Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Chủ Nhật, 29 tháng 3, 2020

Việc đình chỉ Thánh lễ thời covid-19 và việc chối Chúa trong bộ phim 'Im Lặng'

Việc đình chỉ Thánh lễ thời covid-19 và việc chối Chúa trong bộ phim 'Im  Lặng'

WGPSG -- Các Thánh lễ cộng đồng đã bị đình chỉ, nghĩa là Thánh lễ vẫn được cử hành - ngay cả cho chúng ta - nhưng chúng ta sẽ không có mặt ở đó. Chúng ta chỉ tham dự riêng rẽ qua màn hình trực tuyến, cũng giống như bao nhiêu người khác phải học trực tuyến, làm việc trực tuyến...

Dù sao, đây cũng là sự mất mát đáng buồn nhất cho các tín hữu Công giáo, vì tham dự thánh lễ cộng đồng là một trong những niềm hạnh phúc lớn lao và là nghĩa vụ ân tình của ta đối với Chúa và với nhau. Tuy nhiên, hy sinh nghĩa vụ thánh thiêng này lại chính là cái giá phải trả để có thể chu toàn trách nhiệm đối với nhau trong đại dịch covid-19. Vì trách nhiệm xã hội và trách nhiệm đạo đức, chúng ta cần phải thuận tình tuân theo những đề xuất hợp lý đó của Nhà chức trách.

Trong tình huống này, có nhiều người liên tưởng đến sự hy sinh lạ lùng của các nhà truyền giáo Dòng Tên trong phim ‘Im Lặng’ của đạo diễn Martin Scorsese: Chấp nhận vâng lời Chúa để chối Chúa mà cứu mạng sống các tín hữu!

Dưới đây là 5 câu hỏi đầy bức xúc thường được đặt ra sau khi khán giả xem xong bộ phim ‘Im Lặng’ - một bộ phim đầy ấn tượng về các nhà truyền giáo ở Nhật Bản trong thời kỳ cấm cách đạo Chúa. Và các câu trả lời là của linh mục James Martin, S.J. - người đồng hành với đạo diễn của bộ phim ‘Im Lặng’.
   + Tại sao linh mục Rodrigues nhiệt tình đi truyền giáo mà rốt cuộc lại chối bỏ đạo Chúa?
   + Sau khi chối đạo, linh mục Rodrigues có còn tin Chúa nữa không?
   + Kichijiro có phải là một nhân vật khôi hài không?
   + Tại sao Thiên Chúa lại im lặng trước bao đau khổ của những kẻ sẵn sàng chết vì Ngài?
   + Tại sao các nhà truyền giáo lại phải đi đến những nơi khốn khổ đó?

Bộ phim ‘Im Lặng’ ra mắt năm 2016 của đạo diễn Martin Scorsese - kể lại chuyện các linh mục dòng Tên truyền giáo tại Nhật Bản vào thế kỷ 17 - đã được công chiếu trên toàn thế giới. Sau khi phim được phát hành, nhiều người đã gửi cho tôi (Lm James Martin, S.J.) vô số thắc mắc về phim này vì họ biết tôi là một trong những chuyên gia tư vấn cho bộ phim. Và trên đây là 5 thắc mắc được nhiều người đặt ra nhất.


1. Tại sao linh mục Rodrigues nhiệt tình đi truyền giáo mà rốt cuộc lại chối bỏ đạo Chúa?

Trước hết, bỏ đạo có nghĩa là từ bỏ đức tin của mình. Trong phim “Im Lặng”, trước khi linh mục Rodrigues đến Nhật Bản, cũng đã từng có một linh mục tên là Ferreira (do tài tử Liam Neeson thủ vai) đã bị tra tấn, rồi bị nhà chức trách Nhật Bản đe doạ rằng: Nếu Ferreira không chối bỏ đạo Chúa, thì các Kitô hữu Nhật Bản - trong đó có những giáo dân thân yêu của ngài - sẽ bị tra tấn dã man đến chết. Như đã thấy từ đầu phim, linh mục Ferreira đã quyết định chối đạo để khỏi phải nhìn thấy những người thân quen của mình chịu đau khổ. Cha Giám tỉnh dòng Tên của Ferreira đã nói với hai linh mục trẻ tuổi Rodrigues và Garupe rằng: “Vì chúng ta mà cha Ferreira đã không còn được gọi là ‘Kitô hữu’ nữa (đã mất)!” 

Lời đe dọa của chính quyền - buộc một người phải chối đạo để tránh cho nhiều người khác khỏi bị tra tấn đến chết - là điều hiếm thấy. Thông thường, trong lịch sử Kitô giáo, chính đương sự bị đưa ra tra tấn và chết vì niềm tin của chính mình.

Rồi cũng giống như cha Ferreira, sau bao nhiêu gian khổ mới đến được Nhật Bản, và trốn chui trốn lủi để truyền giáo, cuối cùng hai linh mục trẻ tuổi Rodrigues và Garupe cũng đã bị bắt và phải đối mặt với tình trạng tiến thoái lưỡng nan: chọn dẵm đạp lên ảnh Chúa để giáo dân của họ được tự do, hoặc cương quyết từ chối động tác này để rồi giáo dân của mình bị hành hình đau đớn khủng khiếp. Đó là một lựa chọn gần như bất khả thi. Như vậy, cả hai linh mục ấy buộc phải "suy tính" trong một tình huống phức tạp, và không dễ tìm được cách giải quyết thích đáng. Cha Rodrigues và cha Garupe đến từ một thế giới ‘đen trắng rạch ròi’, thế mà phải đưa ra những quyết định đau đớn trong một thế giới màu xám - đen và trắng lẫn lộn nhau, rất khó phân định.

Một số nhà phê bình dường như không hiểu được những khó khăn vốn có của sự lựa chọn này."Tại sao các linh mục dòng Tên ấy không đạp lên ảnh của Chúa Giêsu ngay lập tức để cứu các bổn đạo bớt phải đau đớn ngay từ đầu?"- một nhà báo hỏi tôi. Phóng viên này đã quên mất một điểm then chốt. Toàn bộ cuộc đời của các linh mục dòng Tên là dành cho Chúa Giêsu, Đấng mà họ kết hiệp thường xuyên qua việc suy niệm Tin Mừng, lãnh nhận các bí tích, cầu nguyện và thi hành sứ vụ, đặc biệt qua kinh nghiệm linh thao là một loạt các suy niệm về Chúa Giêsu. Cha Rodrigues đã nhiều lần cả tiếng nói chuyện với Chúa Giêsu, cầu nguyện với Chúa và thường hay tưởng tượng nét mặt thân yêu của Chúa. Chúa Giêsu là trung tâm đời sống của các linh mục dòng Tên. Muốn các tu sĩ dòng Tên dẹp bỏ ngay lập tức mối quan hệ thần thiêng đó - để chối đạo tức thời - là điều hoàn toàn phi thực tế.

Chỉ đến phút cuối, sau những trải nghiệm đau thương, bao gồm việc bị tra tấn và chứng kiến các tín hữu bị hành hình, rồi sau những giờ phút cầu nguyện vật vã, và đặc biệt, sau khi nghe được giọng nói của Chúa, cha Rodrigues mới quyết định dẵm lên ảnh Chúa.

Cha đã dẵm lên ảnh Chúa, không đơn giản chỉ vì muốn cứu mạng sống của các tín hữu Nhật Bản, mà còn vì - khi cầu nguyện - cha biết được chính Chúa Giêsu dạy phải làm như thế. Như vậy, khác với những lời của các nhà phê bình phim ảnh, phim này hoàn toàn không có ý đề cao việc chối đạo, mà là đề cao ý Chúa.

Nhiều khán giả Kitô hữu có vẻ đã hoang mang khi thấy trong phim, chính Chúa Giêsu dạy cha Rodrigues dẵm lên ảnh thánh. Vâng, chính Chúa Giêsu đã yêu cầu linh mục này làm như thế mà cứu các bổn đạo!

Làm sao chúng ta có thể hiểu được điều ấy về mặt thần học? Có lẽ chỉ hiểu được khi ta nhìn vào kinh nghiệm của Chúa Giêsu trong cuộc khổ nạn, như đã được ghi lại trong Phúc Âm. Trong vườn Cây Dầu, Chúa Giêsu đã phải chiến đấu nội tâm dữ dội mới hiểu được ý Chúa Cha khi cầu nguyện: "Cha ơi, nếu Cha muốn, xin hãy cho con khỏi uống chén này!" Ngài không muốn chết. Nhưng rồi Ngài cầu nguyện thêm: "Nhưng không phải theo ý Con, nhưng xin theo ý Cha!" (Lc 22,42). Chúa Giêsu làm một điều mà mọi người thân của Ngài đều phản đối. Ngay cả Phêrô cũng không muốn Chúa Giêsu phải chịu khổ: “Xin Thiên Chúa thương đừng để Thầy gặp phải chuyện ấy!” (Mt 16,22). Các tông đồ không muốn Chúa Giêsu chịu đau khổ, càng không muốn Chúa phải vác thập giá. Với họ, việc vác thập giá chẳng có ý nghĩa gì cả!

Tuy nhiên, Chúa Giêsu chấp nhận làm công việc xem ra vô nghĩa đó vì đây là điều Chúa Cha yêu cầu. Việc làm này của Ngài, bề ngoài xem ra chẳng có liên quan gì đến Chúa Cha. Tương tự như thế, hành động của linh mục Rodrigues bên ngoài xem ra chẳng có ý nghĩa gì trong mối quan hệ giữa Rodrigues với Chúa Kitô. Nhưng nói cho cùng, không có gì khó hiểu ở đây cả: linh mục này đạp lên ảnh Chúa, đơn giản chỉ vì Chúa đã yêu cầu như thế. Và đối với những người nói rằng Chúa Kitô sẽ không bao giờ đòi hỏi một điều phi lý như vậy, thì xin hãy tự hỏi: các môn đệ đã cảm thấy như thế nào khi Chúa Giêsu bảo họ phải chịu đau khổ và phải chết? Sao lại phải làm một điều vô nghĩa như thế?

