hồ Rolex, Omega.. Nếu chỉ lãnh lương qui định của giáo xứ thì khó có thể có tiền để mua được những xe hay đồng hồ nói trên. Vì thế , khi thấy linh mục nào chậy những loại xe này, giáo dân sẽ tự hỏi : làm sao cha có tiền để mua xe đắt giá như vậy ? Và như thế, linh mục sẽ không thể làm gương sống khó nghèo cho ai được, vì đời sống thực tế của mình đã hoàn toàn mâu thuẫn với lời giảng dạy về đức khó nghèo của Phúc Âm.

Chúa Giê su đã đòi hỏi các môn đệ xưa và nay phải từ bò mọi của cải như điều kiện để được đi theo Người: 

“Cũng vậy, ai trong anh em không từ bỏ hết những gì mình có thì không thể làm môn đệ của Tôi được ” (Lc 14: 33)


Từ bỏ hết những gì mình có nghĩa là không được say mê tiền của và giầu sang ở đời này đến mức coi nhẹ ơn gọi đi theo Chúa để rao giảng hạnh phúc và phú quý của Nước Trời cho chính mình trước khi cho người khác. Và nhờ gương sống tinh thần khó nghèo thực sự của mình sẽ thuyết phục được người khác tin yêu và tôn thờ Thiên Chúa trên hết mọi giầu sang và danh lợi ở đời này, một trở ngại lớn lao cho những ai ham mê của cải hơn yêu mến Chúa và Vương Quốc của Người.

Mặt khác, cũng không nên quá chú trọng vào việc xây cất, sửa sang nhà thờ để tiếp tục thi nhau ra nước ngoài xin tiền, làm phiền cho giáo dân không có lợi tức cao, cứ phải gặp các cha các Sơ đến “thăm giáo xứ, Công đoàn” của mình trong các ngày lễ cuối tuần. Nếu cứ lấy cớ vì nhu cầu thì nhu cầu này sẽ bất tận không biết đến khi nào mới thỏa mãn hết được. Vì hết xây nhà thờ, lại xây nhà xứ, nhà trường v.v Nhưng điều quan trọng đối với người Tông Đồ không phải là chỉ lo xây nhà thờ bề ngoài cho sang cho đẹp mà cốt yếu phải xây Đền thờ Chúa trong tâm hồn mỗi người giáo dân mà mình có sứ vụ coi sóc, chăm lo về mặt thiêng liêng. Phục vụ tốt cho họ không những đòi hỏi phải dạy dỗ đúng theo thần học, giáo lý, giáo luật và kỷ luật bí tích của Giáo Hội mà quan trọng hơn nữa là phải là nhân chứng sống động cho Chúa Kitô về đức công bình, bác ái và khó nghèo nội tâm. Nghĩa là phải chứng tỏ cho giáo dân thấy là mình thực sự có tâm hồn nghèo khó, thực tâm chê ghét sự sang giầu vật chất để không chạy theo hay làm thân với người giầu có, thi ân cho họ để bù lại được lợi cho mình. Đồng thời phải nhìn thấy Chúa thực sự hiện diện nơi anh chị em nghèo khó, cô thân cô thế, những trẻ thơ không có sữa nuôi, những bệnh nhân đang quằn quại đau đớn ở bênh viện hay tư gia. Nên cần đến thăm và an ủi họ hơn là phí thì giờ lưu tới những nhà giầu hay những người có quyền thế để tìm lợi lộc mà người nghèo không thể cung phụng cho ai cho được 

Tóm lại, người Tông Đồ lớn nhỏ mà ham mê tiền của sẽ dẫn đến gian tham để ăn cắp tiền của giáo xứ, của nhà Dòng rồi bỏ đi xây tổ ấm ở đâu không ai biết. Hay giả tàn tật, giả mạo giấy giới thiệu của Bề Trên để đi ra nước ngoài xin tiền như đã từng xảy ra.

