Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2014

Video: Vẻ đẹp của hôn nhân

Đức Thánh Cha Phanxicô cử hành lễ cầu hồn cho các Hồng Y và Giám Mục qua đời năm 2014


Sáng thứ Hai 3 tháng 11, Đức Thánh Cha và các vị Hồng Y và Giám Mục trong giáo triều Rôma đã cử hành Thánh Lễ tưởng nhớ đến tất cả các Hồng Y và Giám Mục đã qua đời trong năm qua.

Trong Thánh Lễ, được tổ chức tại Đền Thờ Thánh Phêrô, Đức Thánh Cha nhắc nhở chúng ta rằng nhờ sự phục sinh của Chúa Giêsu đức tin của chúng ta được tràn đầy niềm vui nơi chân lý và sự sống đời đời.

Đức Thánh Cha đã trình bày những suy tư của ngài trên bài đọc hai trích từ sách Maccabê nói về việc thủ lãnh người Do Thái là ông Giuđa đã quyên được khoảng hai ngàn quan tiền, và gửi về Giêrusalem để xin dâng lễ đền tội cho những chiến binh đã ngã xuống. Ông làm cử chỉ rất tốt đẹp và cao quý này vì vững tin rằng người chết sẽ sống lại (2 Mac 12, 43-46 ). Đức Thánh Cha nói chúng ta phải cảm tạ Lời Chúa vì nhờ lời Ngài buổi lễ này được soi sáng bởi đức tin của chúng ta vào mầu nhiệm phục sinh.

Toàn bộ Mặc Khải là kết quả của cuộc đối thoại giữa Thiên Chúa và dân Ngài trong suốt dòng lịch sử, và đức tin của chúng ta cũng hệ tại nơi cuộc đối thoại này.

Đó là lý do tại sao một mầu nhiệm cao cả, quan trọng và siêu phàm như mầu nhiệm Phục Sinh đòi hỏi một cuộc hành trình dài như vậy trong lịch sử từ khi nguyên tổ chúng ta phạm tội cho đến khi Chúa Giêsu Kitô xuống thế làm người.

Chúa Giêsu có thể nói: "Ta là sự sống lại và là sự sống" (Ga 11, 25) bởi vì nơi Ngài mầu nhiệm này không chỉ được mạc khải hoàn toàn, nhưng qua Ngài, lần đầu tiên, mầu nhiệm ấy trở thành hiện thực.

Nhắc lại đoạn Phúc Âm của Thánh Máccô tường thuật về cái chết của Chúa Giêsu và ngôi mộ trống, Đức Giáo Hoàng nhấn mạnh rằng biến cố này tiêu biểu cho đỉnh cao của cuộc hành trình cứu độ trong lịch sử: biến cố Phục Sinh đáp ứng khát vọng của dân Chúa, của mỗi con người và của toàn thể nhân loại.

Mỗi người chúng ta được mời gọi dự phần trong sự kiện này. Chúng ta được mời gọi để đứng trước Thánh Giá của Chúa Giêsu, như Đức Maria, như những phụ nữ, như viên đội trưởng quân La Mã để nghe tiếng kêu của Ngài, cho đến hơi thở cuối cùng và sau đó là sự im lặng đè nặng suốt ngày Thứ Bảy Tuần Thánh. Để rồi chúng ta được kêu gọi để đi đến ngôi mộ để thấy rằng tảng đá lớn đã được lăn sang một bên và để nghe tin vui: " Người đã chỗi dậy rồi, không còn đây nữa" (Máccô 16: 6). Đó là nơi nhân loại tìm thấy câu trả lời, đó là nơi là nền tảng, là đá. Nhân loại không thể tìm thấy câu trả lời hay nền tảng đức tin nơi "những từ khôn ngoan và có sức thuyết phục" nhưng trong Lời hằng sống của Thánh Giá và trong mầu nhiệm Phục Sinh của Chúa Kitô.

Những gì Thánh Phaolô Tông Đồ rao giảng là sự Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô chịu đóng đinh. Nếu Ngài đã chẳng sống lại, đức tin của chúng ta trở nên trống rỗng và không nhất quán. Nhưng Ngài đã sống lại, Ngài là sự sống lại, nên đức tin của chúng ta được tràn niềm vui của chân lý và sự sống đời đời.

Vì vậy, hôm nay chúng ta lặp lại truyền thống dâng lễ hy sinh đền tạ cho các anh em Hồng Y và Giám Mục của chúng ta, những người đã ra đi trước chúng ta trong thời gian mười hai tháng qua. Lời cầu nguyện của chúng ta được phong phú hóa bởi những tình cảm, những kỷ niệm, và lòng biết ơn đối với chứng tá của những người chúng ta đã được hân hạnh quen biết, những người mà cùng với họ chúng ta đã chung vai phục vụ Giáo Hội. Nhiều gương mặt của các vị giờ đây tái hiện trước mắt chúng ta, và tất cả các vị đang được Cha trên trời của chúng ta nhìn đến với ánh mắt yêu thương và thương xót.

