Ý cầu nguyện tháng

- Ý CẦU NGUYỆN THÁNG 10:

Cầu cho sứ vụ của người giáo dân trong Giáo Hội:
Xin cho các Kitô hữu giáo dân, cách riêng là phụ nữ, khi đã lãnh nhận bí tích Thánh Tẩy, có thể tham gia nhiều hơn vào các cơ quan hữu trách của Giáo Hội.

Thứ Bảy, 27 tháng 7, 2019

Phủ doãn Tông toà Kompong-Cham, Campuchia từ nhiệm

Campuchia

Ngày 25/7, ĐTC Phanxicô đã chấp nhận đơn từ nhiệm của cha Antonysamy Susairaj, 68 tuổi, thuộc Hội thừa sai Paris, khỏi nhiệm vụ Phủ doãn Tông toà tại Kompong-Cham, Campuchia.


Hiện nay, Giáo hội Công giáo Campuchia có khoảng 21,300 tín hữu, với một đại diện Tông toà tại Phnôm Pênh do đức cha Olivier, thuộc Hội thừa sai Paris cai quản, và hai phủ doãn Tông toà, một tại Batdambang do cha Kike Alvargonzales, thuộc Dòng Tên, cai quản và một tại Kompong Cham hiện đang trống toà sau khi cha Antonysamy từ nhiệm.

Cha Antonysamy người Ấn Độ, chịu chức linh mục năm 1978, thuộc Hội thừa sai Paris và được bổ nhiệm làm Giám quản Tông toà Kompong-Cham năm 1997, và năm 2000 được bổ nhiệm làm Phủ doãn Tông toà Kompong-Cham.

Tin Mừng đến Campuchia từ giữa thế kỷ 16 do các tu sĩ dòng Đa Minh người Bồ Đào Nha rao giảng. Theo thống kê của Toà Thánh năm 1953, số tín hữu Công giáo ở Campuchia khoảng 120 nghìn, trong đó có khoảng 50 nghìn là người Việt. Tuy nhiên, đến năm 1972, sau cuộc hồi hương của người Việt, số tín hữu Công giáo chỉ còn lại khoảng 20 nghìn.

Vị Phủ doãn Tông tòa là một linh mục đứng đầu một miền truyền giáo vẫn chưa được phát triển để có thể lập thành một giáo phận, gọi là Hạt Phủ doãn Tông toà. Nếu một Hạt Phủ doãn Tông Tòa phát triển và hoàn thiện, thì sẽ được nâng lên thành Hạt đại diện Tông Tòa do một Giám mục hiệu tòa cai quản. (266_2019)

Giáo Hội Burundi mở án phong thánh cho 44 vị tử đạo vì tình huynh đệ

Giáo Hội Burundi mở án phong thánh cho 44 vị tử đạo

Giáo Hội Burundi đã chính thức mở án phong thánh cho 44 vị tử đạo của tình huynh đệ, bị giết giữa các năm 1995-1997.

Lễ nghi mở án phong thánh đã do ĐC Venant Bacinoni, GM Bururi tây nam Burundi, chủ sự hôm 21 tháng 7 vừa qua. Bốn mươi bốn vị bao gồm hai linh mục thừa sai dòng Xaverio là Ottorino Maule và Aldo Marchiol, cũng như một nữ thiện nguyện viên là Catina Gubert, bị giết năm 1995 và 40 chủng sinh chủng viện Buta bị sát hại năm 1997. Ngoài ra con có linh mục Michel Kayoga người Burundi bị ám sát năm 1972.

Cha William Chamber, thỉnh nguyện viên dòng Xaverio, và cha Gabriel Basuzwa phó thỉnh nguyện viên, cho biết các vị đã chết vì niềm tin vào Chúa Kitô và yêu thương nhau không phân biệt chủng tộc. Họ là các anh hùng đức tin vì đã sống và làm chứng cho tình yêu thương huynh đệ đại đồng, từ chối tàn sát nhau. Đây là nhóm đầu tiên. Trong tương lai sẽ có nhiều nhóm khác nữa được phong thánh.

Như đã biết trong cuộc nội chiến huynh đệ tương tàn bùng nổ tại Burundi năm 1994 giữa người Hutu và người Tutsi đã có gần 1 triệu người thuộc cả hai bộ tộc bị tàn sát (Vatican News).

Thứ Sáu, 26 tháng 7, 2019

CHÚC MỪNG LỄ CHÂN PHƯỚC ANRÊ PHÚ YÊN - Bổn mạng các Giáo lý viên tại Giáo xứ Cầu Lớn

Kết quả hình ảnh cho anre phú yên


Thầy Giảng Vị Tử Đạo Tiên Khởi của Giáo Hội Việt Nam

vppk, n. 03/2000

Ngày 5 tháng 3 năm thánh 2000, Đức Gioan Phaolô II tôn phong lên bậc chân phước một thanh niên Việt Nam, tử đạo ngày 26 tháng 7 năm 1644, và được biết dưới tên thánh Anrê, và đồng thời cũng là thầy giảng.