Đó là nguy hại của lòng tham mê tiền của hơn yêu mến sứ vụ rao giảng và làm nhân chứng đích thực cho Chúa Kitô, Đấng đã hoàn toàn sống nghèo và chết nghèo để cho chúng ta được sang giầu phú quí vĩnh viễn trên Nước Trời.

Lm Phanxicô Xaviê Ngô Tôn Huấn.

Thứ Bảy, 15 tháng 6, 2019

Ủy ban Phụng Tự giải thích quy định về Giảng lễ, Đặt tay và Rảy nước phép

Ủy ban Phụng Tự giải thích quy định về Giảng lễ, Đặt tay và Rảy nước phép

1- Theo giáo luật (điều 767, 1), việc giảng lễ chỉ dành riêng cho tư tế hoặc phó tế. Vậy, một linh mục có được phép đưa những người làm chứng lên chia sẻ trong phần bài giảng của mình không?
Thực hành đưa những người làm chứng lên chia sẻ trong phần bài giảng thuộc về phạm trù “giáo dân thuyết giảng”. Đúng là theo giáo luật (điều 767, 1) và được Quy chế Tổng quát Sách lễ Rôma [2002] (số 66) cũng như Huấn thị Bí tích Cứu độ [2004] (các số 64-66; 161) nhắc lại, việc giảng lễ chỉ dành riêng cho tư tế hoặc phó tế và không bao giờ trao cho một giáo dân. Thế nhưng, tín hữu giáo dân lại được phép “chia sẻ” trong thánh lễ [chứ không phải giảng lễ] qua những hướng dẫn và làm chứng của họ bằng việc suy niệm Lời Chúa, giải thích bản văn Kinh Thánh hoặc thuyết trình. Tuy nhiên, ngay cả bài giảng lễ của LM và PT cũng không được xem như thời gian dành cho các ngài chia sẻ chứng tá cá nhân với những câu chuyện riêng tư của mình mà bài giảng lễ phải diễn tả đức tin của GH (Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Chỉ Nam Giảng Lễ, số 6), bởi vậy, phải thật cẩn trọng khi đưa người làm chứng trong thánh lễ và tuân giữ những gì nói tiếp dưới đây:
  1. Thực hành này phải được HĐGM cho phép. Chẳng hạn HĐGM Hoa Kỳ chỉ cho phép giáo dân chia sẻ trong một vài trường hợp như: khi vắng hay thiếu hụt giáo sĩ, khi đòi hỏi phải sử dụng một ngôn ngữ khác biệt hoặc liên quan đến lãnh vực thuộc về chuyên môn hay kinh nghiệm của giáo dân, nhưng không bao giờ giáo dân được giảng trong thánh lễ (USCCB Decree, 13/12/2001, BCL Newletter 37 [2001] 49-50). Nếu như HĐGM không ra chỉ thị về vấn đề này, thì phải tuân theo các quy luật liên quan đến việc giảng thuyết được ban hành bởi ĐGM giáo phận (Bộ Giáo Luật, số 756#2; 772#1);
  2. Nếu thấy cần để một giáo dân lên thông báo tin tức hay trình bày một chứng từ đời sống kitô hữu cho các tín hữu tụ họp trong nhà thờ/ nhà nguyện, cách chung nên làm việc này ngoài thánh lễ. Nhưng mà, vì những lý do nghiêm trọng, được phép trình bày loại thông báo hay chứng từ này khi linh mục đã đọc xong lời nguyện Hiệp Lễ chứ không được đưa họ lên làm chứng trong phần bài giảng của thánh lễ. Tuy vậy, một việc làm như thế không được trở thành thói quen, nghĩa là thuộc trường hợp ngoại lệ chứ không phải thường lệ. Hơn nữa, việc chia sẻ và làm chứng phải mang hình thức ngắn gọn, phải luôn luôn hòa hợp với các quy tắc phụng vụ, được trình bày trong những dịp đặc biệt mà thôi (chẳng hạn như ngày của chủng viện, ngày bệnh nhân, v.v…), cũng như không được xem nó như là một sự thăng tiến chính thức của hàng giáo dân. Đồng thời, những thông báo và chứng từ này không được có những đặc tính có thể làm lẫn lộn chúng với bài giảng lễ, và cũng như không là nguyên nhân để loại bỏ hoàn toàn bài giảng (Xc. Bộ Phụng tự và Kỷ luật Bí tích, Huấn thị Bí tích Cứu độ, các số 74, 161; Bộ Giáo sĩ và Các Bộ khác, Huấn thị liên bộ về một số vấn đề liên quan đến việc giáo dân cộng tác vào sứ vụ của các linh mục,Ecclesiae de mysterio, 15/08/1997, số 3: AAS 89 (1997), 852-877)