Đức Thánh Cha đã dâng lời nguyện xin Đức Mẹ cầu bầu cho các vị Hồng Y và Giám Mục được hưởng niềm vui nơi thành Jerusalem mới, hiệp cùng với tất cả các tín hữu mà các ngài đã phục vụ trên dương thế.
Đặng Tự Do
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/131494.htm

Sống thánh giữa đời

WGPSG -- Nói tới việc nên thánh, nhiều giáo dân thường có thái độ an phận. Họ nghĩ rằng đó là việc của các nhà tu hành hay của một thiểu số rất đặc biệt nào đó, có điều kiện để ăn chay, hãm mình, đọc kinh cầu nguyện nhiều, bố thí làm phúc... Còn người tín hữu bình thường như mình thì khó quá, mình phải lo cơm, áo, gạo, tiền; còn đâu thời giờ, sức lực mà làm thánh.
Chúng ta quen nhìn các thánh trong tình trạng "kiện toàn" với một hào quang trên đầu, được đặt trên bàn thờ. Nhưng thực ra, các Ngài đã sống như chúng ta, đã thuộc cộng đoàn dân Chúa đang tiến bước từ cuộc thử thách như chúng ta. Hoặc chúng ta còn coi các thánh như những siêu sao, những nhân vật xuất chúng, với một bản tính tốt lành hoặc một nghị lực tâm hồn phi thường sẵn có.
Thật ra, các ngài cũng là con cháu A-Dong E-Và, cũng có những tính hư nết xấu, những giới hạn, cũng bị cám dỗ, phải chiến đấu cam go, và có thể đã lắm lần chiến bại... như chúng ta. Rồi chúng ta còn quen quan niệm: muốn làm thánh thì phải đọc kinh cầu nguyện và hãm mình phạt xác thật nhiều, phải sống tách biệt, xa lánh thế gian, thậm chí phải làm được phép lạ nữa. Quan niệm như thế không đúng. Hiến chế "Ánh Sáng Muôn Dân" của Công đồng Vaticanô II nói: "Trong mọi hoàn cảnh của cuộc đời hãy sống thánh thiện", tức là hãy sống bình thường một cách phi thường nhờ lòng yêu mến.
Người ta kể rằng: Trong đời của thánh Antôn tu rừng, có một lần ngài xin tá túc ở trong một ngôi nhà của anh thợ đóng giầy theo lệnh Chúa. Hai vợ chồng nhà ấy dọn một bữa ăn, và chuẩn bị một chỗ ngủ cho ngài. Ngài tá túc ở đó ba ngày, hỏi thăm về đời sống, công ăn việc làm. Những câu chuyện qua lại khiến họ trở thành thân thiết với nhau. Sau đó, ngài từ giã họ trở về nhà. Chúa hỏi ngài: "Con thấy người thợ giầy này như thế nào ?" Ngài thưa: "Ông là một người đơn sơ, vợ ông có thai và sắp sinh con, họ có vẻ yêu nhau lắm. Ông ta có một cửa tiệm nhỏ để đóng giầy và sửa giầy. Ông ta làm việc cần mẫn, gia đình ông sống đạm bạc với số tiền kiếm được; nhưng lại sống rất rộng rãi, luôn biết chia sẻ tiền bạc, lương thực cho nhũng người kém may mắn hơn ông. Ông và vợ ông tin tưởng mãnh liệt vào Chúa và siêng năng cầu nguyện mỗi ngày. Họ có nhiều bạn thân, và người thợ giầy thì kể chuyện khôi hài luôn miệng, nên gia đình họ rất vui tươi đầm ấm". Chúa lắng nghe thánh Antôn và cuối cùng Chúa phát biểu: "Antôn, con là vị thánh sống, người thợ giầy và vợ ông cũng là những vị thánh sống".
Câu chuyện trên nhắc nhở chúng ta về ơn gọi nên thánh, nghĩa là chúng ta được kêu gọi sống cuộc đời này làm sao để sau khi chết, chúng ta được hưởng cuộc sống đời đời. Gương của vợ chồng bác thợ giầy khích lệ chúng ta. Chúa xác nhận cho chúng ta biết làm một vị thánh là điều có thể, chứ không phải vượt quá tầm tay của chúng ta. Không thể vượt quá khả năng của chúng ta đâu.
Quả thực, làm một vị thánh không có nghĩa là bắt chước một vị nào đó tử đạo hàng trăm năm về trước. Làm một vị thánh có nghĩa là sống trong những thời buổi bình thường tương tự như thời buổi chúng ta, là bắt chước những người biết cười biết khóc như chúng ta, là bắt chước những người đã từng phạm tội và đã biết chạy đến bí tích Giải Tội như chúng ta, là bắt chước những người biết luôn cố gắng, dù thỉnh thoảng vẫn luôn tái phạm như chúng ta. Nếu những vị ấy có gì khác thường thì chính ở chỗ họ không bao giờ ngừng cố gắng sống theo Tin Mừng mỗi ngày.
Tuy vậy, để nên thánh là cả một quá trình đầy chông gai mà mỗi người Kitô hữu chúng ta phải chiến đấu  không ngừng để đứng vững trước mọi cám dỗ của danh, lợi, thú của trần gian. Chúng ta sẽ phải trải qua những thăng trầm cuộc đời với niềm tín thác, sống một cuộc đời hy sinh vì Chúa và vì tha nhân. Tôi không khỏi xúc động khi chứng kiến các bác, các chú ngồi xe lăn, hay chống gậy, đi nạng từng bước khó khăn đến thánh đường dâng lễ mỗi ngày, khi lên rước lễ phải vịn các hàng ghế mệt nhọc tiến bước. Hoặc những mảnh đời bất hạnh mang trong mình nhiều chứng bệnh nan y, đau khổ tột độ nhưng đã vượt lên sống vui, sống phục vụ, sống có ý nghĩ để nên thánh mỗi ngày. Và tôi còn bắt gặp tấm gương "sống thánh giữa đời' của các bạn trẻ: một buổi sáng bà mẹ chở con đi học, giữa đường bị hư phải sửa xe, đúng lúc bạn trẻ đi làm ngang qua, dẫu vội vàng tới công sở bạn vẫn sẵn sàng chở giúp em bé đến trường, giải tỏa lo lắng thể hiện trên gương mặt người mẹ. Tôi còn nhớ những lần cùng các bạn trẻ đạp xe trong đêm mưa đi công tác bác ái xã hội, gió lạnh làm những hạt mưa quất vào mặt thật rát. Cứ thế trong đêm tối dày đặc, chúng tôi vừa đạp thật nhanh, vừa hát thật to để quên phần nào cái lạnh, cái đói, và nỗi sợ hãi bóng đêm chập chùng. Những lúc đấy, chỉ cần nhìn thấy một ánh đèn dầu le lói trong mái nhà tranh lụp xụp của ai đó, cũng đủ làm cho lòng chúng tôi ấm lại, vơi bớt nỗi sợ để can đảm bước tiếp.
Như thế đó, nên thánh phải đi vào con đường hẹp, khó thật nhưng không phải không có thể, bởi lẽ biết bao người đã chuyên cần lắng nghe, và nhiệt tâm sống Lời Chúa giữa đời thường hôm nay. Họ như những ánh sao tỏa sáng tình yêu Thiên Chúa trên cõi dương gian, dẫn đưa ai lầm đường lạc lối trở về nẻo chính đường ngay như lời Thánh Phaolô khuyên day: "Giữa một thế hệ gian tà sa đọa, anh em hãy chiếu sáng như những vì sao trên bầu trời".
Phạm Thục
Nguồn: http://tgpsaigon.net/baiviet-tintuc/20141104/28273