Ba thế kỷ rưỡi đã trôi qua kể từ ngày Thầy anh dũng dâng hiến mạng sống vì trung thành với đức tin Kitô và những lời Thầy cam kết với Chúa Kitô trong tư cách là người truyền bá Tin Mừng và giáo lý Kitô, nhưng ký ức về Thầy vẫn không suy giảm; trái lại, tấm gương của Thầy Anrê vẫn là một nguồn mạch nâng đỡ và khích lệ đích thực cho các tín hữu Công Giáo tại Việt Nam, giúp đỡ họ sống phù hợp và trung thành với đức tin, mặc dù đất nước phải trải qua nhiều thăng trầm phức tạp và khó khăn.

Thầy Giảng Anrê, gốc tỉnh Phú Yên (giáo xứ Mằng lăng, Giáo phận Quy Nhơn), là con út của một phụ nữ tên thánh là Gioanna. Tuy góa bụa nhưng bà đã giáo dục con cái với tất cả lòng tận tụy và khôn ngoan. Anrê là một cậu bé mảnh khảnh, nhưng tư chất rất thông minh, có óc phán đoán tốt và tâm hồn hướng chiều về sự thiện. Do lời năn nỉ của bà mẹ, cha Đắc Lộ, vị Linh Mục thừa sai dòng Tên nổi tiếng, đã nhận cậu Anrê vào số các môn sinh của ngài. Anrê chăm chỉ học chữ Nho và chẳng bao lâu trổi vượt các bạn đồng môn.

Anrê được lãnh nhận bí tích Rửa Tội cùng với mẹ ba năm trước khi bà qua đời, tức là năm 1641, khi Anrê được 15 tuổi. Anrê sinh năm 1625 hay 1626, không rõ ngày tháng, và lúc chịu chết năm 1644, Thày trạc độ 19 hay 20 tuổi.

Một năm sau khi chịu phép Rửa Tội, tức là năm 1642, Anrê được cha Đắc Lộ nhận vào nhóm cộng sự viên thân tín của ngài, và sau một năm huấn luyện thêm về tôn giáo và văn hóa, Anrê được gia nhập Hội Thầy Giảng gọi là “Nhà Đức Chúa Trời” mà cha Đắc Lộ đã khôn ngoan thành lập: các thành viên Nhà Đức Chúa Trời cam kết, bằng lời hứa chính thức và công khai, suốt đời phụng sự Giáo Hội trong việc giúp các linh mục và truyền bá Tin Mừng.

Lòng hăng say của Thầy Anrê sống trọn điều quyết tâm khi chịu phép Rửa đã chuẩn bị cho Thầy can đảm đương đầu với cuộc tử đạo và ngoan ngoãn đón nhận ơn tử đạo Thiên Chúa rộng ban cho Thầy.

Trước cuối tháng 7 năm 1644, quan Nghè Bộ trở lại tỉnh nơi Thầy Giảng Anrê sinh sống. Quan mang theo sắc lệnh của chúa Nguyễn cấm truyền bá đạo Kitô trong nước: vì thế quan quyết định hành động trước tiên chống lại các thầy giảng.

Cha Đắc Lộ không hề hay biết ý định này của quan, nên tới thăm quan vì xã giao, nhưng ngay sau đó cha được biết chúa Nguyễn rất giận dữ khi thấy vì cha mà có đông người dân bản xứ theo đạo Kitô. Vì thế cha phải bỏ xứ Đàng Trong để trở về Macao và không được phép dậy giáo lý cho dân nữa. Còn các tín hữu theo đạo thì bị trừng phạt rất nặng nề.

Rời dinh quan Nghè Bộ, cha Đắc Lộ đi thẳng xuống nhà tù nơi giam giữ một thầy giảng già 63 tuổi tên là Anrê, mới bị bắt hai ngày trước đó. Trong khi ấy, quan ra lệnh cho lính tới nhà cha lùng bắt một thầy giảng khác tên là Ignatio. Nhưng thầy Ignatio đã đi làm việc tông đồ. Lính chỉ tìm thấy Thày Anrê trẻ: để khỏi trở về dinh quan Bộ tay không, lính đánh đập Thầy Anrê, trói Thầy lại, rồi giải xuống thuyền đem về dinh quan trấn thủ. Chiều ngày 25 tháng 7 năm 1644, Thày đựơc dẫn tới trước mặt quan. Lính thưa với quan rằng họ không tìm thấy thầy Ignatio, nhưng đã bắt được một “thầy giảng khác giống như vậy, vì suốt cuộc hành trình, anh ta luôn nói về đạo Kitô và khuyến khích họ theo đạo”.

Nghe vậy quan tìm mọi cách làm cho Thầy Anrê “từ bỏ cái đạo điên rồ đó và bỏ lòng tin”.

“Nhưng thanh niên can trường ấy trả lời quan rằng mình là Kitô hữu, và rất sẵn sàng chịu mọi khổ hình chứ không từ bỏ đạo mình tuyên xưng: nên xin quan cứ tùy ý chuẩn bị các hình cụ, chàng vui lòng đón nhận, với xác tín rằng, vì đức tin, càng chịu khổ đau chừng nào thì càng chết vinh quang chừng ấy”.