Một số cuộc thảo luận xung quanh bộ phim này thậm chí có thể phản ánh các cuộc tranh luận đang diễn ra bên trong Giáo hội hôm nay về việc Đức Giáo hoàng Phanxicô nhấn mạnh đến "sự phân biện" đối với những người phải đối mặt với những tình huống phức tạp, trong đó lối tiếp cận ‘đen trắng rành rọt’ dường như không thích hợp. Một người bạn dòng Tên cảm thấy câu hỏi thiết yếu mà bộ phim đặt ra là: Liệu chúng ta có tin rằng Thiên Chúa vẫn làm việc qua lương tâm của mỗi người, và Ngài giúp họ nhận ra được con đường đúng đắn nhất trong các tình huống phức tạp, ở đó các quy tắc bình thường dường như không phù hợp với thực tế của tình huống đặc biệt ấy?

Trong sách Linh Thao, Thánh Ignatio có nói đến ba mức độ khiêm tốn.

Mức độ thứ nhất là khi người ta không làm gì sai trái về mặt luân lý. Nghĩa là, họ đang có một cuộc sống lành mạnh.

Mức độ thứ hai là khi một người, đứng trước những lựa chọn - ví dụ giữa giàu có và nghèo đói, hay giữa danh dự và nhục nhã - anh ta cảm thấy hoàn toàn tự do để chấp nhận bất cứ điều gì Chúa muốn, không vướng víu vào bất kỳ bên nào hay cái nào. Hễ Chúa muốn cái gì thì tôi chọn cái ấy, bất kể là giàu có hay nghèo đói, danh dự hay nhục nhã.

Mức độ khiêm nhường thứ ba, cao nhất, là khi một người có thể chọn điều xem ra đáng hổ thẹn, nhưng lại đưa họ đến gần Chúa hơn, như sách Linh Thao viết: "Tôi muốn được xem như một kẻ ngu dốt bất tài vì Đức Kitô, Đấng đã từng bị xem như thế". Đó là một người chấp nhận bị người khác hiểu lầm, giống như Đức Kitô đã từng bị hiểu lầm.

Và đấy là những gì linh mục Rodrigues đã chọn: đã chấp nhận sự hiểu lầm từ các Kitô hữu châu Âu, từ các bề trên dòng Tên của ngài, và thậm chí từ những người xem phim hiện đại.

2. Sau khi chối đạo, linh mục Rodrigues có còn tin Chúa nữa không?

Sau khi chối đạo, Rodrigues không còn có thể sống đời linh mục nữa, phải sống âm thầm ở Nhật như một người Nhật Bản có gia đình. Ở cảnh cuối của bộ phim, đạo diễn Scorsese cho khán giả xem tang lễ của Rodrigues. Trong nghi thức lễ tang, người vợ Nhật của Rodrigues đã bỏ vào tay chồng mình chiếc thánh giá mà trước đó, một trong những người bạn Kitô hữu Nhật Bản đã tặng cho vị linh mục này khi đang truyền giáo. Khi đọc lần đầu tiên kịch bản của cảnh cuối này, tôi đã rất xúc động với hình ảnh cho thấy Scorsese đã "giữ thật chặt" đức tin của mình cho đến khi xuống mộ.

Người vợ của Rodrigues hẳn đã hiểu rõ: cây thánh giá này có giá trị vô cùng lớn đối với chồng bà, hiểu rằng đức tin của Rodrigues là vô cùng quan trọng đối với ông. Với những khán giả còn nghi ngờ niềm tin của Rodrigues sau khi chối đạo, xin vui lòng tự hỏi: Rodrigues còn giữ thánh giá này làm gì nếu ông không còn tin nữa - nhất là khi vật thánh này sẽ là mối nguy lớn cho bản thân ông và gia đình, nếu bị phát giác.

Thật vô lý khi cho rằng một linh mục dòng Tên có thể bất ngờ không còn tin Chúa Giêsu, Đấng mà ông đã tin tưởng yêu mến suốt quãng đời rất dài, thậm chí là đã từng chịu mọi gian khổ để rao giảng về Ngài. Một lần nữa, tôi muốn phân biệt việc ‘giữ đức tin’ với việc ‘công khai chối đạo’. Ngay cả linh mục Ferreira - được tài tử Liam Neeson thủ vai rất tinh tế - có vẻ như cũng không hề thoải mái khi nói với Rodrigues về việc công khai chối đạo của mình. Trong phim, lời nói của Ferreira thì diễn tả sự chối đạo, nhưng khuôn mặt của Ferreira thì lại cho thấy ông vẫn đang bị dằn vặt với quyết định ấy của mình.

Nhưng có một cách dễ dàng nhất để thấy rằng Rodrigues vẫn tin tưởng vào Chúa, đó là - vào cuối phim - mặc dù đã công khai chối đạo, Rodrigues vẫn cầu nguyện. Ông đã nói với Chúa: “Cho đến tận hôm nay, tất cả những gì con làm, mọi thứ con đã làm, đều là để nói về Chúa. Chính trong im lặng mà con nghe thấy tiếng Ngài”. Nếu không còn tin Chúa, Rodrigues đã không nói chuyện với Chúa nữa.

3. Kichijiro có phải là một nhân vật khôi hài không?

Tôi nghe nói rằng: khuôn mặt của Kichijiro - là anh chàng hướng dẫn viên Nhật Bản đầu tiên của Rodrigues và Garupe, rồi sau đó thành bạn của Rodrigues - đã mang lại những tiếng cười thú vị trong rạp chiếu phim. Kichijiro đã từng nhận mình là một kẻ tội lỗi. Anh chối đạo nhiều lần và đã hèn nhát khai nộp Rodrigues cho nhà chức trách Nhật Bản.

Đặc biệt, Kichijiro đã nhiều lần đến với linh mục Rodrigues để xưng tội, và tận cuối bộ phim, sau khi Rodrigues đã chối đạo rồi, anh vẫn tìm kiếm vị ‘cựu linh mục’ này để tha thiết xin xưng tội.

Khán giả đã bật lên tiếng cười khi thấy Kichijiro nhiều lần tái phạm tội chối đạo, rồi cũng nhiều lần vội vã cắm cúi đi xin xưng tội ngay sau đó. Tôi thấy, con người là như thế! Trong chúng ta, ai đã không từng phải chiến đấu với một thứ tội nào đó, một cái tội dai dẳng thường xuyên quay trở lại ám ảnh chúng ta? Ai đã không từng cảm thấy xấu hổ về việc mình cứ phải xưng tội nhiều lần về cùng một thứ tội hay phạm? Ai đã không từng rất nhiều lần mong ước nhận được sự tha thứ của Chúa?

Vào cuối phim, anh chàng rất yếu đuối này dường như cũng muốn giúp Rodrigues quay trở lại với sứ vụ linh mục của mình khi tìm đến xin xưng tội với Rodrigues. Trong một cảnh rất cảm động, do sự nài nỉ của Kichijiro, Rodrigues đã nghiêng đầu mình trên đầu của Kichijiro, như thể là đang cầu nguyện cho hắn. Và xem ra cũng rất giống như đang xá tội cho hắn!

Cảnh cuối cùng về Kichijiro có thể được coi là huyền nhiệm nhất: Một viên chức Nhật Bản chú ý đến chiếc dây Kichijiro đang đeo quanh cổ và giật đứt nó. Viên chức này mở chiếc túi nhỏ gắn liền với sợi dây và trông thấy một tấm ảnh đạo, nên nhanh chóng bắt Kichijiro đi, có lẽ là dẫn đi xử tử.

Tôi phải xem đến ba lần mới nhận ra điều lạ lùng này: Kichijiro cuối cùng đã trở thành vị tử đạo truyền thống của Kitô giáo, có thể được mọi người Công giáo công nhận để đưa lên bàn thờ mà tôn kính, vì hắn quả thật đã chết vì đạo Chúa. Nhưng thật mỉa mai khi anh chàng "yếu đuối" ấy lại vô tình trở thành một vị anh hùng, trong khi người đàn ông "mạnh mẽ hơn", là Rodrigues, đã từng chịu bao nhiêu khổ cực khi đi truyền giáo, đã "tử vì đạo" theo một cách khác, lại sẽ không bao giờ được tôn kính, thậm chí có thể bị khinh miệt mãi mãi vì đã dẵm đạp lên ảnh Chúa (dù là để làm theo ý Chúa mà cứu sống nhiều người). Đây quả là một huyền nhiệm khó hiểu về sự hy sinh và tử đạo.

4. Tại sao Thiên Chúa im lặng?

Đây có lẽ là câu hỏi khó nhất; và vì thế, không có gì ngạc nhiên khi cả Endo và Scorsese đều lấy cụm từ này làm tựa đề cho cuốn sách và bộ phim của mình (Bộ phim “Im Lặng” của đạo diễn Scorsese đã được thực hiện theo nội dung cuốn tiểu thuyết cùng tên của nhà văn Nhật Bản Endo).

Rất nhiều lần, linh mục Rodrigues đã rên rỉ than van về sự im lặng của Chúa. Điều này có thể hiểu theo hai nghĩa:


   + Một là, linh mục Rodrigues không cảm nhận được sự hiện diện của Chúa khi cầu nguyện. Cha cảm nhận rõ rệt sự vắng mặt này khi run rẩy ngập ngừng trước quyết định giẫm lên ảnh thánh (Khi vừa giẫm lên ảnh Chúa để mong cứu các bổn đạo, linh mục Rodrigues ngay sau đó đã đổ người xuống đất, ôm chặt lấy ảnh thánh mà khóc nức nở. Ôi, cha Rodrigues đâu muốn làm như thế! Chúa ở đâu? Sao Chúa lại im lặng?).