Vấn đề luân lý (1): Có nên phẫu thuật tách hai em bé dính liền?

be2
Câu hỏi: Tôi đọc thấy một trường hợp hai em bé sinh đôi người Thái dùng chung một trái tim và một phần gan. Người ta đã phẫu thuật tách đôi để cứu một trong hai em, em còn lại chết. Nhiều nhà luân lý học đã có những ý kiến trái chiều về vấn đề này? Cha nghĩ sao?
Trả lời: Trường hợp mà bạn nói đến là em Amy và Angela Lakeberg, sinh vào ngày 29.6.1993, tại Trung Tâm Y Tế Đại Học Loyola, gần Chicago. Hai em dính với nhau từ ngực đến rốn, trái tim chung sáu ngăn cũng bị biến dạng. Sự sống của hai em được cho là không thể kéo dài, khoảng 6 hay 7 tuần tuổi thôi.
Các bác sĩ ở Loyola đề nghị ngừng cung cấp các trợ giúp y tế để hai em được chết một cách tự nhiên. Các bác sĩ thuộc bệnh viện nhi đồng ở Philadelphia thì khuyên nên phẫu thuật, nhưng trong tiến trình phân tách hai em, một em chắc chắn sẽ chết, em còn lại có 1% (hay ít hơn) cơ may sống sót. (Trong năm trường hợp phẫu thuật tách hai bé có một trái tim trước đây, không bé nào sống quá ba tháng rưỡi).
Như bạn đã nói, các nhà thần học đã đưa ra nhiều ý kiến khác nhau, đôi khi còn trái ngược nhau. Hầu hết các giả định, trong đó có một số đã tuyên bố rõ, rằng việc phẫu thuật tách đôi này là một ví dụ của việc áp dụng nguyên tắc song hiệu bình thường. Số khác xem cuộc phẫu thuật này là không thể được chỉ vì chi phí quá mắc – bằng hoặc hơn 1 triệu đô. Những người khác thì nói nhiều đến lợi ích của cha mẹ khi cứu mạng sống của ít là một trong hai em.
Trước hết, chúng ta cũng nên suy xét đến điều mà tất cả mọi người cùng đồng ý. Ai cũng đồng ý là việc phẫu thuật là một phương tiện khác thường xét về mặt luân lý nên là điều không buộc phải làm. Bên cạnh chuyện chi phí quá lớn, người ta cũng cần phải đặt vấn đề về việc, xét về lý, ai là người có đủ khả năng để, một cách tích cực, cho biết là cuộc phẫu thuật này có thể có một hy vọng khả lý dẫn đến thành công. Bất kỳ cuộc phẫu thuật nào không thể đảm bảo tỉ lệ thành công là 1% thì nên được gọi là một cuộc thí nghiệm, hơn là một cuộc giải phẫu.
Như bạn có nói, một vài nhà thần học cho rằng cuộc phẫu thuật phân tách này áp dụng nguyên tắc song hiệu. Bản thân tôi thấy điều này không được thuyết phục cho lắm. Chắc chắn, ý hướng là nhằm cứu một em; kết quả tốt không hoàn toàn đến từ kết quả xấu (cái chết của bé kia); vấn đề tỷ lệ dường như cũng thỏa đáp. Tuy nhiên, tôi thấy thật khó diễn tả hành vi chính (hành vi chủ đạo gây ra hai hệ quả) là “tốt” hay “trung lập”. Theo như tôi hiểu, việc phẫu thuật sẽ tách hai em ra về mặt thể lý, rồi chuyển trái tim và các mạch máu qua cho bé nào có khả năng sống sót cao hơn. Tuy nhiên, trái tim bị biến dạng ấy là trái tim cung cấp sự sống cho cả hai. Hành vi này đã tước đoạt khỏi một em quyền được thừa hưởng trái tim kia và chính hành vi này đã khiến em chết.
Cái chết của em chắc chắn là đã được nhìn thấy trước và hẳn nhiên là vì mục đích tốt muốn đem lại lợi ích cho người chị em song sinh của mình. Cái chết ấy có lẽ không được dự định một cách trực tiếp như là một “cái kết”, nhưng chắc chắn người ta có thể biết trước điều đó và có ý xem nó như một “phương tiện”, như một điều kiện cần và phải có để có được một kết quả mà người ta mong chờ.
Xét về tình, người ta chắc chắn hiểu được tình ảnh éo le và áp lực mà bố mẹ em phải chịu, nhưng người ta cũng có thể đặt vấn đề rằng y khoa đang đưa ra một kiểu hy vọng khả lý nào đây. Hầu chắc là em bé sống sót không thể rời bệnh viện nếu không có những phương tiện trợ giúp sự sống cho em, thậm chí, em cũng không thể rời khỏi bệnh viện mà vẫn còn sống.
Dựa trên những gì vừa nói, tôi đồng ý với ý kiến hợp lý của Albert Moraczweski: “Về mặt luân lý, dù là không được thuận tình cho lắm, nhưng trong trường hợp này, tốt hơn nên để cho cả hai em được chết bởi những nguyên do tự nhiên, do một con tim khiếm khuyết không đủ cung cấp sự sống cho cả hai, hơn là chết do có sự can thiệp của con người, quyết định lấy trái tim khỏi em này (và khiến em chết) để chuyển cho em còn lại.”