Tức giận vì sự bất khuất của Thầy Anrê không hề sợ hãi trước những lời đe dọa, quan truyền đóng gông và giải Thầy vào ngục, cùng nơi giam giữ thầy Anrê già.

Cha Đắc Lộ và một vài thương gia Bồ Đào Nha tới thăm hai thầy: Thầy Anrê trẻ thanh thản và vui mừng vì được chịu khổ đau vì Chúa Kitô đến độ những người đến thăm Thầy bịn rịn không rời Thầy được, và nước mắt tràn bờ mi, họ xin Thầy nhớ đến họ trong lời cầu nguyện. Thấy vậy, Thầy tự nhạo cười mình và xin họ cầu nguyện cho Thầy, để Chúa ban cho Thầy ơn trung thành với Chúa cho đến chết, “dâng hiến mạng sống trong tình yêu trọn vẹn, hầu đáp trả tình yêu thương vô biên của Chúa, Đấng đã hiến mạng sống vì loài người… những lời Thày luôn lập lại cho đến khi trút hơi thở cuối cùng là: Chúng ta hãy lấy tình yêu để đáp trả tình yêu của Chúa chúng ta, hãy lấy mạng sống đáp trả mạng sống”.

Sáng hôm sau, 26 tháng 7 năm 1644, hai tín hữu Kitô cùng tên Anrê, Anrê già 63 tuổi và Anrê trẻ, cổ mang gông, bị dẫn qua các đường phố đông người qua lại nhất trong thành, băng qua chợ Kẻ Chàm, đến dinh quan trấn thủ để bị tra hỏi công khai. Quan trấn triệu tập một vài quan khác, lôi kéo họ về phía mình và tuyên án tử cho Thầy Giảng Anrê trẻ, rồi ra lệnh dẫn Thầy trở về ngục thất.

Còn thầy Anrê già thì được tha vì lý do tuổi tác nhờ lời xin của cha Đắc Lộ và các thương gia Bồ Đào Nha.

Vào khoảng 5 giờ chiều, một viên chỉ huy cùng với 30 người lính vào nhà tù, nơi vị Tôi Tớ Chúa bị giam giữ, và ra lệnh cho Thầy phải đi theo tới nơi hành quyết. Thầy Anrê cảm tạ Chúa vì giờ hiến tế đã tới, và sau khi chào mọi người hiện diện trong tù, Thầy nhanh nhẹn bước đi. Quân lính vây chặt chung quanh và dẫn Thầy Anrê đi qua các đường phố ở Kẻ Chàm, tới một cánh đồng ngoài thành. Cha Đắc Lộ, nhiều Kitô hữu Bồ Đào Nha và Việt Nam cũng như nhiều người lương đã đi theo và chứng kiến cuộc xử tử vị Tôi Tớ Chúa.

Theo thói quen tại đây, cha Đắc Lộ xin và được phép trải một tấm chiếu dưới người Thầy Anrê để hứng lấy máu Thầy, nhưng Thầy Anrê không muốn nhận điều ấy, Thầy muốn máu mình thấm xuống đất, để được giống như máu cực trọng Chúa Kitô đã đổ ra. Trong khi đó, Thầy Anrê nhắn nhủ các Kitô hữu hiện diện hãy luôn kiên vững trong đức tin, đừng buồn phiền vì cái chết của Thầy, và hãy giúp lời cầu cho Thày được trung thành tới cùng.

Cuộc hành quyết Thầy Anrê được thi hành bằng mấy nhát lao đâm thấu cạnh sườn bên trái, và sau cùng khi một người lính sắp dùng đao chém đầu, Thày lớn tiếng kêu lên “Giêsu”.

Cho tới hơi thở cuối cùng, Thầy Anrê đã chứng tỏ lòng kiên trung trong việc chấp nhận dâng hiến tế cuộc sống vì lòng tin yêu Chúa Kitô.

Lạy Chúa, xin cho các giáo lý viên và các bạn trẻ, ở bất cứ hoàn cảnh nào, dù nơi bị cấm cách, hay trong xã hội tân tiến với nhiều quyến dũ, biết noi gương Chân Phước Thầy Giảng Anrê Phú Yên, hăng say loan truyền Tin Mừng Tình Yêu và Hòa Giải và trung kiên theo Chúa Giêsu, hiến mạng sống đáp trả lại tình yêu của Ngài.