  3. Người chia sẻ hay làm chứng phải là một tín hữu công giáo vì theo Bộ Giáo Luật: (1) Những người giảng Lời Chúa, trước hết hãy trình bày những điều cần phải tin và phải làm nhằm vinh danh Chúa và cứu rỗi nhân loại; (2) Cũng phải trình bày cho tín hữu giáo thuyết Hội Thánh dạy về nhân phẩm và tự do của con người, về sự duy nhất và sự vững bền cùng những trách vụ của gia đình, về những bổn phận của những người công dân sống trong xã hội, và cả về việc điều hành những việc trần thế theo trật tự Chúa đã ấn định (điều 768).
  4. Chỉ đôi khi giáo dân mới chia sẻ trong thánh lễ với trẻ em trong trường hợp thánh lễ đó có ít người lớn tham dự nhất là khi vị gỉang lễ tự thấy rằng mình khó có thể thích ứng hay đồng cảm với tâm trí của trẻ em. Việc chia sẻ này được sự đồng ý của cha sở hay quản nhiệm nhà thờ trên căn bản là quyền ban phép thực thụ cho thực hành này chỉ thuộc thẩm quyền của các Đấng Bản Quyền sở tại mà thôi [như đã nói ở số 1) trên], và luôn luôn là ad actum, chứ không thuộc quyền ai khác, kể cả các linh mục hay phó tế(Bộ Phụng Tự, Hướng dẫn Thánh lễ với Trẻ em, 01/11/1973, AAS 66 [1974], 24; Huấn thị Bí tích Cứu độ, số 161). Và chỉ thỉnh thoảng giáo dân mới chia sẻ như một phần phụ thêm vào bài giảng lễ của LM hay PT hoặc có thể thay thế cho bài giảng lễ khi vị giảng lễ (LM hoặc PT) bị ngăn trở về thể lý hay luân lý. Vì dầu sao, sự trợ giúp này không được dự liệu để đảm bảo cho người giáo dân tham dự đầy đủ hơn, nhưng, tự bản tính, nó là bổ sung và tạm thời; còn bổn phận đầu tiên của những người có chức thánh vẫn là rao giảng Lời Chúa cho dân Chúa nhằm thánh hóa họ và để tôn vinh Thiên Chúa (Bộ Giáo Luật, số 213; 756#2; 757; 762 và 772#1; Huấn thị Bí tích Cứu độ, số 151).
2- Nghi thức đặt tay có ý nghĩa gì trong các cử hành phụng vụ? Việc Rẩy Nước phép trong nghi thức phụng vụ được phép thực hiện như thế nào?
A-    Nghi thức đặt tay có ý nghĩa gì trong các cử hành phụng vụ?
Hành động đặt tay bằng cách đặt một tay hay hai tay trên một ai đó hay trên một vật thể nào đó là cử chỉ mang ý nghĩa bí tích. Vì thế, cử điệu này được vị chủ sự cử hành phụng vụ sử dụng trong nhiều nghi thức phụng vụ với những ý nghĩa như sau:
  • Nài xin Chúa Thánh Thần ngự xuống (x. Cv 8,17.19-20; 19,6)thánh hóa lễ phẩm bánh và rượu [trong phần Kinh Nguyện Thánh Thể] để trở nên Mình và Máu Chúa Kitô hoặc diễn tả việc ban phép lành trọng thể cho đoàn dân trong thánh lễ nhưng hai tay của vị chủ tế phải giơ cao hơn những trường hợp khác (Xc. Lễ nghi Giám mục, số 105;106).[1]
  • Sai đi hay trao ban một sứ vụ (x. Cv 6,2-6; 13,2-3; 12Tm 4,14; 2Tm 1,6): như diễn ra trong nghi thức phong chức PT, LM và GM (QCSL, số 4). Cử điệu đặt tay của Đức Giám mục chủ phong trên các tiến chức bấy giờ diễn tả mối tương quan hiệp thông giữa tiến chức với Thiên Chúa và Hội Thánh để nhờ sự nâng đỡ của Thiên Chúa và cộng tác của toàn thể Hội Thánh họ có thể vươn tới Đấng Tuyệt Đối cũng như hoàn thành sứ vụ được trao phó.[2]
  • Ban ơn tha thứ và hòa giải (1Tm 5,22).