(trích trong SMITH, WILLIAM B,. Modern Moral Problems: Trustworthy Answers to Your Tough Questions, edited by Donald Haggerty, Ignatius Press, San Francisco, 2012, tr 54)
Chuyển ngữ: Pr. Lê Hoàng Nam, SJ
Nguồn: http://dongten.net/noidung/42609

Một chút về đạo đức truyền thông


Ở đời, ông bà thường nói : "Ăn ở có đức mặc sức mà ăn". Câu nói giản đơn nhưng gói ghém bài học ông bà dạy cho con cháu.

Ăn ở như muốn nói đến lối sống, cách sống, nhân cách và cả công việc của con người. Nói như thế để hiểu rằng trong cuộc sống, dù bất cứ công việc nào, ngành nghề nào cũng cần phải có đạo đức và có đạo đức để mình hưởng từ cái đạo đức mà mình làm ra.

Một cái gọi là nghề rất thịnh trong xu hướng thời đại ngày nay đó là truyền thông. Truyền thông ảnh hưởng rất mạnh trong đời sống con người. Truyền thông mang những thông tin, những chuyện vui buồn trong cuộc sống quanh ta. Nếu thông tin tốt, chính xác, có tính cách xây dựng xã hội và con người thì con người đón nhận sẽ tốt và có cuộc sống tốt và ngược lại.

Ngày nay, phải nói là bùng nổ về thông tin nhất là các trang mạng. Dù bùng nổ thế nào đi chăng nữa, bùng nổ đến đâu đi chăng nữa thì cũng không bỏ qua và không quên được đạo đức trong truyền thông.

Nhiều chuyện thầm kín, nhạy cảm của con người nhưng người ta cố tình phơi bày những thứ ấy trên báo chí. Dĩ nhiên nó dễ đi vào tâm trí con người và nó cũng dễ nảy sinh ra bao nhiêu chuyện xấu kèm theo.

Chuyện bi hài là tỷ phú đô la X, con trai ông Y, người giàu nhất Thị trường chứng khoán” và “Người yêu của anh (tức X) là “hot girl” nổi tiếng Sài thành “Whitebear” được post lên Internet một số báo mạng đã vội vàng khai thác, thậm chí dựa theo thông tin này để viết bài điều tra. Từ đó, bài “Con trai người giàu nhất sàn chứng khoán tỏ tình gây sốc” được đưa lên một số báo điện tử, diễn đàn. Chỉ đến khi ông Y khẳng định tin đó là sai sự thật, cơ quan chức năng vào cuộc thì mới phát hiện đây là tác phẩm của một cô bé 13 tuổi đã hư cấu để... trêu đùa!

Thông tin và phê phán cái xấu là cần thiết, đáng khuyến khích nhưng phê phán thế nào để những cái xấu được khắc phục, được loại bỏ, hay cải tạo góp phần làm cho xã hội lành mạnh hóa… thì lại là điều cần phải xem xét.

Một số tòa soạn đang cố tình khai thác, cố tình công bố tin tức theo kiểu: “Càng cập nhật càng tốt, càng giật gân càng hay”.

Đua tranh đưa tin và bình luận về sự kiện - hiện tượng bất thường đã đưa tới một hệ quả là tình trạng “chụp giựt”. Việc một tờ báo lùng sục khai thác thông tin đời tư nạn nhân của vụ án rồi đưa lên mặt báo một cách chi tiết nếu không nói là xúc phạm người trong cuộc thì cũng hết sức phản cảm, rất cần phê phán”.

Hẳn nhiên ta còn nhớ vụ án NĐN và LVL đã qua đi nhưng mỗi khi nhắc lại chắc chắn bất cứ ai cũng có thể kể vanh vách những tình tiết man rợ như được tận mặt chứng kiến. Báo chí đi sâu khai thác từng ngõ ngách nhỏ của vụ việc, khơi dậy nỗi đau của những người thân nạn nhân... chỉ để “thỏa mãn” thị hiếu tò mò của công chúng.