(Lời Nguyện Giáo Dân Thánh Lễ Tôn Phong Chân Phước Anrê Phú Yên tại Công Trường Thánh Phêrô, Vatican 5.3.2000)


“Gió chiều phơn phớt lạnh
Lặng cả tiếng thì thầm
Rừng người đứng trầm ngâm
Nghe lý hình than thở:
“Lạy Trời, xin tha thứ
Tôi là kẻ thừa hành
Có đổ máu người lành
Xin Trời Xanh tha tội”.
Than rồi, ông bước tới
Cố nén tiếng thương đau
Lấy ngọn giáo đâm thâu
Xuyên từ sau ra trước.
Thầy An-rê vẫn ngước
Nhìn trời mắt đăm đăm
Rồi quay lại chăm chăm
Thầy chào cha Đắc Lộ.
Lòng cha bao đau khổ
Vẫn gắng ngỏ một lời:
“Con ơi hãy nhìn trời
Giê-su Ngài đang đợi!”
Thầy nghe lời cha nói
Vội nhìn trời bao la
“Giê-su ! Ma-ri-a!”
Lời thốt ra luôn miệng.
Người lý hình tê điếng
Rút lại ngọn giáo dài
Đâm một nhát thứ hai
Rồi đâm thêm nhát nữa.
Thầy vẫn chưa gục ngã
Kiên vững cả xác hồn
Trên đôi môi như son
Vẫn kêu giòn danh Chúa.
Thấy cực hình lâu quá
Một người lính đứng gần
Tuốt ra lưỡi gươm trần
Nhắm chém ngay vào cổ.
Nhưng thầy vẫn quỳ đó
Danh Chúa thầy vẫn kêu.

Thứ Tư, 24 tháng 7, 2019

Tòa Tổng Giám mục Sài Gòn: Thư gửi Dân Chúa Tổng Giáo phận Sài Gòn 22.7.2019


Thư mục vụ dưới đây của Đức cha Giám quản Giuse và Đức cha Louis, dựa trên thư của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam, nhằm thông tin cho Dân Chúa trong Tổng giáo phận những nguy hại cho đức tin từ những sự kiện cụ thể, để hướng dẫn đời sống đức tin cho mọi thành phần Dân Chúa.


TOÀ TỔNG GIÁM MỤC
180 Nguyễn Đình Chiểu - Quận 3
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
ĐT: (84.28) 3930 3828
E.mail: tgmsaigon@gmail.com
Số: 246_190722_01

Ngày 22 tháng 07 năm 2019

Kính gởi: Quý cha, quý tu sĩ nam nữ, chủng sinh
và toàn thể anh chị em giáo dân
trong đại gia đình Tổng giáo phận

Anh chị em rất thân mến,

1. Trong «Thư gửi cộng đồng dân Chúa về một số lưu ý trong đời sống đức tin» ngày 10/06/2019 vừa qua, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam cảnh báo rằng: “Chúng tôi thấy hiện nay đang tồn tại và có chiều hướng gia tăng những hiện tượng và những cách thực hành đạo đức không xứng hợp, cụ thể là: tin dị đoan, ma thuật, bói toán; phổ biến những tư tưởng lệch lạc như Sứ điệp từ trời, Lòng Mẹ thương xót...; lạm dụng một số cử hành đạo đức của Hội Thánh như Lòng Chúa thương xót, đặc sủng chữa lành bệnh nhân, đặt tay cầu nguyện...” (số 1).

Chúng tôi nhận thấy Tổng giáo phận của chúng ta cũng đang bị ảnh hưởng bởi một số hiện tượng và thực hành đạo đức không xứng hợp, cụ thể như:

- Sự kiện “Lòng Mẹ thương xót” phổ biến những tư tưởng lệch lạc nguy hại cho đời sống đức tin do ông Tôma Maria Nguyễn Thanh Việt;

- Sự kiện “Giáo điểm Tin Mừng” với những lạm dụng trong cử hành tôn sùng Lòng Chúa Thương Xót, đặt tay cầu nguyện, chứng từ chữa lành bệnh nhân.

Vì thế, với trách nhiệm chủ chăn, dựa vào giáo huấn của Hội Thánh, chúng tôi gởi đến anh chị em thư mục vụ này nhằm hướng dẫn đời sống đức tin cho mọi thành phần dân Chúa.

2. Trước hết, xin được nhắc lại những chỉ dẫn tại các số 3 và 5 trong lá thư của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam:

- Phải tránh những thực hành mê tín dị đoan, bói toán, lợi dụng lòng tin đơn thành của người tín hữu để trục lợi;

- Không được sử dụng, phổ biến các tài liệu có nội dung nghịch với đức tin Kitô giáo;

- Phải tôn trọng kỷ luật của Hội Thánh và quy định của Đấng Bản quyền liên quan đến Phụng vụ và việc đạo đức bình dân;

- Mọi tín hữu đều được tự do cầu nguyện xin ơn chữa lành;

- Trong giáo phận, mọi cử hành xin ơn chữa lành đều phải có phép rõ ràng của Bản quyền Giáo phận;

- Không được phép đưa các nghi thức chữa lành vào Thánh lễ và các cử hành Phụng vụ. Phải tránh các hình thức mang tính cuồng loạn, chứng nhân giả, diễn kịch hoặc kích động cảm xúc;

- Việc sử dụng các phương tiện truyền thông, nhất là trực tuyến, trong các cử hành xin ơn chữa lành, phải được Giám mục giáo phận cho phép.

- Trong các cử hành xin ơn chữa lành, nếu ơn được chữa lành xảy ra cho người tham dự, thì phải giữ sự thận trọng cần thiết và tường trình sự việc cho thẩm quyền Hội Thánh.