   + Hai là, linh mục Rodrigues cảm thấy rằng Thiên Chúa im lặng khi không giúp đỡ những người đang bị tra tấn dã man đến chết. Cảnh hai linh mục dòng Tên vô cùng đau khổ khi núp trong bụi cây từ xa, kinh hoàng nhìn các Kitô hữu Nhật Bản bị đóng đinh trên biển. Họ mong có một biến cố gì đó xảy ra để giúp các tín hữu khỏi bị giết chết (nhưng hoàn toàn vô vọng, vì Chúa cứ… im lặng?)

Sự im lặng của Chúa theo nghĩa thứ nhất: Có rất nhiều ví dụ về những Kitô hữu đạo đức cảm thấy Chúa thật xa vắng. Một ví dụ gần đây nhất chính là Thánh Têrêsa Calcutta, đã trải qua một "đêm tối" trong suốt nhiều thập kỷ, trải dài cho đến cuối cuộc đời. Cuốn sách “Im Lặng” của nhà văn Endo đã được viết trước khi những trải nghiệm tăm tối của Mẹ Têrêsa về sự im lặng của Thiên Chúa được công bố. Nhưng Endo đã biết những trải nghiệm đau đớn của các vị thánh khác về sự im lặng của Thiên Chúa, ví dụ, Thánh Gioan Thánh Giá. Tương tự như Thánh Têrêsa Calcutta, linh mục Rodrigues đã rất nhiều lần đau đớn vì không nghe được tiếng Chúa khi cầu nguyện, khác với trước đó khi cha đã từng nghe được tiếng Chúa nói với mình.


Tuy nhiên, khi kết thúc bộ phim, Rodrigues nói rằng Chúa vẫn ở trong "mọi sự" (cách nói của Dòng Tên là "tìm thấy Chúa trong mọi sự.") "Chính trong im lặng mà con đã nghe được tiếng Chúa", cha nói. Bên cạnh việc nghe được tiếng Chúa Kitô yêu cầu cha giẫm lên ảnh thánh, cha còn nhận ra rằng Chúa luôn ở với mình, ngay cả khi không nói gì với cha khi cha cầu nguyện. Cha nhận ra rằng, dù không nói gì với cha trong nội tâm, Thiên Chúa vẫn nói với cha qua những sự việc bên ngoài.

Sự im lặng của Chúa theo nghĩa thứ hai: Thiên Chúa im lặng khi không giúp đỡ những người đang bị tra tấn dã man đến chết. Đây là điều khó trả lời hơn, cũng là vấn nạn muôn thuở về đau khổ và sự dữ. "Tại sao lại có đau khổ?" Sẽ không có một câu trả lời nào có thể làm thỏa mãn tâm hồn những người đang phải trải qua những đau khổ sâu xa, cho dù họ có đạo đức đến mấy đi nữa. 

Tuy nhiên, ba quan điểm Kitô giáo về đau khổ có thể được coi là hữu ích.

Thứ nhất, Kitô hữu tin rằng Chúa Giêsu, Đấng đã trải qua đau khổ, hiểu được đau khổ và gần gũi với người đau khổ. Thứ hai, trong cái nhìn sâu sắc đó, một số nhà thần học đã nói về một vị Thiên Chúa cùng chịu đau khổ với những người đau khổ. Thứ ba, Kitô hữu tin rằng đau khổ không bao giờ là tiếng nói sau cùng. Luôn luôn có hy vọng về sự Phục Sinh, về cuộc sống mới không chỉ dành cho người đau khổ mà cho toàn thể nhân loại.


Vậy Chúa ở đâu khi những Kitô hữu Nhật Bản đang bị tra tấn và bị đóng đinh? Tôi dám nghĩ rằng: Chúa đang cùng với họ, cận kề họ, bên cạnh họ và nhìn họ chằm chằm với nỗi đau khổ giống như hai linh mục Rodrigues và Garupe đang đau đớn nhìn những tín hữu thân thiết của mình bị đóng đinh trên bờ biển.

5. Tại sao các nhà truyền giáo lại đến đó và ở đó?

Rất nhiều nhà phê bình đã đặt câu hỏi này với sự chê trách: Đến đó và ở đó làm gì để rồi cuối cùng thất bại đến mức một kẻ giảng đạo lại trở thành kẻ công khai chối đạo?

Lịch sử các nhà truyền đạo Kitô ở Nhật Bản - và cả ở những nơi khác - là một vấn đề phức tạp. Hãy nhớ rằng, khi nói về ‘các nhà truyền đạo Kitô’, chúng ta đang nói về một lịch sử hơn 2000 năm, bắt đầu từ Thánh Phaolô và diễn ra ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Thêm vào đó, sự đa dạng của quê hương các nhà truyền giáo càng làm tăng nét phức tạp của lịch sử. Ngay cả khi chúng ta chỉ đơn giản xem xét thời đại của bộ phim là thế kỷ 17: đó chính là lúc hầu hết các quốc gia Châu Âu đều đã gửi các nhà truyền đạo Kitô ra nước ngoài. Hơn nữa, chúng ta còn phải kể đến nhiều cách tiếp cận khác nhau của nhiều dòng tu Công giáo đang hoạt động trong lĩnh vực truyền giáo: Dòng Phan Sinh, Dòng Tên, Dòng Đa Minh, v.v... Trong một số trường hợp, các linh mục và tu sĩ truyền giáo đã cùng đi với đại diện quyền lực của thực dân và đã bị coi như là các phụ tá của các nhà hoạt động chính trị này (cho dù cái nhìn đó thường không đúng).

Các nhà truyền giáo đã đến những vùng đất mới này để đem lại những gì họ coi là quà tặng vô giá cho những người mà họ sẽ gặp: đó là Tin Mừng của Chúa Giêsu Kitô.


Chúng ta hãy nhìn vào trường hợp của hai linh mục Rodrigues và Garupe. Cả hai đều đến Nhật Bản để loan truyền Phúc Âm. Họ được gửi đến từ Bồ Đào Nha, không chỉ đơn giản là tìm Cha Ferreira, mà còn ở lại Nhật Bản nữa. Họ mang đến cho dân tộc ấy một điều quý báu nhất: Đó chính là Chúa Giêsu. Có ngạo mạn không khi nói rằng họ đang mang đến một món quà? Vài người có thể nghĩ như vậy, nhưng tôi thì không. Hãy nghĩ về những nhà truyền giáo như là các thầy thuốc muốn mang thuốc đến với những người mà họ biết là đang rất cần những thang thuốc này. Và họ đã làm như vậy, cho dù rất nguy hiểm cho chính mạng sống của họ.

Trong thực tế, các nhà truyền giáo Dòng Tên đã hy sinh vô vị lợi cho các dân tộc mà họ đang phục vụ - chịu đựng những khó khăn khủng khiếp về thể xác, nghiên cứu ngôn ngữ địa phương (thậm chí còn soạn từ điển cho những ngôn ngữ đó, mà hiện vẫn đang được sử dụng), ăn những thực phẩm xa lạ và làm việc vất vả như những người mà họ phục vụ (xem nhật ký của Thánh Jean de Brébeuf -một trong những vị tử đạo ở Bắc Mỹ- và lời khuyên của ngài với các anh em dòng Tên rằng họ cần phải chèo thuyền vất vả như người Huron để không bị xem là lười biếng). Điều đó được gọi là "hội nhập văn hoá", một sự yêu thương gắn bó chính mình vào nền văn hoá địa phương.

Các linh mục dòng Tên đã làm như thế vì tình yêu. Vì yêu Chúa và các dân tộc mà họ đã tận tâm phục vụ. Nếu bạn nghi ngờ động lực của họ, thì tôi xin hỏi điều này: Bạn có sẵn lòng bỏ lại đằng sau tất cả những gì bạn biết - bỏ quê hương, ngôn ngữ, gia đình, bạn bè, thực phẩm, văn hoá, truyền thống của bạn - để đi đến tận cùng thế giới với bao nhiêu nguy hiểm đợi chờ, mong tặng một món quà cho một nhóm người mà bạn chưa bao giờ gặp, một nhóm người mà nhiều người ở nước bạn nghĩ là không xứng đáng được tặng món quà ấy vì biết rằng bạn có thể bị tra tấn và giết chết? Đối với tôi, đấy là hành động của một tình yêu vĩ đại.

Như vậy cuối cùng, phim "Im lặng" chính là phim nói về tình yêu. Trước hết, đó là tình yêu của hai linh mục trẻ Rodrigues và Garupe đối với người thầy cũ của mình là Cha Ferreira. Đó là tình yêu của ba linh mục dòng Tên đối với dân tộc Nhật Bản. Và tình yêu mãnh liệt của Cha Rodrigues đối với Chúa Giêsu Kitô.


Trên tất cả, đó chính là tình yêu của Chúa Giêsu dành cho linh mục Rodrigues, dành cho anh em Dòng Tên, dành cho dân tộc Nhật Bản và cho toàn thể nhân loại. Khi hiểu được tình yêu này, bạn sẽ hiểu được nội dung của phim "Im lặng".

Lm James Martin, SJ / Lm Vi Hữu chuyển ngữ (Nguồn: Sách Nhịp Sống Tin Mừng)

Trả giá hay thánh giá?