Chuyện bi hài mới nhất đó là chuyện anh chàng cẩu thủ còn khá trẻ. Anh là ngôi sao sáng trẻ nhất. Chỉ sau một bàn thắng trước Australia, báo chí đưa cầu thủ trẻ ấy lên như một ngôi sao sáng. Môi trường xung quanh anh ta đã hoàn toàn biến đổi. Đi ngoài đường, anh ta không có nổi 2 m để tự do. Anh ta được lăng xê quá đáng trong vòng một tháng qua. Đừng quên rằng anh ta chỉ là một cầu thủ trẻ.

Cũng do sự tung hô quá đáng của báo chí và rồi mọi người lại đã bất ngờ và thất vọng trước những chàng trai Sydney. Vấn đề của chàng cầu thủ trẻ này do chính báo chí gây ra. Báo chí đã đưa anh chàng này lên rất cao.

Và, ta cũng quá nhiều kinh nghiệm về chuyện đưa đẩy của báo chí. Có những gia đình trầm lắng nhưng khi bị moi thông tin và đăng tải thì gia đình họ khốn đốn với những thông tin thiếu chính xác đấy.

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến thực trạng đáng buồn này. Trước hết, một thực tế là báo chí hiện đại không chỉ thuần túy đăng tải thông tin hay bình luận sự kiện, hiện tượng mà còn là một hoạt động kinh doanh. Chính vì thế, các nhà báo tìm mọi cách để lôi kéo độc giả về phía mình, trong đó việc sử dụng các “chiêu trò”, các tin tức “giật gân” nhằm đánh vào tâm lý, kích thích độc giả được nhiều tờ báo chọn lựa.

Hiện tượng “chụp giật”, “câu khách” trên là một “sự khủng khiếp” và là “một thảm họa”: “Báo chí đưa thông tin chụp giật, câu khách, đi ngược lại sự phát triển lành mạnh của một nền báo chí tử tế. Trong khi đó, báo chí Việt Nam có truyền thống là báo chí cách mạng, báo chí chính trị. Đây là bệnh của cả một nền báo chí và cần phải có thuốc thăm khám cẩn thận . Phải điều chỉnh về văn hóa và làm thế nào để tính toán được những hệ lụy của những việc đưa theo kiểu này để bạn đọc thay đổi về nhận thức và hành vi.

Ta thấy có sự mâu thuẫn giữa tính văn hóa và tính vụ lợi bởi hai cái đó không đi chung trên một con đường và luôn luôn xung đột. Đôi khi nó xuất phát từ thói quen, tư tưởng muốn vụ lợi của nhà báo là muốn câu view, muốn độc giả truy cập báo mình càng nhiều nên ra sức “chế biến”, “nhào nặn” thông tin.

Có nhiều cách để phê phán cái xấu, không phải cứ phơi bày trần trụi sự thực mới có hiệu quả. Mà đôi khi chú trọng vào việc đăng tải, đề cao người tốt - việc tốt, những tấm gương xúc động lại làm thay đổi đến nhận thức, hành vi của con người một cách nhanh chóng.

Tôi còn nhớ mãi câu chuyện nồi cơm của Khổng Tử :

Một lần Khổng Tử dẫn học trò đi du thuyết từ Lỗ sang Tề. Trong đám học trò đi với Khổng Tử có Nhan Hồi và Tử Lộ là hai học trò yêu của Khổng Tử

Trong thời Đông Chu, chiến tranh liên miên, các nước chư hầu loạn lạc, dân chúng phiêu bạt điêu linh, lầm than đói khổ … Thầy trò Khổng Tử cũng lâm vào cảnh rau cháo cầm hơi và cũng có nhiều ngày phải nhịn đói, nhịn khát. Tuy vậy, không một ai kêu than, thoái chí; tất cả đều quyết tâm theo thầy đến cùng.

May mắn thay, ngày đầu tiên đến đất Tề, có một nhà hào phú từ lâu đã nghe danh Khổng Tử, nên đem biếu thầy trò một ít gạo … Khổng Tử liền phân công Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, còn Nhan Hồi thì đảm nhận việc thổi cơm.

Tại sao Khổng Tử lại giao cho Nhan Hồi – một đệ tử đạo cao đức trọng mà Khổng Tử đã đặt nhiều kỳ vọng nhất – phần việc nấu cơm? Bởi lẽ, trong hoàn cảnh đói kém, phân công cho Nhan Hồi việc bếp núc là hợp lý nhất.

Sau khi Tử Lộ dẫn các môn sinh vào rừng kiếm rau, Nhan Hồi thổi cơm ở nhà bếp, Khổng Tử nằm đọc sách ở nhà trên, đối diện với nhà bếp, cách một cái sân nhỏ.

Đang đọc sách bỗng nghe một tiếng “cộp” từ nhà bếp vọng lên, Khổng Tử ngừng đọc, liếc mắt nhìn xuống … thấy Nhan Hồi từ từ mở vung, lấy đũa xới cơm cho vào tay và nắm lại từng nắm nhỏ … Xong, Nhan Hồi đậy vung lại, liếc mắt nhìn chung quanh … rồi từ từ đưa cơm lên miệng …

Hành động của Nhan Hồi không lọt qua đôi mắt của vị thầy tôn kính. Khổng Tử thở dài … ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Học trò nhất của ta mà lại đi ăn vụng thầy, vụng bạn, đốn mạt như thế này ư? Chao ôi! Bao nhiêu kỳ vọng ta đặt vào nó thế là tan thành mây khói!”