3. Riêng trong Tổng giáo phận của chúng ta:

a) Xin quý cha cùng với anh chị em đào sâu giáo lý của Hội Thánh Công Giáo và thực hành những hướng dẫn sống đức tin do Hội đồng Giám mục và Giám mục Giáo phận phổ biến.

b) Thể hiện tâm tình thờ phượng xứng hợp:

- Tham dự tích cực và sốt sắng vào các buổi cử hành Phụng vụ (Thánh lễ, chầu Thánh Thể, các Bí tích, Phụng vụ Các giờ kinh) và thực hành lòng đạo đức bình dân (đọc kinh, lần chuỗi Mân Côi, lần chuỗi Lòng Chúa thương xót...);

- Tránh những hình thức thờ phượng không đúng với hướng dẫn của Hội Thánh, cũng không xuất phát từ lòng đạo đức chân thật, và có nguy cơ làm sai lạc bản chất của việc thờ phượng như: lạm dụng việc rảy nước thánh; lạm dụng việc cầu nguyện đặt tay nhằm mục đích chữa lành bệnh tật, trừ tà…

c) Theo gương Chúa Giêsu, chúng ta được mời gọi:

- Thi hành Thánh Ý Chúa qua việc chu toàn bổn phận (đối với gia đình, cộng đoàn, xã hội) và đón nhận những biến cố của đời sống thường ngày (vui, buồn, khó khăn, bệnh tật, đau khổ…).

- Sống điều răn Chúa dạy qua:

+ việc mến Chúa: được biểu lộ trong những cử hành Phụng vụ và thực hành lòng đạo đức bình dân, với ý thức về sự khác biệt và trổi vượt của Phụng vụ;

+ việc yêu người: tích cực xây dựng cộng đoàn yêu thương hợp nhất trong gia đình, giáo xứ, dòng tu; đồng thời mở ra cho thế giới qua các hoạt động từ thiện bác ái.

Với những lưu ý trên, trong tinh thần yêu thương, chúng tôi mong rằng mọi sinh hoạt cá nhân hay cộng đoàn tại Tổng giáo phận của chúng ta luôn diễn tả một đức tin tinh tuyền, sống động; đồng thời góp phần loan báo Tin Mừng và xây dựng sự hợp nhất trong toàn giáo phận.

Xin Thiên Chúa chúc lành cho ước nguyện và những cố gắng của tất cả chúng ta.

(đã ký và đóng dấu)

+ Giuse Đỗ Mạnh Hùng
Giám quản Tông tòa

+ Louis Nguyễn Anh Tuấn
Giám mục Phụ tá

Ghi chú: Ngoài việc niêm yết tại nhà thờ, đề nghị quý cha đọc Thư mục vụ này trong tất cả các Thánh lễ Chúa nhật 17 Thường niên, ngày 28/07/2019.


Thứ Hai, 22 tháng 7, 2019

Nhà thờ trăm tuổi của ông ngoại Nam Phương hoàng hậu ở Sài Gòn


Nhà thờ Huyện Sỹ do ông Lê Phát Đạt, một trong những người giàu nhất Sài Gòn cuối thế kỷ 19 xây dựng, bên trong đặt mộ của ông.

Nhà thờ Huyện Sỹ (góc đường Tôn Thất Tùng - Nguyễn Trãi, quận 1) do ông Lê Phát Đạt hiến 1/7 tài sản của mình xây dựng. Nhà thờ được khởi công năm 1902, ba năm sau khánh thành.

Ông Lê Phát Đạt tức Huyện Sỹ (1841 - 1900) là một trong bốn người giàu có nhất của Sài Gòn và cả Nam Kỳ thời điểm ấy. Ông còn là ông ngoại Nam Phương Hoàng hậu, vợ vua Bảo Đại - vị hoàng đế cuối cùng của Việt Nam.


Nhà thờ xây dựng theo lối kiến trúc Gothic. Trên nóc là tháp chuông chính diện cao 57 m, bên trong ngọn tháp có bốn quả chuông được đặt đúc tại Pháp năm 1905.

Vật liệu sử dụng chủ yếu là đá hoa cương Biên Hòa, để ốp mặt tiền và các cột chính điện. Mặt ngoài nhà thờ sơn màu hồng nhạt, trên mỗi nóc đều có hình tượng cây thánh giá.


Bên trong nhà thờ có diện tích hơn 700 m2, gồm bốn gian được xây theo kết cấu vòm chịu lực. Ở vị trí trung tâm là cung thánh, bài trí tượng chúa dang tay.


Tường bên trong có nhiều cửa sổ dạng vòm đỉnh nhọn, các cột ốp đá hoa cương. Mỗi cửa sổ được trang trí bằng lớp kính màu, hình ảnh thường thấy ở các nhà thờ.


Những kính nhiều màu sắc được mua từ Italy. Mỗi lớp kính thể hiện hình ảnh Chúa, các câu chuyện trong Kinh Thánh...


Bên trong các gian, tường đều được bài trí nhiều tượng thánh đủ kích cỡ.


Năm 1920, sau khi vợ ông Huyện Sỹ là bà Huỳnh Thị Tài mất, người ta đưa hai ông bà chôn ở gian trái phía sau cung thánh nhà thờ.