  • Chữa lành (x. Mt 7,32; 8,23-24; Mc 16,17-18; Lc 4,40; 13,13; Cv 28,8): như trong phép xức dầu bệnh nhân. Trong trường hợp có số đông bệnh nhân muốn lãnh nhận bí tích này thì không cần LM đặt tay trên từng người mà chỉ đặt tay trên một bệnh nhân đại diện thôi (Sách Lễ nghi Giám mục, số 653).[3] Cử điệu này nhằm 2 mục đích: [i] Cầu nguyện cho tâm hồn và thân xác người bệnh được mạnh mẽ trước những đau đớn và thử thách hiện tại họ phải đương đầu; [ii] Cộng đồng Hội Thánh chia sẻ gánh nặng họ đang phải mang và như muốn nói với bệnh nhân rằng họ không cô đơn khi phải mang vác những gánh nặng như thế.[4]
B-    Việc Rẩy Nước phép trong nghi thức phụng vụ được phép thực hiện như thế nào?
Nước thánh biểu trưng cho sự thanh tẩy. Trong bí tích Rửa tội, người ta dìm,rảy hoặc đổ nước trên thụ nhân bởi nước được coi là chất liệu chính yếu của bí tích này (x. Ga 3,5)Nước thánh là một phụ tích, vì thế được dùng để rảy trên người, trên vật thể và nơi chốn tùy nghi thức như dấu hiệu dùng trong việc ban phép lành và mang nhiều ý nghĩa khác nhau.
Rảy nước thánh trên các tín hữu nhắc nhớ họ về bí tích Tái sinh đã lãnh nhậnnhờ đó họ sẽ cùng chết, mai táng và phục sinh với Chúa Kitô, nghĩa là được thông dự vào cuộc chiến thắng của Chúa Kitô trên tội lỗi và sự chếtnghi thức này cũng đề cao “chức tư tế cộng đồng của tín hữu”[5] và nhấn mạnh đến mối liên hệ giữa bí tích Rửa tội và việc tham dự thánh lễ của họ.[6]
Việc rảy nước thánh trên vật thể và nơi chốn khi làm phép nhắc nhở chúng ta sử dụng các thực thể ấy vào mục đích tốt đẹp theo thánh ý Chúa Cha.[7]
Với ý nghĩa như vậy, việc rẩy nước thánh được phép thực hiện trong nhiều trường hợp, ví dụ như:
  • Ngày Chúa nhật, nhất là trong mùa Phục sinh, thay vì hành động thống hối thường lệ, đôi khi có thể làm phép và rảy nước thánh trên dân (xc.phần phụ lục II của Sách lễ Rôma 2002, 177-181; QCSL 51). Trong lễ Đêm Vọng Phục sinh, các tín hữu được rẩy nước thánh sau khi lập lại những lời cam kết của bí tích Rửa tội.
  • Trong nghi thức an táng, việc rảy nước thánh trên thi hài của tín hữu cũng nhắc nhở bí tích Thánh tẩy người đó đã lãnh nhận và nhờ bí tích này họ được đưa vào đời sống vĩnh cửu.[8]
  • Trong lễ cưới, linh mục làm phép nhẫn cưới với nước thánh không chỉ như một hành vi thanh tẩy mà còn là một dấu hiệu “sương rơi từ trên”. Sương rơi xuống mặt đất sẽ làm trổ sinh sự sống và phong nhiêu, do đó, ý nghĩa của việc làm phép nhẫn là hồng phúc của Thiên Chúa sẽ xuống trên đôi hôn nhân và sự phồn thịnh sẽ đến với gia đình họ.[9]
  • Làm phép và rảy nước thánh trên ảnh tượng thánh; vật dụng thánh dùng trong phụng vụ; lá trong ngày lễ Lá; tro trong ngày thứ tư lễ Tro, nến trong thánh lễ dâng Chúa vào đền thánh (2/2) ...
Những điểm sau đây cần lưu ý khi rảy nước thánh trong thánh lễ:
  • Nghi thức rảy nước thánh thay cho hành động thống (QCSL 51)chỉ được phép diễn ra trong thánh lễ, chứ không bên ngoài thánh lễ như trong hình thức thánh lễ ngoại thường.[10]
  • Nếu một giáo xứ lớn với khá đông người tham dự Thánh lễ và phải mất nhiều thời gian mới rảy xong, nên sử dụng thêm nhiều bình chứa khác. Các thừa tác viên sẽ chia nhau rẩy trong khu vực được phân công cho mình với một giúp lễ cầm bình nước thánh đi theo.[11]
  • Không rảy nước thánh từ phía sau lưng dân chúng.[12]
  • Đừng bao giờ làm nghi thức rẩy nước thánh quá long trọng đến nỗi làm lu mờ việc cử hành Phụng vụ Lời Chúa và Phụng vụ Thánh Thể.[13]
  • Chủ đề của bài thánh ca đi kèm nghi thức rẩy nước thánh phải liên quan đến ý nghĩa của nước, bí tích Thánh tẩy hay công cuộc canh tân đời sống.[14]