Nhân loại đã trải qua một thập kỷ vẻ vang với hàng loạt những thành công rực rỡ trong nhiều lĩnh vực khác nhau của cuộc sống. Tuy nhiên, ngay trong buổi bình mình của một thập kỷ mới, nhân loại ấy đang phải gồng mình chống trả với một “tên tử tù” Covid-19. Hơn nữa, chúng ta cũng đừng “cố tình” quên đi một thập kỷ đáng báo động về môi trường, chúng ta đang “ăn mòn” trái đất. Dường như trong chuyện Cô Vy, con người khó thoát khỏi phần trách nhiệm của mình. Phải chăng chính con người đang phải trả giá cho những đã diễn ra? Đó có phải là một giá quá đắt không?
Suốt những ngày tháng qua, dường như Mẹ Trái đất đang khóc thương những đứa con yêu dấu của mình vì chúng bất lực ra đi từng giờ từng phút vào cõi ngàn năm. Đồng thời, khi nhìn lại, người mẹ ấy cũng đã phải chịu quá nhiều những vết thương do chính con cái mình gây ra. Trái đất ngày càng nóng lên, hạn hán nhiều chỗ, cháy rừng “tưng bừng” khắp nơi, hiệu ứng nhà kính thì hình như không có đối thủ cạnh tranh, băng tan tràn lan như “tức nước vỡ bở” khiến nước biển dâng cao cứ muốn lao lên bờ, sinh vật biển tự nhiên thành vật hiến tế cho rác thải, ni-lông,.v.v. Tất cả những vết “trọng thương” ấy có phải là lỗi của tôi và của bạn chăng? Thế mà, giờ đây, hình như Cô Vy đang muốn “thay trời hành đạo”, đi dạo khắp ngõ ngách, gõ cửa từng nhà, rà từng con người.
Cô Vy xuất hiện, bao người phải hứng chịu, bao kẻ phải đợi trông. Người ta đâu dám ra ngoài chặt phá rừng trên từng cây cả bóng giày lâu năm. Thế là, cây cỏ có chỗ đứng, động vật có chỗ nằm. Người ta đâu được đi du lịch, nghỉ dưỡng ngoài bãi biển nữa. Hóa ra, bãi kia vắng bóng người, giảm chất thải, tự nhiên trả lại làn nước trong bầu khí lành cho các loài sinh vật tha hồ vui đùa mà không lo bị lừa vì ăn nhầm bao bì, ni-lông, rác thải nhựa. Công nhân đâu dám đi làm, các nhà máy gần như hết hoạt động, các KCN dần đóng cửa. Thành ra, điều ấy trả lại cho bầu trời vẻ trong lành, xanh mát vốn có của nó. Người dân hạn chế đi lại, tụ tập, đồng nghĩa với chuyện giảm khí thải bớt tiếng ồn, nhất là trên bầu trời không còn “vết chân” CO2 của những chuyến máy bay nữa. Đường phố bỗng trở nên tĩnh lặng lạ thường, nhường chỗ cho thiên nhiên mặc sức thể hiện, những làn gió chiều nhè nhẹ, tiếng chim ca thánh thót, từng đàn sóc lượn quanh…Giờ này, ta có thể nghe rõ tiếng thầm thì của thiên nhiên trong yên bình, lặng thinh. Hay chăng băng sẽ bớt tan, hiệu ứng nhà kính sẽ “im tiếng”, nước biển “biết điều” hơn. Thế ta mới hiểu:
Nắng mưa đâu chỉ chuyện trời
Đó còn là chuyện của người của ta.
Vì Cô Vy, phần lớn các sự kiện, hoạt động có sự hiện diện của đông người đều bị hoãn hay hủy bỏ. Cô Vy đặt ngay cái biển to tướng “GIẢM TỐC ĐỘ” ngay trước mặt mọi người, làm người ta tránh xa chỗ ồn ào, náo động, khiến họ chậm lại hơn với nhịp bước “PHÓNG NHANH VƯỢT ẨU” đã từng tước đi của họ bao cơ hội như vàng như ngọc. Cô Vy khiến bao người phải dẹp bỏ lợi ích của bản thân mình, sống tình liên đới với tha nhân. Cô Vy khiến họ phải dẹp cái tôi “chính hiệu to tướng” của mình, nhường chỗ cho tinh thần cộng tác yêu thương. Giờ đây, “tinh thần cộng đồng” vốn là nét đẹp của Văn hóa Việt xưa này được sống lại lần nữa.
Do Cô Vy, người ta “phải” ở nhà, vì nó an toàn hơn ra ngoài phố. Có thể “nhà” vốn chỉ là chốn dừng chân, nơi nghỉ trọ của không ít người, nay lại được trở về với vẻ nguyên vẹn thuở xưa của nó, một tổ ấm. Người bôn ba, kẻ tha hương nơi xứ người nay trở về với mái nhà thân yêu thuở nào. Kẻ có cơ hội đoàn viên “bất đắc dĩ”, hay là chuyện có một không hai. Người được ngủ đầy giấc, tận hưởng từng bữa cơm mà lâu nay vô tình quên ngoài đường quá, phố xá xa lạ. Kẻ đỡ cái gánh, cái áp lực nơi công sở, căn thẳng chốn thương trường…Trong chính thời “loạn lạc” này, thất nghiệp, lương thiếu khiến bao người cần hiểu triết lý tiết kiệm phải hiện diện trong nhà mình. Thế mới tránh phung phí nhu cầu hưởng thụ, lãng phí đồ ăn, thức uống theo thói quen “dư giả” của ta, vì kiếm đâu ra tiền để mua, tìm đâu ra chỗ để bán. Đúng là, “thà vô sự mà ăn cơm hẩm còn hơn đâu bệnh mà uống sâm nhung”. Cũng có người dành nhiều thời giờ hơn cho cha mẹ, người thân. Biết đâu những rạn nứt lâu nay lại được gắn hàn. Biết đâu lúc đã vương chút mùi đời, ta mới hiểu tình cha tình mẹ thương ta thế nào. Biết đâu lúc đã nếm vị nhớ nhà, ta lại tha hồ hưởng vị ngọt của công cha, hương thơm của nghĩa mẹ. Biết đâu khi đã xa mùi anh hương chị, ta được đi lại những kỷ niệm tháng năm thuở nào. Biết đâu khi đang thèm câu kinh gia đình, đang khát lời nguyện cùng mẹ cha, ta có dịp tìm về cội nguồn đức tin, cảm thức ngày nào dưỡng ta khôn lớn. Lẽ nào ta đang phải trả cái giá quá đắt vì “chẳng may” quên mái nhà thân yêu, lãng phí lời mẹ, phung phí sức cha. Giờ đây, có thể là cơ hội “vàng ngọc” để học lại bài biết ơn, ôn lại bài yêu thương ngày trước.
Có Cô Vy, ta không thể cùng nhau tham dự Thánh Lễ. Không Thánh Lễ, có thể nhiều người sẽ tiếc nuối một thời “bỏ lễ” vì dễ dãi với chính mình, có người thèm lời kinh điệu hát, khát bài giảng có lúc bỏ ngơ. Không Thánh Lễ, có người lỡ “đánh rơi” ân sủng của Lời Chúa, vô tình “làm rớt” tình yêu trong Thánh Thể dành cho riêng mình. Giờ đây, ta mới trân quý giá trị của Thánh Lễ, ta mới hiểu đỉnh cao của Phụng vụ Giáo Hội là thế nào.
Đúng là phải trả giá! Cái giá đáng giá bao nhiêu? Nhưng trong chuyện này, có lẽ nhân loại cũng đang vác thánh giá cùng với Đức Giê-su lên đồi Can vê năm xưa.
Chiêm ngắm cuộc thương khó của Chúa Giê-su:
Phải chăng nhân loại đang lãnh bản án “Covid-19” trong cuộc thương khó mùa chay 2020 này?
Thế ai là tên phản bội Giu-đa? Ai là những người thuộc nhóm Pha-ri-sêu hay người dân Do thái kết án, buộc tội nhân loại? Nhân loại có đáng phải chịu bản án này?
Những vết thương của nhân loại như thế nào?
Những người môn đệ ở đâu trong giờ này?
Trong hành trình 14 chặng đàng thánh giá, nhân loại đang ở chặng thứ mấy?
Tôi và bạn ở đâu, là ai trong cuộc thương khó này của nhân loại?
Nhưng “nếu chúng ta cùng chết với Đức Kitô, chúng ta cũng sẽ cùng sống với Người: đó là niềm tin của chúng ta” (Rm 6,8)?

Lyeur Nguyễn

Văn hoá mùa chay giữa cơn đại dịch

2020.02.24  quaresima

Chưa có khi nào Giáo Hội Công Giáo khắp thế giới phải trải qua một Mùa Chay đặc biệt như năm nay. Trước sự bùng phát và diễn tiến bất thường của cơn đại dịch virus Vũ Hán, nhịp sinh hoạt của thế giới và của cả Giáo Hội cũng bị đảo lộn. Giáo Hội nhiều nơi đã phải tuyên bố đình chỉ mọi Thánh Lễ vì lý do an toàn và sức khoẻ cộng đồng. Thế là rất nhiều tín hữu Công Giáo trong mùa Chay này không chỉ phải giữ chay trong việc ăn uống, mà còn phải “chay” cả Thánh Lễ, “chay” cả những cuộc tĩnh tâm và những buổi hội họp đông người.

Dưới ánh sáng của biến cố đại dịch mà cả nhân loại đang phải trải qua, chúng ta cùng đọc lại ba lời mời gọi chính yếu của Mùa Chay là ăn chay, làm việc bác ái, và cầu nguyện… Những lời khuyên này có vẻ đi ngược lại với xu hướng hiện đại và những ước muốn của lòng người. Nhưng trong hoàn cảnh hiện tại, cần suy niệm để thấy giá trị của những lời mời gọi ấy và tầm quan trọng của việc hình thành những nét văn hoá mới cho con người.