Phần mộ ông Huyện Sỹ làm bằng đá cẩm thạch. Trên mộ là tượng toàn thân ông nằm kê đầu trên hai chiếc gối, mình mặc áo dài gấm, đầu chít khăn đóng, hai tay đan vào nhau trước ngực.


Cạnh phần mộ là bức tượng bán thân ông Huyện Sỹ. Trong nhà mồ còn có tượng bán thân của vợ và các con ông.


Đối diện là phần mộ và tượng của vợ ông Huyện Sỹ cũng được làm bằng đá cẩm thạch.


Nhà nhờ thu hút nhiều người tham quan mỗi ngày. Tuy nhiên du khách muốn vào trong thánh đường phải đợi đến gần giờ lễ khi nhà thờ mở cửa chính.

Trong khuôn viên nhiều cây xanh, có đàn chim bồ câu hàng trăm con thường đậu ở sân kiếm ăn.

Quỳnh Trần
(vnexpress.net 20.07.2019)

Tại sao ngày nay cầu nguyện lại quan trọng đến thế


Đức tin là ơn Thiên Chúa ban, và con người đón nhận trong tự do. Chúng ta biết rằng, Thiên Chúa tiếp tục nói với con người, Đấng Phục Sinh luôn luôn hiện diện trong lịch sử và trong Bí tích Thánh Thể, và Chúa Thánh Thần luôn luôn lao tác mọi nơi trên thế giới và trong cõi lòng mỗi người. Tuy nhiên, thế giới ngày nay có rất nhiều thách đố cũ và mới.

1. Các thách đố cũ trong khuôn mặt mới

Nếu bạn từng đọc hoặc sẽ đọc một chút về lịch sử Giáo Hội, đặc biệt là 7 Công Đồng đầu tiên, bạn sẽ thấy được sự khó khăn đến mức nào, để có thể diễn tả đức tin trong một ngôn ngữ cụ thể. Ví dụ, đức tin về Một Thiên Chúa Ba Ngôi, “ba trong một”. Bạn có thể đọc một chương trong cuốn sách của Đức Benedicto XVI[1] (đã được dịch sang tiếng Việt), để có thể hình dung ra độ phức tạp của vấn đề. Ví dụ, sự khó khăn trong việc định hình ngôn ngữ, ngay cả việc thổi vào ngôn ngữ những nội hàm mới, và cần phải tạo ra thuật ngữ mới: những từ ngữ “ngôi vị” và “tương quan”, được lấy từ triết học nhưng đã đổi nghĩa để mặc lấy ý nghĩa mới. Khi tìm hiểu, bạn sẽ đụng độ với các nhà triết học, đụng độ với lịch sử, rồi các nhà thần học, và gần đây hơn là các nhà khoa học. Đức tin không bao giờ ở một mình và đứng một mình. Khi đụng đến chiều sâu của thực tại, tức khắc các chuyên ngành khác nhau đều xích lại gần nhau, phải gặp nhau, phải nói với nhau, nhưng khổ nỗi, là thường là rất khó đồng ý với nhau. Người ta không thể dễ dàng nói được rằng: tôi tin, thế là đủ. Người ta cũng không thể nói mạnh rằng: cứ có lý là được, hoặc cứ có chứng cớ là được, hoặc nữa, lịch sử là đủ cho tất cả. Tuy nhiên, trong một rừng các chuyên ngành ấy, ở đây chúng ta chỉ thử phác họa thử thách mà đức tin gặp phải trong ba lãnh vực: ngôn ngữ, cộng đồng, triết học.

a. Về ngôn ngữ

Đức tin không chỉ là chuyện diễn tả một khái niệm cổ xưa trong một loại ngôn ngữ hợp thời. Nếu có ngôn từ, mà không có ý nghĩa, thì đó chỉ là những từ ngữ trống rỗng. Nếu có lời hay ý đẹp, mà không đụng chạm đến con tim, không liên quan đến cuộc sống, thì có lẽ ngôn ngữ ấy chỉ tựa như trò chơi, như cách chơi chữ cho vui. Còn đức tin, đức tin là kinh nghiệm cụ thể trong một mối tương quan sống động với Đấng là Thiên Chúa ở giữa dân của Ngài.

Tuy nhiên, hiện tượng ngôn ngữ ngày nay có thách đố mới. Trong quá khứ, hầu hết mọi người đều đọc chung một số cuốn sách, một số nguồn tài liệu. Phần lớn mọi người cùng đọc chung một số tờ báo, cùng nghe chung một số chương trình phát thanh, cùng xem chung một số chương trình tivi… Ngày nay, có mạng internet, có máy tính, điện thoại thông minh, công nghệ thông tin, AI… Trong hệ thống mới này, mỗi người có thể tiếp cận các nguồn thông tin kiến thức rất khác nhau. Mỗi người mỗi cách.