Ủy ban Phụng tự trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam
Tháng 3 năm 2019


[1] Xc. Peter Elliott, Ceremonies of the Modern Roman Rite, số 191.
[2] Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgy, 49.
[3]Xc. Edward McNamara, “Healing Masses” từ The ZENIT Daily Dispatch © Innovative Media, Inc. (21/07/2009).
[4]Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgy, 50.
[5] Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội Lumen Gentium, số 10.
[6] Xc. Edward Foley, “The Structure of the Mass, Its Elements and Its Parts”, trong ed. Edward Foley, A Commentary on the General Instruction of the Roman Missal (Collegeville, MN: A Pueblo/ The Liturgical Press,2007),142.
[7] Xc. Antonio Donghi, Words and Gesture in the Liturgydg. William McDonough, Dominic Serra, Ted Bertagni (Collegeville, MN: Liturgical Press, 2009), 48.
[8] Xc. Emilio HigglesdenSigns and Symboles: A Reflection”, Faith – Vol. 117, No. 4, 1990.
[9] Xc. Ibid.
[10] Xc. Edward McNamara, “Phó tế hoặc thừa tác viên giáo dân rảy nước thánh được không?”, dg. Nguyễn Trọng Đa, từ Zenit.org (24/05/2016).
[11] Xc. Denis C. Smolarski, Q & A: The Mass (Chicago: Liturgy Training Publications, 2002), 6-7.
[12] Ibid.
[13] Ibid.
[14] Dominic Thuần, sss, Cử hành Thánh lễ (Hoa Kỳ: Dân Chúa, 1994), 32.