Ăn chay - hãm mình

Chay à? Nghe là đã thấy có vẻ nhạt nhạt rồi đấy! Có ai mà thích nhạt đâu! Phải có gì đó mằn mặn thì mới hấp dẫn, mới ngon lành, mới có vị chứ, phải không? Chả thế mà các MC nổi tiếng khi dẫn chương trình trước đám đông khán giả cứ phải xen vào đó những câu chuyện có cả “chay” cả “mặn” thì mới dễ hấp dẫn người nghe. Cũng vậy, trong nhiều gameshows ngày nay, các vị khách mời phải biết nói chuyện đủ mặn thì mới được gọi là những “vựa muối”, “siêu đáng yêu”, “siêu duyên dáng”… Chừng như con người càng ngày càng thích “mặn”, nên dễ trở nên xa lạ với những lời kêu gọi của chay tịnh.

Với người Công Giáo, “ăn chay” không chỉ đơn thuần được hiểu theo nghĩa đen, kiểu như được ăn món gì và không được ăn món gì, ngày nào thì phải ăn chay và ngày nào thì được ăn mặn… Ăn uống chỉ là một trong những cách biểu hiện bề ngoài của việc thực hành khổ chế và hãm mình. Tại sao phải hãm mình và khổ chế? Xin thưa: để giúp con người lớn lên trong khả năng làm chủ bản thân và làm chủ chính mình ngang qua việc làm chủ được những ham muốn, điều tiết được những đòi hỏi, hãm dẹp được những cái bất trị trong chính mình. Mùa Chay giúp con người là “người” hơn là “con”, nhờ đó có có thể ngày một nên thánh hơn nhờ biết hướng đời mình trên nẻo đường lành thánh.

Như thế, việc ăn chay của người Công Giáo không chỉ xoay quanh chuyện ăn uống, mà còn liên quan đến cách nói năng, cách suy nghĩ, cách sống. Mùa Chay giữa cơn đại dịch là cơn hội tốt để nhắc nhở mọi người trở về, tập lại và điều chỉnh lại từ những thói quen nhỏ nhặt của đời sống, nhất là thói quen nói năng. Ai cũng biết rằng nguồn lây nhiễm chính của Virus Vũ Hán là các hạt nước bọt mang virus. Những hạt nước bọt này văng ra từ những người hay nói. Càng có thói quen nói nhiều, nguy cơ lan truyền virus càng lớn. Như thế, virus Vũ Hán là một lời nhắc nhở và cảnh cáo cho những người mang nơi mình nhiều thói quen xấu trong việc ăn nói như ngồi lê đôi mách, thích chém gió, thích nổ, thích cà kê cà khịa, thích hội họp ồn ào, v.v… Mùa Chay năm nay mời gọi mọi người rút lui vào khoảng thinh lặng nhiều hơn. Thinh lặng đúng nghĩa là vàng. Sự thinh lặng đáng giá bằng cả sinh mạng của con người. Đi nhẹ, nói khẽ, cười duyên, bớt giao du tiếp xúc bên ngoài khi không cần thiết, xây dựng văn hoá lịch sự và tôn trọng nhau ở những chốn đông người, bỏ qua những cuộc cãi vả và tranh luận không cần thiết, v.v… ấy là những nét đẹp cần có trong văn hoá Mùa Chay.

Làm việc bác ái và liên đới

Mùa Chay kêu gọi con người trở về, không chỉ theo nghĩa biết ngước nhìn lên Thiên Chúa, nhưng còn theo nghĩa biết nhìn sang chung quanh những người anh chị em của mình, nhất là những người nghèo khổ khốn khó. Mùa Chay dạy con người về đức bác ái ngang qua việc sống tình liên đới và trách nhiệm.

Thánh Phaolo từng suy niệm về sự liên đới thế này: “Vì một người mà tội lỗi đã thâm nhập vào thế gian, và tội lỗi gây nên sự chết. Như thế, sự chết đã lan tràn tới mọi người bởi vì một người đã phạm tội” (Rm 5,12). Đã từng có không ít người phản đối lối suy niệm ấy và tự hỏi: tại sao một người gây hoạ mà nhiều người phải gánh cùng? Tại sao một người làm sai mà nhiều người phải chịu tội?

Cơn đại dịch nổ ra, lây lan từ người này sang người khác, chỉ ra cho thấy quả thật con người liên đới với nhau và chịu trách nhiệm về nhau nhiều hơn những gì người ta từng tưởng nghĩ. Trong những ngày qua, đã có nhiều chuyện dở khóc dở cười đến từ những người thiếu trách nhiệm và không có ý thức gì về sự liên đới giữa người với người. Vì sợ, có những người tìm cách trốn cách ly. Họ sợ cho mình, nhưng lại không nghĩ xa hơn được rằng trốn tránh và chỉ nghĩ cho riêng mình chính là nguyên nhân làm cho bệnh dịch lây lan nhanh chóng. Khi ích kỷ chỉ biết sống cho riêng mình, người ta có nguy cơ trở thành nguồn gây hoạ cho vô số người khác, khởi đầu từ những người thân yêu nhất của mình. Một người sai, nhưng nhiều người phải gánh hậu quả là thế!

Mùa Chay giữa cơn đại dịch là cơ hội để mỗi người Công Giáo sống đức bác ái Kitô giáo, theo nghĩa không chỉ nghĩ cho riêng mình, nhưng còn biết nghĩ đến những người khác nữa. Ai cũng sợ bị nhiễm bệnh, nhưng không vì chỉ sợ cho mình mà quên mất nghĩ đến người khác. Văn hoá Mùa Chay dạy chúng ta không dành giật để tích trữ cho riêng mình, khi sự tích trữ của mình là nguyên nhân làm cho những người bên cạnh mình trở nên thiếu thốn. Văn hoá Mùa Chay dạy chúng ta sống như một người có trách nhiệm, không giấu diếm khi thấy mình có vấn đề. Bởi vì cách thế tốt nhất để vượt qua là chấp nhận để cho mình được chăm sóc, để cho mình không trở thành nguồn cơn mang lại bệnh tật và đau khổ cho người khác.

Cầu nguyện

Quan trọng hơn hết trong văn hoá Mùa Chay là tinh thần cầu nguyện. Cầu nguyện là trở về đặt mình trước mặt Thiên Chúa. Ấy là cơ hội cho con người nhìn lại chính mình. Đứng trước cơn dịch, ai cũng hoang mang và lo sợ. Thay vì chỉ là một phản ứng chóng qua, nỗi hoang mang và lo sợ ấy nên là lời cảnh tỉnh giúp con người suy nghiệm và phản tỉnh về chính thân phận của mình. Nhìn lại để thấy mình là ai trước một cơn đại dịch. Nhìn lại để thấy giá trị mỏng manh của kiếp người. Nhìn lại để sống và chiêm nghiệm lời mời gọi của Mùa Chay: Hỡi người, hãy nhớ mình là bụi tro!

Cơn đại dịch làm cho mọi thứ bị đình trệ, mọi nhịp chuyển động đều bị ngừng lại. Nhiều cửa khẩu đã bị đóng chặt. Nhiều quốc gia đã tự cô lập để tập trung xử lý vấn đề của chính mình. Như có một nút chặn được đặt vào giữa nhịp sống quay cuồng vội vã của cả thế giới hiện đại… Chắc chắn việc đóng cửa như thế sẽ mang đến nhiều thiệt thòi và bất tiện cho mọi người. Nhưng chắc chắn sự chậm lại của nhịp sống cũng là cơ hội để mọi người quay trở về trong thinh lặng nội tâm và kín múc sức mạnh từ niềm tin của mình. Cần tĩnh và lặng nhiều hơn để có thể nghe được tiếng Chúa. Cần bình an và phó thác nhiều hơn để có thể học được điều Chúa muốn dạy dỗ. Thay vì hoang mang và phản ứng theo số đông, mỗi người Công Giáo đều được mời gọi trở nên một người chứng về lòng tin, về sự bình an nội tâm, về mẫu gương sống tốt và sống đẹp.

Khi có khả năng hướng về Thiên Chúa, con người cũng sẽ có khả năng hướng về nhau nhiều hơn. Rồi cơn đại dịch sẽ qua đi. Còn đọng lại sẽ là những thói quen tốt và những nét văn hoá đẹp được hình thành ngang qua biến cố này. Những lo lắng cố công chiến đấu với bệnh dịch sẽ không ra vô ích, nếu chúng ta học được nhiều bài học để lớn lên trong lối sống văn minh và trưởng thành hơn trong đời sống đức tin Kitô giáo của mình.

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

Tin Mừng Chúa nhật 5 mùa Chay - Năm A


PHÚC ÂM: Ga 11, 1-45
“Ta là sự sống lại và là sự sống”.

Tin Mừng Chúa Giêsu Kitô theo Thánh Gioan.

Khi ấy, có một người đau liệt tên là Ladarô, ở Bêtania, làng quê của Maria và Martha. (Maria này chính là người đã xức dầu thơm cho Chúa, và lấy tóc lau chân Người. Em trai bà là Ladarô lâm bệnh). Vậy hai chị sai người đến thưa Chúa Giêsu rằng: “Lạy Thầy, người Thầy yêu đau liệt”. Nghe tin ấy, Chúa Giêsu liền bảo: “Bệnh này không đến nỗi chết, nhưng để làm sáng danh Thiên Chúa và do đó Con Thiên Chúa sẽ được vinh hiển”.