Sau đó, Tử Lộ cùng các môn sinh khác mang rau về … Nhan Hồi lại luộc rau … Khổng Tử vẫn nằm im đau khổ …

Một lát sau rau chín. Nhan Hồi và Tử Lộ dọn cơm lên nhà trên; tất cả các môn sinh chắp tay mời Khổng Tử xơi cơm.

Khổng Tử ngồi dậy và nói rằng: “Các con ơi! Chúng ta đi từ đất Lỗ sang Tề đường xa vạn dặm, thầy rất mừng vì trong hoàn cảnh loạn lạc, dãi nắng dầm mưa, đói khổ như thế này mà các con vẫn giữ được tấm lòng trong sạch, các con vẫn yêu thương đùm bọc nhau, các con vẫn một dạ theo thầy, trải qua bao nhiêu chặng đường đói cơm, khát nước …

Hôm nay, ngày đầu tiên đến đất Tề, may mắn làm sao thầy trò ta lại có được bữa cơm. Bữa com đầu tiên trên đất Tề làm thầy chạnh lòng nhớ đến quê hương nước Lỗ. Thầy nhớ đến cha mẹ thầy … cho nên thầy muốn xới một bát cơm để cúng cha mẹ thầy, các con bảo có nên chăng?

Trừ Nhan Hồi đứng im, còn các môn sinh đều chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nên ạ!”

Khổng Tử lại nói: “Nhưng không biết nồi cơm này có sạch hay không?”

Tất cả học trò không rõ ý Khổng Tử muốn nói gì nên ngơ ngác nhìn nhau. Lúc bấy giờ Nhan Hồi liền chắp tay thưa: “Dạ thưa thầy, nồi cơm này không được sạch.”

Khổng Tử hỏi: “Tại sao?”

Nhan Hồi thưa: “Khi cơm chín con mở vung ra xem thử cơm đã chín đều chưa, chẳng may một cơn gió tràn vào, bồ hóng và bụi trên nhà rơi xuống làm bẩn cả nồi cơm. Con đã nhanh tay đậy vung lại nhưng không kịp. Sau đó con liền xới lớp cơm bẩn ra, định vứt đi … nhưng lại nghĩ: cơm thì ít, anh em lại đông, nếu bỏ lớp cơm bẩn này thì vô hình trung làm mất một phần ăn, anh em hẳn phải ăn ít lại. Vì thế cho nên con đã mạn phép thầy và tất cả anh em, ăn trước phần cơm bẩn ấy, còn phần cơm sạch để dâng thầy và tất cả anh em …

Thưa thầy, như vậy là hôm nay con đã ăn cơm rồi … bây giờ, con xin phép không ăn cơm nữa, con chỉ ăn phần rau. Và … thưa thầy, nồi cơm đã ăn trước thì không nên cúng nữa ạ!

Nghe Nhan Hồi nói xong, Khổng Tử ngửa mặt lên trời mà than rằng: “Chao ôi! Thế ra trên đời này có những việc chính mắt mình trông thấy rành rành mà vẫn không hiểu được đúng sự thật! Chao ôi! Suýt tí nữa là Khổng Tử này trở thành kẻ hồ đồ!”

Phải chăng câu chuyện nồi cơm là câu chuyện đắt giá cho truyền thông. Có những chuyện ta thấy trước mắt đó sự thật lại khác.

Nhiều lần nhiều lúc ta thấy đâu đó những trang mạng, những bài báo nói về các vị chủ chăn này nọ. Nào là tam ca áo tím, tam ca áo ... xanh rồi mắng mỏ là "lên tiếng hay không lên tiếng" đủ thứ đủ điều ...

Có ai hiểu được độ "nóng" của các ngài khi ở vị thế của các ngài chăng để mà nói. Có những người nói một cách vô tội vạ, nói cho sướng cái miệng mình nhưng không hề nghĩ đến cái hậu, cái thiệt hại đàng sau những lời nói đó.

Tôi nghĩ cũng buồn cười, người ta vẫn này nọ khi các giám mục không nói nhưng nên nhớ rằng nói phải có nơi có chỗ và nói như thế nào chứ không phải bạ đâu nói đó, ngồi đâu nói đó và nói những điều sai sự thật.

Với bức thư của Đức Tổng Giám Mục Phaolô Bùi Văn Đọc đưa ra về Biển Đông, ai nói gì nữa ? Quan điểm, lập trường của Giáo Hội vẫn là quan điểm và lập trường của Tin Mừng, của bác ái, của yêu thương. Đâu phải Đức Tổng Phaolô hay Đức Cha này Đức Cha kia chưa nói là la toáng lên, là bôi nhọ đủ điều xấu xa. Trước khi bôi nhọ người khác nên chăng nhìn lại chính mình. Chỉ có mình đối diện với chính mình là thật hơn bao giờ hết. Hơn thế nữa, chỉ mình mình đối diện với Chúa mình sẽ thấy mình thật đến mức độ nào, bao nhiêu ?

Đôi khi anh bức xúc, anh khóc mướn những chuyện không phải của anh mà anh không nhận ra. Đôi khi anh hô hào người ta sống thế này thế kia nhưng kỳ thực anh sống như thế nào anh đâu có nhìn lại bản thân mình.

Ở đời cũng có cái lạ, những người hay lên án, hay chỉ trích, hay chà đạp người khác thì họ chẳng ra gì cả. Nếu có tâm tình xây dựng, góp ý chân tình và sống Tin Mừng thật thì họ sẽ góp ý, xây dựng đậm chất Tin Mừng và ngược lại.