Điểm tích cực là mỗi người có thể tiếp cận thông tin nhiều chiều và đa dạng, với một thái độ tìm kiếm tìm hiểu rất chủ động và tích cực. Tuy nhiên, điểm tiêu cực là, mỗi người lại tập trung quá vào điều mình thích và vào thế giới quá cá nhân riêng tư. Do đó, không còn thời gian và không gian để biết người khác nữa. Như thế, dần dần từng bước, chúng ta đánh mất không gian chung, đánh mất ngôn ngữ chung, đánh mất cảm thức chung, cảm nhận chung, lối hiểu chung. Hệ quả dễ thấy là, người ta chỉ cùng nhau hiểu một số lĩnh vực chung như công nghệ, kinh tế, chính trị… Trong bối cảnh này, rất khó để có được ngôn ngữ chung và có khó được ngôn ngữ ở chiều sâu, trong khi đây mới chính là điều cần cho ngôn ngữ của đức tin. Bởi vì, nếu chúng ta chỉ nhìn vào bề mặt của thực tại, rất dễ dàng để ta đánh đồng đức tin vào những gì ta thích hoặc ta nghĩ. Chúng ta có thể thấy thực tế là, ngôn ngữ đức tin dường như trở nên già cỗi và xa lạ trong thế giới đương đại.

b. Về tính cộng đồng

Trong Cựu Ước, Thiên Chúa kêu gọi Abraham để ông trở nên tổ phụ của dòng tộc. Sau đó, Chúa kêu gọi Môsê để ông dẫn dắt dân Chúa. Trong Tân Ước, Chúa Giêsu kêu gọi các môn đệ để thiết lập Hội Thánh của Người. Như thế, đức tin không bao giờ là đức tin của một cá nhân, nhưng luôn là đức tin của một nhóm, một cộng đồng. Hơn nữa, mục đích của Thiên Chúa là cứu độ tất cả, không loại trừ một ai, không bỏ sót người nào, như được nói đến trong dụ ngôn con chiên lạc (Lc 15,1-7).

Không thể có cộng đồng xã hội và Giáo Hội, nếu không có gia đình. Bởi vì, trong bối cảnh toàn cầu về lao động, về người nhập cư, về công nghệ, trong bối cảnh chuyển biến nhanh chóng ở mọi quốc gia, thì đời sống gia đình hầu như thay đổi và biến động rất lớn. Không còn dễ để có được gia đình với cha mẹ và con cái cùng sống chung dưới một mái nhà. Không còn dễ cảnh chung chia cuộc sống trong một gia đình. Tỷ lệ ly hôn nhiều nơi vượt quá 50%… Trong bối cảnh phức tạp như thế, thật vô cùng khó để hạt giống đức tin có thể phát triển.

Tuy nhiên, nói như thế, chẳng lẽ đức tin lại có thể dễ phát triển trong môi trường dễ và đơn giản? Không phải thế, vì chẳng khi nào là dễ cả để sống như là một Kitô hữu, cả thời xưa lẫn thời nay[2]. Nhưng đức tin như hạt giống, cần có đất đón nhận, thì hạt giống mới có thể sống và trổ sinh được. Một gia đình lành mạnh thực sự là mảnh đất vô cùng tốt cho đức tin. Đương nhiên, chúng ta không chỉ cần gia đình, mà còn những cộng đoàn lớn hơn, ví như giáo xứ, làng xóm, giáo phận, thành phố, quốc gia…

c. Về triết học đương đại

Cái khó khăn đặc thù trong triết học thời nay là triết học chẳng có gì là đặc thù. Không có những trường phái đặc thù như trong quá khứ. Nói như thế, không phải là ta tiếc nuối quá khứ, hoặc lấy quá khứ làm điểm quy chiếu cho hiện tại. Người ta nói quá nhiều đến từ ngữ “khủng hoảng”: khủng hoảng môi trường, khủng hoảng kinh tế, khủng hoảng di dân, khủng hoảng tị nạn, khủng hoảng gia đình, khủng hoảng môi trường lao động, đánh mất cội rễ văn hóa, căn bệnh dửng dưng vô cảm, nỗi cô đơn của thời đại, chiến tranh… Nếu gắn liền với tôn giáo, người ta nói tới sự tục hóa, hoặc dửng dưng về tôn giáo, không còn tha thiết gì đến đức tin.

Khi triết học không có một khuôn mặt cụ thể nào đó như trong quá khứ, thật là khó để biết được, đâu là trường phái mà đức tin cần đối thoại cộng tác. Do đó, có lẽ trong thế giới hiện tại, đức tin trở nên như ánh lửa trong đêm, hoặc như một biển chỉ đường, hoặc như một tia hy vọng trong cuộc sống!