Chúa Giêsu thương Martha và em là Maria và Ladarô. Khi hay tin ông này đau liệt, Người còn lưu lại đó hai ngày. Rồi Người bảo môn đệ: “Chúng ta hãy trở lại xứ Giuđêa”. Môn đệ thưa: “Thưa Thầy, mới đây người Do-thái tìm ném đá Thầy, mà Thầy lại trở về đó ư?” Chúa Giêsu đáp: “Một ngày lại chẳng có mười hai giờ sao? Nếu ai đi ban ngày thì không vấp ngã, vì người ta thấy ánh sáng mặt trời; nhưng kẻ đi ban đêm sẽ vấp ngã vì không có ánh sáng”. Người nói thế, rồi lại bảo họ: “Ladarô bạn chúng ta đang ngủ, dầu vậy Ta đi đánh thức ông”. Môn đệ thưa: “Thưa Thầy, nếu ông ta ngủ, ông sẽ khoẻ lại”. Chúa Giêsu có ý nói về cái chết của Ladarô, nhưng môn đệ lại nghĩ Người nói về giấc ngủ. Bấy giờ Chúa Giêsu mới nói rõ: “Ladarô đã chết. Nhưng Ta mừng cho các con, vì Ta không có mặt ở đó để các con tin. Vậy chúng ta hãy đi đến nhà ông”. Lúc đó Tôma, cũng có tên là Điđimô, nói với đồng bạn: “Chúng ta cũng đi để cùng chết với Người”.

Đến nơi, Chúa Giêsu thấy Ladarô đã được an táng bốn ngày rồi. (Bêtania chỉ cách Giêrusalem chừng mười lăm dặm). Nhiều người Do-thái đến nhà Martha và Maria để an ủi hai bà vì người em đã chết. Khi hay tin Chúa Giêsu đến, Martha đi đón Người, còn Maria vẫn ngồi nhà. Martha thưa Chúa Giêsu: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt ở đây thì em con không chết. Tuy nhiên, ngay cả bây giờ, con biết Thầy xin gì cùng Thiên Chúa, Thiên Chúa cũng sẽ ban cho Thầy”. Chúa Giêsu nói: “Em con sẽ sống lại”. Martha thưa: “Con biết ngày tận thế, khi kẻ chết sống lại, thì em con sẽ sống lại”. Chúa Giêsu nói: “Ta là sự sống lại và là sự sống, ai tin Ta, dầu có chết cũng sẽ được sống. Và kẻ nào sống mà tin Ta, sẽ không chết bao giờ. Con có tin điều đó không?” Bà thưa: “Thưa Thầy, vâng, con đã tin Thầy là Đấng Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống đã đến trong thế gian”.

Nói xong bà về gọi Maria em gái bà và nói thầm với em rằng: “Thầy ở ngoài kia, Thầy gọi em”. Nghe vậy, Maria vội vàng đứng dậy và đi đến cùng Chúa. Vì lúc đó Chúa Giêsu chưa vào trong làng, Người còn đang đứng ở nơi Martha đã gặp Người. Những người Do-thái cùng ở trong nhà với Maria và an ủi bà, khi thấy bà vội vã đứng dậy ra đi, họ cũng đi theo bà, tưởng rằng bà đi ra khóc ngoài mộ. Vậy khi Maria đến chỗ Chúa Giêsu đứng, thấy Người, bà liền sấp mình xuống dưới chân Người và nói: “Thưa Thầy, nếu Thầy có mặt đây, thì em con không chết”. Khi thấy bà khóc nức nở và những người Do-thái theo bà cũng khóc, Chúa Giêsu thổn thức và xúc động. Người hỏi: “Đã an táng Ladarô ở đâu?” Họ thưa: “Thưa Thầy, xin đến mà xem”. Chúa Giêsu rơi lệ. Người Do-thái liền nói: “Kìa, xem Ngài thương ông ấy biết bao!” Nhưng có mấy kẻ trong đám nói: “Ông ấy đã mở mắt người mù từ khi mới sinh mà không làm được cho người này khỏi chết ư?” Chúa Giêsu lại xúc động; Người đi đến mộ. Mộ đó là một hang nhỏ có tảng đá đậy trên. Chúa Giêsu bảo: “Hãy đẩy tảng đá ra”. Martha là chị người chết, thưa: “Thưa Thầy, đã nặng mùi rồi vì đã bốn ngày”. Chúa Giêsu lại nói: “Ta đã chẳng bảo con rằng: Nếu con tin, thì con sẽ xem thấy vinh quang của Thiên Chúa sao?” Thế là người ta cất tảng đá ra. Chúa Giêsu ngước nhìn lên và nói: “Lạy Cha, Con cảm tạ Cha đã nhậm lời Con. Con biết Cha hằng nghe lời Con, nhưng Con nói lên vì những người đứng xung quanh đây, để họ tin rằng Cha đã sai Con”. Nói rồi, Người kêu lớn tiếng: “Ladarô! Hãy ra đây!” Người đã chết đi ra, chân tay còn quấn những mảnh vải, trên mặt quấn khăn liệm. Chúa Giêsu bảo: “Hãy cởi ra cho anh ấy đi”.

Một số người Do-thái đến thăm Maria, khi được chứng kiến những việc Chúa Giêsu làm, thì đã tin vào Người.

Bài giảng của ĐTC trong giờ cầu nguyện và ban phép lành Urbi et Orbi

1585332151659.JPG

Đức Thánh Cha đã chủ sự buổi cầu nguyện lịch sử trong quảng trường hoàn toàn trống vắng những lại có đông đảo tín hữu tham dự từ khắp nơi trên thế giới tham dự. Ngài xin Chúa ban sức khỏe cho thể xác và an ủi trái tim. Sau khi chầu Thánh Thể, Đức Thánh Cha ban phép lành Mình Thánh Urbi et Orbi cho các tín hữu trong buổi cầu nguyện đặc biệt cầu cho thế giới trước đại dịch.

Lúc 6 giờ chiều ngày 27/03, Đức Thánh Cha Phanxicô đã chủ sự giờ cầu nguyện tại quảng trường thánh Phêrô để cầu nguyện cho thế giới trước đại dịch virus corona. Giờ cầu nguyện bắt đầu với nghi thức cử hành Lời Chúa.

Đoạn Tin Mừng thánh Marco được đọc trong giờ cầu nguyện thuật lại sự kiện các môn đệ đang ở trên tàu, khi Chúa Giêsu đang ngủ, thì giông bão nổi lên. Các môn đệ hoảng sợ, đánh thức Ngài dậy và nói: “Thầy ơi, chúng ta chết đến nơi rồi, Thầy chẳng lo gì sao?” Chúa Giêsu đã truyền cho sóng im biển lặng và ngài bảo họ “Sao nhát thế? Làm sao mà anh em vẫn chưa có lòng tin?”

Suy tư về đoạn Tin Mừng trên, Đức Thánh Cha mời gọi các tín hữu hãy mời Chúa vào cuộc đời chúng ta, hãy phó thác những khó khăn đau khổ cho Chúa, hãy tin rằng Chúa là Đấng yêu thương và yêu chương chúng ta nhất.

Sau đây là bài giảng của Đức Thánh Cha

Chúng ta ở trên cùng con thuyền và cần cùng nhau chèo để vượt qua sóng gió

”Khi chiều xuống” (Mc 4,35). Đó là câu mở đầu đoạn Tin Mừng chúng ta đã nghe. Từ nhiều tuần nay, dường như chiều đã xuống. Những bóng đen dầy đặc phủ trên các quảng trường, các đường phố và thành thị của chúng ta; chúng chiếm hữu cuộc sống chúng ta, làm đầy mọi sự bằng một sự im lặng gây choáng váng và một sự trống rỗng thê lương, làm tê liệt mọi sự khi nó đi qua: người ta cảm thấy điều ấy trong không khí, nhận thấy nó qua các cử chỉ, qua những cái nhìn. Chúng ta lo sợ và ngỡ ngàng. Như các môn đệ trong bài Tin Mừng, chúng ta bất ngờ bị bão tố hung bạo vùi dập. Chúng ta nhận thấy mình đang ở trên cùng một con thuyền, tất cả đều mong manh và mất hướng, nhưng đồng thời tất cả đều quan trọng và cần thiết, tất cả được kêu gọi cùng chèo với nhau, tất cả đều cần an ủi nhau. Tất cả chúng ta đều ở trên con thuyền ấy. Như những môn đệ trong bài Tin Mừng đồng thanh và lo âu nói với nhau: ”Chúng ta chết mất” (v.38), chúng ta cũng nhận thấy mình không thể tiến bước nếu mỗi người chỉ lo cho mình, nhưng phải cùng nhau.

Chúa Giêsu ngủ yên vì Ngài tín thác nơi Chúa Cha

Thật là dễ thấy mình ở trong hoàn cảnh như trình thuật này. Điều khó khăn là làm sao hiểu thái độ của Chúa Giêsu. Trong khi các môn đệ tự nhiên thấy hốt hoảng và tuyệt vọng, thì Chúa ở phần cuối thuyền, là phần sẽ bị chìm trước tiên. Ngài làm gì thế? Mặc dù những giao động, hối hả, Ngài vẫn ngủ yên, tín thác nơi Chúa Cha - đó là lần duy nhất trong Tin Mừng, chúng ta thấy Chúa Giêsu ngủ -. Và khi Ngài bị đánh thức dậy, Chúa cho gió yên biển lặng, rồi nói với các môn đệ với giọng khiển trách: ”Tại sao các con lại sợ? Các con chưa có đức tin sao?” (v.40).