Vẫn mong mỏi những người làm truyền thông có đạo đức để khi mình thông truyền cho người khác là những tin thật, tin vui, tin hiệp nhất, tin yêu thương chứ không phải là tin phá hoại, chia rẽ. Làm bất cứ điều gì hay đặc biệt làm truyền thông phải có đạo đức. Làm truyền thông dù tin hay, dù viết giỏi nhưng không có đạo đức thì chỉ là những thanh la phèng phèng và gây bất hòa chia rẽ mà thôi.

Hãy nhìn mình thật kỹ trước khi nói về người khác, cách riêng là bôi nhọ, là phê phán. Mong lắm thay !

Micae Bùi Thành Châu
Nguồn: http://vietcatholic.net/News/Html/131477.htm

Thứ Hai, 3 tháng 11, 2014

Phim Công Giáo | Thánh Martin Porres


Xuất bản 23-10-2014
Thánh Martinô Porres sinh ngày 09-12-1579 tại thành phố Lima, nước Peru, Nam Mỹ châu. Trong sổ Rửa tội tại Lima còn ghi “Marinô, con trai người cha ẩn danh”. Thật ra cha của cậu là Gioan Porres, một người gốc Tây Ban Nha, sau làm thị trưởng tại Panama. Ông không nhận con khi thấy nó là con lai da mầu. Do đó, suốt nhiều năm, Martinô phải sống cảnh nghèo với người mẹ, không hôn thú, bà Anna Velasquez, một phụ nữ da đen. Tuy nhiên, xã hội Nam Mỹ “lai căng” thời đó chẳng những không làm cho cậu đau khổ, mà còn giúp cậu đạt tới đức khiêm hạ hơn, đây là đặc tính nổi bật nhất đời của cậu.

Cái chết không có tiếng nói cuối cùng trên số phận của con người


Nghĩa trang là ”nơi an nghỉ” chờ được đánh thức vào ngày sau hết. Việc tưởng niệm các người đã qua đời, săn sóc mồ mả và xin lễ cầu nguyện cho họ là chứng tá của niềm hy vọng tin tưởng, dâm rễ sâu nơi xác tín rằng cái chết không có tiếng nói cuối cùng trên số phận của con người, bởi vì con người được chỉ định cho một cuộc sống vô tận, có nguồn gốc và sự thành toàn trong Thiên Chúa.

Kính thưa qúy vị thưa các bạn, Đức Thánh Cha Phanxicô đã nói như trên với hàng chục ngàn tín hữu và du khách hành hương năm châu tham dự buổi đọc Kinh Truyền Tin trưa Chúa Nhật hôm qua tại quảng trường thành Phêrô trong ngày lễ kính các đẳng linh hồn.

Mở đầu bài huấn dụ Đức Thanh Cha nói:

Ngày hôm qua chúng ta đã cử hành lễ trọng Các Thánh và hôm nay phung vụ mời gọi chúng ta tưởng nhớ các tín hữu đã qua đời. Hai ngày lễ này gắn liền mật thiết với nhau, cũng như niềm vui và nước mắt tìm thấy nơi Chúa Giêsu Kitô một tổng hơp là nền tảng đức tin và niềm hy vọng của chúng ta. Thật thế, một đàng, Giáo hội lữ hành trong lịch sử vui mừng vì sự bầu cử của các Thánh và các Chân phước nâng đỡ Giáo hội trong sứ mệnh loan báo Tin Mừng; đàng khác, cũng như Chúa Giêsu, Giáo Hội chia sẻ tiếng khóc của người đau khổ vì xa rời các người thân yêu, và cũng như Người và nhờ Người Giáo Hội làm vang lên lời cám tạ Thiên Chúa Cha, là Đấng đã giải thoát chúng ta khỏi ách thống trị của tội lỗi và cái chết.

Giữa ngày hôm qua và hôm nay biết bao nhiêu người đi viếng thăm nghĩa trang là ”nơi an nghỉ” chờ việc đánh thức sau cùng. Thật là đẹp, khi nghĩ rằng chính Chúa Giêsu sẽ đánh thức chúng ta dậy. Chính Chúa Giêsu đã vén mở cho thấy rằng cái chết của thân xác cũng giống như một giác ngủ, từ đó Người đánh thức chúng ta. Với niềm tin này chúng ta dừng lại bên mộ của những người thân yêu, của những ai đã yêu thương chúng ta và đã làm điều lành cho chúng ta.

Tiếp tục bài huấn dụ Đức Thánh Cha đã mời gọi mọi người trải dài lời cầu nguyện của mình ra trên các thành phần khác. Ngài nói:

Nhưng ngày hôm nay chúng ta được mời gọi nhớ tới tất cả mọi người, kể cả những người không ai nhớ tới. Chúng ta hãy nhớ tới các nạn nhân của chiến tranh và bạo lực; biết bao nhiêu ”trẻ em” trên thế giới bị đói khát và bần cùng đè bẹp; chúng ta hãy nhớ tới các người vô danh nghỉ yên trong nơi đựng xương chung; chúng ta hãy nhớ tới casc anh chi em bị giết vì là kitô hữu; và biết bao nhiêu người đã hy sinh mạng sống để phục vụ tha nhân. Chúng ta hãy phó thác cho Chúa cách đặc biệt những người đã lìa bỏ chúng ta trong năm nay.

Truyền thống của Giáo Hội đã luôn luôn khích lệ cầu nguyện cho những người đã chết, đặc biệt bằng cách cống hiến cho họ việc cử hành thánh thể: thánh lễ là sự trợ giúp tinh thần tốt nhất mà chúng ta có thể ban tặng cho các linh hồn, đặc biệt các linh hồn bị bỏ rơi. Nền tảng thánh lễ cầu cho các linh hồn nằm trong sự hiệp thông của Thân Mình Mầu Nhiệm. Như Công Đồng Chung Vaticăng II đã nhấn mạnh: ”Giáo Hội lữ hành trên trần gian ý thức đựơc sự hiệp thông này của tất cả Thân Mình Mầu Nhiệm của Chúa Giêsu Kitô, ngay từ các thời kỳ đầu của Kitô giáo đã vun trồng với lòng đạo hạnh lớn lao việc tưởng nhớ các người đã qua đời” (LG 50).

Việc tưởng niệm các người đã chết, việc săn sóc mồ mả và các thánh lễ cầu hồn là chứng tá của niềm hy vọng tin tưởng, đâm rễ sâu trong xác tín rằng cái chết không có tiếng nói cuối cùng trên số phận con người, bởi vì con người được chỉ đinh cho một cuộc sống vô tận, có nguồn gốc và sự thành toàn nơi Thiên Chúa. Chúng ta hãy hướng lên Thiên Chúa lời cầu này: ”Lậy Thiên Chúa từ bi vô biên, chúng con tín thác cho lòng lành vô cùng của Chúa những ai đã từ bỏ cõi đời này cho sự vỉnh cửu, nơi Chúa chờ đợi toàn nhân loại được cứu chuộc bởi máu châu báu của Chúa Kitô, Con Chúa, đã chết để chuộc tội chúng con. Lậy Chúa, xin đừng nhìn tới biết bao khó nghèo, bần cùng và yếu đuối của con người, khi chúng con sẽ trình diện trước tòa phán xét của Chúa, để được phán xử cho niềm hạnh phúc hay án phạt. Xin hãy hướng trên chúng con cái nhìn xót thương của Chúa, nảy sinh từ con tim dịu hiền của Chúa và giúp chúng con bước đi trên con đường thanh tẩy trọn vẹn. Ườc chi đừng có ai trong con cái Chúa bị hư mất trong lửa đời đời của hỏa ngục, nơi không còn có thể sám hối nữa. Chúng con phó thác cho Chúa linh hồn các người thân yêu của chúng con, linh hồn của những người đã chết mà không có sự ủi an của các bí tích, hay đã không có cách hối lỗi vào lúc cuối đời. Ước chi đừng có ai phải sợ hãi gặp gỡ Chúa, sau cuộc lữ hành trần thế, trong niềm hy vọng được tiếp nhận trong vòng tay lòng xót thương vô bờ của Chúa. Ước chi chị chết thân xác tìm thấy chúng con tỉnh thức trong lới cầu nguyện và mang đầy mọi sự thiên đã làm được trong cuộc sống ngắn ngủi hay lâu dài của chúng con. Lậy Chúa, ước chi đừng có gì làm cho chúng con xa cách Chúa trên trần gian này, nhưng ước chi tất cả và mọi người nâng đỡ chúng con trong ước mong nồng cháy được an nghỉ vĩnh cửu nơi Chúa. Amen” (LM Antonio Rungi, dòng Khổ Nạn, Lờ cầu của các người đã qua đời).

Với niềm tin này nơi số phận tối cao của con người, giờ đây chúng ta hãy hướng tới Đức Mẹ, là Đấng đã khổ đau dưới Thập Giá vì thảm cảnh cái chết của Chúa Kitô và rồi đã tham dự vào niềm vui sự sống lại của Chúa. Xin Mẹ là Của Trời giúp chùng ta ngày càng hiểu hơn giá trị của lời cầu nguyện và thánh lễ cầu cho các người đã chết. Họ gần gũi chúng ta. Xin Mẹ nâng đỡ chúng ta mỗi ngày trong cuộc lữ hành trần thế và trợ giúp chúng ta đừng bao giờ đánh mất đi đích điểm cuối cùng của cuộc sống là Thiên Đàng. Và với niềm hy vọng không bao giờ gây thất vọng này chúng ta hãy tiến tới!

Tiếp đến Đức Thánh Cha đã đọc Kinh Truyền Tin và ban phép lành tòa thánh cho mọi người.

Sau Kinh Truyền Tin Đức Thánh Cha đã chào nhiều đoàn hành hương hiện diện, đặc biệt là nhòm thiện nguyện viên vùng Oppeano và Granzette chuyên làm trò hề trong các nhà thương như liệu pháp giúp các bệnh nhân mau phục hồi sức khỏe. Ngài khuyến khích họ tiếp tục công việc thiện ích này để giúp các bệnh nhân. Sau cùng Đức Thánh Cha cầu chúc mọi người một ngày Chúa Nhật tươi vui an lành và xin mọi người đừng quên cầu nguyện cho ngài.


Linh Tiến Khải

Nguồn: http://vi.radiovaticana.va/news/2014/11/02/c%C3%A1i_ch%E1%BA%BFt_kh%C3%B4ng_c%C3%B3_ti%E1%BA%BFng_n%C3%B3i_cu%E1%BB%91i_c%C3%B9ng_tr%C3%AAn_s%E1%BB%91_ph%E1%BA%ADn_c%E1%BB%A7a_con_ng%C6%B0%E1%BB%9Di_/vie-834357