Các môn đệ thiếu đức tin: họ không tin Chúa quan tâm đến họ 

Chúng ta hãy tìm cách hiểu. Sự thiếu đức tin của các môn đệ hệ tại điều gì, một thái độ trái ngược với sự tin tưởng của Chúa Giêsu? Các môn đệ không ngừng tin nơi Chúa, và thực sự họ kêu cầu Ngài. Nhưng chúng ta hãy xem cách thức môn đệ kêu cầu: ”Thưa Thầy, Thày chẳng quan tâm gì đến sự kiện chúng con sắp chết sao?” (v. 38). 'Thầy chẳng quan tâm': họ nghĩ rằng Chúa Giêsu không đoái hoài gì đến họ, không chăm sóc họ. Giữa chúng ta, trong các gia đình, một trong những điều làm đau lòng nhất, đó là khi chúng ta nghe nói: ”Anh chẳng quan tâm gì đến em sao?”. Đó là một câu làm thương tổn và tạo nên bão tố trong tâm hồn. Câu ấy cũng làm tổn thương cả Chúa Giêsu. Vì chẳng có ai quan tâm đến chúng ta hơn Ngài. Thực vậy, sau khi được kêu cầu, Chúa đã cứu vớt các môn đệ thiếu lòng tin.

Bão tố cho thấy chúng ta đã bỏ qua điều nâng đỡ và ban sức mạnh cho chúng ta

Bão tố vạch trần sự dễ thương tổn của chúng ta và cho thấy những an ninh giả tạo và thừa thãi qua đó chúng ta đã xây dựng những chương trình hoạt động, những dự án, các tập quán và ưu tiên của chúng ta. Nó tỏ cho thấy chúng ta đã lơ là và bỏ qua điều nuôi dưỡng, nâng đỡ và ban sức mạnh cho cuộc sống và cộng đoàn của chúng ta. Bão tố để lộ tất cả những chủ tâm ”gói lại” và quên đi những gì đã nuôi dưỡng cái hồn của các dân tộc chúng ta; tất cả những toan tính gây mê với những tập quán có vẻ là ”cứu thoát”, nhưng không có khả năng tham chiếu những căn cội và nhắc nhớ tới các vị tiền bối của chúng ta, và vì thế khiến cho chúng ta không còn khả năng miễn dịch cần thiết để đương đầu với nghịch cảnh.

Bão tố cũng làm rơi mất những mánh khóe chúng ta dùng để ngụy trang ”cái tôi” của chúng ta, luôn lo lắng về hình ảnh của mình; một lần nữa, chúng ta khám thấy điều tốt lành là chúng ta cùng thuộc về nhau, cùng là anh chị em của nhau.

Chúng con đang ở giữa biển động, chúng con khẩn cầu Chúa: "Lạy Chúa, xin hãy thức dậy!”

"Tại sao các con sợ hãi? Các con chưa có niềm tin sao?”. Lạy Chúa, Lời Chúa chiều tối hôm nay đánh động và có liên hệ tới tất cả chúng con. Trong thế giới chúng con hiện nay, thế giới mà Chúa yêu thương nhiều hơn cả chúng con yêu, chúng con tiến bước rất mau lẹ, cảm thấy hùng mạnh và có khả năng trong mọi sự. Chúng con ham hố lợi lộc, để cho mình bị vật chất thu hút mất và bị choáng váng vì vội vã. Chúng con không dừng lại trước những lời nhắc nhở của Chúa, không thức tỉnh trước những chiến tranh và bất công trên thế giới, chúng con đã không lắng nghe tiếng kêu của những người nghèo và của trái đất của chúng con đang bị bệnh nặng. Chúng con cứ tiếp tục tiến bước không chút sợ hãi, nghĩ rằng mình sẽ luôn khỏe mạnh trong một thế giới bị bệnh. Giờ đây, trong lúc chúng con đang ở giữa biển động, chúng con khẩn cầu Chúa: "Lạy Chúa, xin hãy thức dậy!”

Đây là thời điểm chọn lựa điều gì đáng kể và điều gì chóng qua

"Tại sao các con sợ hãi? Các con chưa có đức tin sao?” Lạy Chúa, Chúa kêu gọi chúng con, một lời kêu gọi hãy tin tưởng. Không phải chỉ tin Chúa hiện hữu cho bằng hãy đến cùng Chúa và tín thác nơi Chúa. Trong Mùa Chay này vang dội lời kêu gọi cấp thiết của Chúa: ”Hãy hoán cải”, ”hãy hết lòng trở về cùng Ta” (Gl 2,13). Chúa gọi chúng con hãy đón nhận thời điểm thử thách này như 'một thời điểm chọn lựa'. Đây không phải là thời điểm phán xét của Chúa, nhưng là lúc chúng con phải suy xét: thời điểm chọn lựa điều gì đáng kể và điều gì chóng qua, tách biệt điều cần thiết ra khỏi điều không cần. Lạy Chúa, đây là lúc điều chỉnh lại hành trình cuộc sống của chúng con hướng về Chúa và hướng về tha nhân. Và chúng con có thể nhìn bao nhiêu bạn đồng hành gương mẫu, trong sợ hãi, họ đã phản ứng bằng cách hiến mạng sống mình. Đó là sức mạnh tác động được Thánh Linh đổ xuống và nhào nặn thành những sự hiến thân can đảm và quảng đại.

Cầu nguyện và phục vụ âm thầm: đó là những khí giới chiến thắng của chúng ta

Đó là sự sống của Thánh Linh có khả năng cứu chuộc, nâng cao giá trị và tỏ cho thấy cuộc sống của chúng con được hình thành và nâng đỡ nhờ những người thường - những người thường bị quên lãng, - không được báo chí nói đến, không xuất hiện trong những cuộc biểu dương mới nhất, nhưng chắc chắn, họ đang viết lên những biến cố quan trọng ngày nay trong lịch sử chúng con: các bác sĩ, y tá nam nữ, các nhân viên siêu thị, nhân viên vệ sinh, những người giúp việc gia đình, các nhân viên chuyên chở, các nhân viên công lực, những người thiện nguyện, các linh mục, nữ tu và bao nhiêu người khác đã hiểu rằng không ai tự cứu thoát một mình. Đứng trước đau khổ, qua đó người ta đo lường mức độ phát triển đích thực của các dân tộc chúng con, chúng con khám phá và cảm nghiệm lời nguyện tư tế của Chúa Giêsu: ”Ước gì tất cả chúng được nên một” (Ga 17,21). Bao nhiêu người hằng ngày thực hành kiên nhẫn và đổ tràn hy vọng, chú tâm không gieo rắc kinh hoàng nhưng gieo vãi tinh thần đồng trách nhiệm. Bao nhiêu người cha, người mẹ, ông bà, giáo chức, chỉ cho các trẻ em chúng con - qua những cử chỉ bé nhỏ và thường nhật - cách thức đương đầu và vượt thắng một cuộc khủng hoảng, bằng cách điều chỉnh các thói quen, ngước mắt lên cao và khích lệ cầu nguyện. Bao nhiêu người cầu nguyện, dâng hy sinh và chuyển cầu cho ích chung của tất cả mọi người. Cầu nguyện và phục vụ âm thầm: đó là những khí giới chiến thắng của chúng ta.


Hãy mời Chúa Giêsu bước lên những con thuyền cuộc sống của chúng ta

”Tại sao các con sợ hãi? Các con chưa có đức tin sao?”. Khởi đầu đức tin là biết mình cần được cứu độ. Chúng ta không tự mãn, chỉ tự mình thôi thì chúng ta sẽ bị chìm; chúng ta cần Chúa như những người hải hành xưa kia cần những vì sao. Chúng ta hãy mời Chúa Giêsu bước lên những con thuyền cuộc sống của chúng ta. Hãy phó thác cho Chúa những lo sợ của chúng ta để Ngài chiến thắng chúng. Như những môn đệ chúng ta sẽ cảm nghiệm thấy rằng có Chúa ở trên thuyền, thuyền sẽ không bị đắm. Vì sức mạnh của Thiên Chúa là: tất cả những gì xảy ra cho chúng ta, cả những điều bất hạnh, đều mưu ích cho chúng ta. Chúa đưa sự thanh thản vào trong những bão tố của chúng ta, vì với Thiên Chúa, sự sống sẽ không bao giờ chết.

Chúa mời gọi chúng ta hãy đánh thức và khởi động tình liên đới và hy vọng

Chúa đặt câu hỏi cho chúng ta, giữa bão tố của chúng ta, Chúa mời gọi chúng ta hãy đánh thức và khởi động tình liên đới và hy vọng, có khả năng mang lại sự vững chắc, nâng đỡ và mang lại ý nghĩa cho những lúc này, trong đó tất cả dường như bị chìm. Chúa thức dậy để đánh thưc và hồi sinh niềm tin của chúng ta nơi sự phục sinh.

Trong thập giá của Chúa chúng ta được cứu độ

Chúng ta có một cái neo; trong thập giá của Chúa chúng ta được cứu độ. Chúng ta có một hoa tiêu: trong thập giá của Ngài chúng ta được cứu chuộc. Chúng ta có một hy vọng: trong thập giá của Chúa, chúng ta được chữa lành và ấp ủ vì không có gì và không một ai có thể tách biệt chúng ta ra khỏi tình thương cứu độ của Chúa. Giữa tình trạng cách ly, trong đó chúng ta đang thiếu thốn tình cảm quí mến và những cuộc gặp gỡ, chịu đựng bao nhiêu thiếu thốn, một lần nữa chúng ta nghe lời loan báo cứu độ: Chúa đã sống lại và Ngài sống cạnh chúng ta. Chúa kêu gọi chúng ta, từ trên thập giá của Ngài, hãy tìm lại cuộc sống đang chờ đợi chúng ta, và hãy nhìn đến những người đang kêu chúng ta hãy củng cố, nhìn nhận và khởi động ơn thánh đang ở trong chúng ta. Đừng dập tắt tim đèn còn ngún khói (Xc Is 42,3), không bao giờ yếu liệt và hãy để cho niềm hy vọng được bùng lên.

Đón nhận thập giá là can đảm đón nhận tất cả các nghịch cảnh, đón nhận hy vọng

Đón nhận thập giá của Chúa có nghĩa là tìm lại can đảm để đón nhận tất cả các nghịch cảnh của thời điểm hiện nay, tạm bỏ sự lo lắng của chúng ta về sự toàn năng và chiếm hữu, để nhường chỗ cho tinh thần sáng tạo mà chỉ có Thánh Linh mới có khả năng khơi dậy. Điều này có nghĩa là tìm lại can đảm mở ra những không gian trong đó tất cả mọi người đều thể cảm thấy được kêu gọi và thực hiện những hình thức mới của lòng hiếu khách, tình huynh đệ và liên đới. Trong thập giá của Chúa, chúng ta được cứu thoát để đón nhận hy vọng và để cho niềm hy vọng ấy củng cố và nâng đỡ tất cả các biện pháp và những con đường khả dĩ giúp chúng ta bảo tồn bản thân và giữ gìn. Đón nhận Chúa để đón nhận hy vọng: đó là sức mạnh của đức tin, giải thoát khỏi sợ hãi và mang lại hy vọng.

Xin Chúa lập lại lần nữa: ”Các con đừng sợ”

”Tại sao các con sợ hãi? Các con chưa có đức tin sao?” Anh chị em thân mến, từ nơi này, nhắc nhớ đức tin kiên vững của thánh Phêrô, tối hôm nay tôi muốn phó thác tất cả anh chị em cho Chúa, nhờ lời chuyển cầu của Đức Mẹ là sức khỏe của dân Ngài, là Sao biển giữa bão tố. Từ những hàng cột này như vòng tay ôm lấy thành Roma và thế giới, ước gì phúc lành của Thiên Chúa đổ xuống trên anh chị em như một vòng tay an ủi. Lạy Chúa, xin Chúa chúc lành cho thế giới, xin ban sức khỏe cho thân xác và an ủi cho tâm hồn. Chúa dạy chúng con đừng sợ hãi. Nhưng niềm tin của chúng con yếu ớt, và chúng con nhát đảm. Nhưng lạy Chúa, Chúa không bỏ mặc chúng con trong bão tố. Xin Chúa lập lại lần nữa: ”Các con đừng sợ” (Mt 28,5). Và cùng với thánh Phêrô, ”chúng con phó thác cho Chúa mọi lo âu, vì Chúa chăm sóc chúng con” (Xc 1 Pr 5,7).


Ủy ban Phụng Tự: những lưu ý về trực tuyến Thánh Lễ

Thánh lễ là “hành vi cao cả được thực hiện để tôn vinh Thiên Chúa cách hoàn hảo và thánh hóa con người” (Hiến chế về Phụng vụ thánh, Sacrosanctum Concilium, số 7). Vì thế, ở mọi nơi và trong mọi trường hợp, thánh lễ cần phải được chuẩn bị, cử hành và tham dự trong tâm thế và tư thế xứng hợp với giá trị linh thánh của hành vi phụng vụ cao cả này. Đối với nhiều hoàn cảnh đặc thù như tại bệnh viện, trại giam, hoặc những tình huống ngoại thường hay cấm cách, Hội Thánh không ngừng tìm kiếm những phương thế thuận lợi nhất để giúp các tín hữu không ngừng liên kết với Đức Kitô Thượng Tế và nhiệm thể của Người là Hội Thánh, nhờ đó kín múc dồi dào ân sủng từ suối nguồn Thánh Thể. Ngày nay với những phương tiện kỹ thuật trực tuyến và truyền thông xã hội, các tín hữu có thể tham dự thánh lễ theo nhiều cách thức đa dạng; tuy nhiên, các phương tiện trực tuyến có thể đánh mất tính linh thánh của cử hành phụng vụ. Vì thế, trong hoàn cảnh của đại dịch COVID-19 hiện nay, Ủy ban Phụng tự lưu ý những nguyên tắc chung cho việc cử hành và tham dự thánh lễ trực tuyến như sau:

1. Về kỹ thuật, vài cách thức trực tuyến phổ biến hiện nay gồm có (1) phát trực tiếp: thu hình/ quay phim và truyền trực tiếp cùng thời điểm (livestream); (2) phát lại: những chương trình đã được “phát trực tiếp” còn lưu trên các kênh truyền thông và không gian mạng (ví dụ: Youtube, ứng dụng truyền hình,…); (3) thu sẵn: sản xuất một chương trình với mục đích để phát lại sau đó theo thời gian định sẵn (pre-recorded).
Trong phụng vụ, khi giám mục giáo phận cho phép, chương trình trực tuyến thánh lễ trong giáo phận chỉ được sử dụng cách thức “phát trực tiếp” để thu và phát sóng thánh lễ đang cử hành cho cộng đoàn tham dự từ xa. Như thế, trong hoàn cảnh đại dịch hiện nay, các tín hữu nên tham dự thánh lễ “phát trực tiếp” để được hiệp thông cách trọn vẹn và sống động, hơn là xem các thánh lễ được “phát lại” trên mạng sau thời điểm đã cử hành. Phương thức “thu sẵn” một thánh lễ với ý định để phát lại vào thời điểm sau đó thì không được chấp nhận là một cử hành phụng vụ trực tuyến.
2. Do “việc truyền thanh và truyền hình về những hoạt động thánh, đặc biệt về việc cử hành thánh lễ, phải được thực hiện cách xứng đáng và thận trọng dưới sự hướng dẫn và đảm bảo của người có đủ năng lực do các giám mục chỉ định” (SC số 20), giám mục giáo phận chịu trách nhiệm đối với  các chương trình trực tuyến thánh lễ để luật phụng vụ được tuân thủ cách đầy đủ: cử hành đúng lịch phụng vụ, đúng bản văn phụng vụ và kinh thánh đã được phê chuẩn,… (x. SC số 22). Vì thế, trong hoàn cảnh đại dịch hiện nay, giám mục giáo phận cần chỉ định các nhà thờ và linh mục được chính thức cử hành thánh lễ phát trực tuyến nhằm tránh những vi phạm kỷ luật phụng tự đối với bí tích cao cả này.
3. Vì bí tích Thánh Thể là nguồn mạch và chóp đỉnh của đời sống và sứ vụ Hội Thánh nên dù thánh lễ được cử hành riêng hoặc với cộng đoàn phụng vụ, được phát trực tuyến hay không, các linh mục vẫn cần có những chuẩn bị xứng hợp về tâm hồn cũng như những yếu tố đòi buộc theo quy chế tổng quát của sách lễ Rôma:
- Thành tâm cử hành mầu nhiệm thánh thật sốt sắng và trang nghiêm; không hời hợt, vội vã;
- Lưu tâm đến lễ phục (áo alba, dây các phép và áo lễ), khung cảnh phụng tự và chỉ cử hành trong nhà thờ hoặc nhà nguyện;
- Không tự ý bỏ hoặc giảm bớt các yếu tố của nghi thức thánh lễ.
Cách riêng khi cử hành các thánh lễ được phát trực tuyến, vì cộng đồng mạng tham gia chương trình trực tuyến bao gồm anh chị em thuộc các tôn giáo bạn và nhiều thành phần xã hội mở rộng nên chủ tế cần lưu tâm thêm đến những yếu tố sau:
- Chuẩn bị bài giảng chu đáo, ý thức đây là cơ hội loan báo Tin Mừng;
- Chọn lựa ngôn từ để xây dựng một cộng đồng yêu thương, hợp nhất theo tinh thần Phúc Âm;
- Cần tập trung làm nổi bật sự hiện diện của Chúa Kitô trong cử hành phụng vụ, tránh những thái độ phô diễn cá nhân;
- Ý thức đang cử hành với cộng đoàn phụng vụ tham dự trực tuyến.
4. Khi người tín hữu ở trong hoàn cảnh đặc thù như hiện nay, không thể tham dự cử hành bí tích tại giáo xứ, họ vẫn có thể hiệp thông với Hội Thánh đồng thời lãnh nhận ơn chữa lành và an ủi của Chúa qua việc tham dự thánh lễ trực tuyến tại nhà. Tuy nhiên, các tín hữu vẫn phải tham dự thánh lễ được trực tuyến một cách ý thức, tích cực và trọn vẹn với những ưu tiên sau:
- Chuẩn bị tâm hồn và y phục như tham dự thánh lễ tại giáo xứ với cộng đoàn phụng vụ, có thể đọc kinh, suy niệm Lời Chúa trước giờ tham dự trực tuyến;
- Tham dự thánh lễ trực tuyến như khi đang hiện diện giữa cộng đoàn phụng vụ tại giáo xứ: không sử dụng điện thoại, không làm việc riêng, vẫn thưa đáp (và hát), thực hiện các tư thế, cử chỉ tôn kính và giữ thinh lặng theo quy định của thánh lễ;
- Hiệp ý với chủ tế để cầu nguyện cho các nhu cầu của Hội Thánh, cộng đoàn và cá nhân, đặc biệt cho các nhu cầu khẩn thiết trong cơn đại dịch này;
- Cần có tâm hồn thành tâm thống hối và ước ao kết hợp với Chúa bằng việc rước lễ thiêng liêng. Mỗi giáo phận có thể hướng dẫn kinh nguyện cho tín hữu chuẩn bị tâm hồn rước lễ thiêng liêng;
- Sau khi tham dự thánh lễ cách trọn vẹn (từ xa), cần ý thức sống giá trị bí tích vừa tham dự và bổn phận loan báo Tin Mừng cứu độ.
Ngày 27 tháng 03 năm 2020.
Ủy ban Phụng tự
trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam
Nguồn: Truyền thông HĐGMVN