2. Thách thức mới

Giữa nhiều thách thức khác nhau, có một thách thức mới trong thời chúng ta, đó là việc làm cho tôn giáo trở nên một chuyện riêng tư cá nhân và ở những nơi riêng tư mà thôi, chứ không còn hiện diện trong cộng đồng chung nữa. Một cách mạnh mẽ hơn, người ta không còn muốn dành chỗ cho những gì là thánh thiêng nữa, người ta muốn từ chối tất cả những gì là thánh thiêng. Triết gia Gabriel Marcel rất có lý khi phân biệt giữa vấn đề và mầu nhiệm. [3] Ông khẳng định rằng, thế giới bị phân mảnh giữa “một mặt là đầy dẫy những vấn đề, và mặt khác là không muốn dành chỗ cho huyền nhiệm”. Sự loại trừ huyền nhiệm là triệu chứng của xã hội hiện đại, có liên quan đến đặc tính kỹ thuật của thời đại. Người ta chỉ còn quan tâm đến đặc tính kỹ thuật, tức là vấn đề và giải pháp cho vấn đề. Việc phân biệt giữa vấn đề và huyền nhiệm, phụ thuộc vào việc hiểu khái niệm về sự tham dự:

Một vấn đề là điều mà khi ta gặp phải, thì nó hoàn toàn ở trước mặt ta, ta tìm giải pháp và có thể giải quyết vấn đề ấy. Nhưng một huyền nhiệm mà ta gặp phải, ta phải dấn thân mình vào đó, ta phải nhìn huyền nhiệm ấy như một chân trời phân biệt giữa ta và huyền nhiệm, nhưng khi đã dấn thân vào huyền nhiệm, thì chân trời ấy lại mở rộng thêm, và ta hiểu hơn những gì về ý nghĩa và giá trị của huyền nhiệm mà lúc đầu ta hiểu. [4]

Do đó, đứng trước vấn đề, ta có thể tìm giải pháp tương xứng để giải quyết. Nhưng đứng trước huyền nhiệm, ta không thể hiểu được huyền nhiệm nếu ta không tham dự vào huyền nhiệm ấy. Khi ta đã tham dự vào huyền nhiệm, tôi có thể biết hơn và thấy hơn về huyền nhiệm, và huyền nhiệm lại trở nên lớn hơn mà tôi nghĩ lúc đầu. Do đó, chẳng bao giờ ta có thể hiểu một huyền nhiệm theo kiểu hiểu một vấn đề. Thế nhưng, ngày nay, có cám dỗ rất lớn trong việc giản lược tất cả thành những vấn đề để nhìn và phân tích và tìm lối giải quyết.

Khi thấy các môn đệ không thể đuổi thần câm điếc ra khỏi đứa trẻ, cha đứa trẻ thưa với Chúa Giêsu: “Nếu Thầy có thể làm gì đó, xin thương xót và cứu giúp chúng tôi!”. Chúa Giêsu nói với ông: “Tại sao lại nói, nếu có thể…? Tất cả đều có thể đối với kẻ tin!” Ngay lúc ấy, cha đứa trẻ thốt lên: “Lạy Thầy, tôi tin, nhưng xin giúp đức tin yếu đuối của tôi” [5]. Amen.

Tứ Quyết SJ

[1] Joseph Ratzinger, Introduzione al Cristianesimo, (Queriniana 2005), p. 152-166. (Bản dịch tiếng Việt: Đức Tin Kitô giáo hôm qua và hôm nay, Phần I, Chương 5, file Pdf có sẵn trên internet).

[2] Joseph Ratzinger, Introduzione al Cristianesimo, (Queriniana 2005), p. 155.

[3] Treanor, Brian and Sweetman, Brendan, “Gabriel (-Honoré) Marcel”, The Stanford Encyclopedia of Philosophy (Winter 2016 Edition), Edward N. Zalta (ed.), “6. Problem and Mystery”, 
<https://plato.stanford.edu/archives/win2016/entries/marcel/>.

[4] Marcel 1949, Being and Having, translated by Katharine Farrer, Westminster, UK: Dacre Press, p. 117.

[5] Macco 9,14-29. Về đến nhà, các môn đệ hỏi riêng Chúa Giêsu rằng: “Tại sao chúng con không thể đuổi được tên thần ô uế ấy?” Chúa nói với họ: “Loại quỷ đó chỉ có thể đuổi được bằng cầu nguyện mà thôi”.

29 đài phát thanh Công giáo ở Philippines được gia hạn phép

PHILIPPINES-UNREST-BOMB-CHURCH
Giám mục Philippines  (AFP or licensors)

29 đài phát thanh Công giáo ở Philippines được phép phát sóng thêm 25 năm sau khi Tổng thống Rodrigo Duterte không ký dự luật chặn việc gia hạn giấy phép.

Hội đồng Giám mục Philippines đã gia hạn giấy phép để các đài phát thanh trong nước được hoạt động thêm 25 năm nữa dù không có chữ ký của Tổng thống Duterte, người đã nhiều lần đe dọa đóng cửa các phương tiện truyền thông chỉ trích chính quyền của ông.

Một dự luật nhằm gia hạn giấy phép đã trở thành luật vào ngày 22/4 sau khi tổng thống Duterte không hành động về vấn đề này. Theo hiến pháp năm 1987, Tổng thống có 30 ngày để ký chấp thuận một biện pháp trở thành luật hoặc phủ quyết sau khi nhận được nó từ Quốc hội.

Giấy phép có thời hạn 25 năm được cấp cho các Giám mục đã hết hạn vào năm 2017 nhưng chính phủ không cấm việc phát sóng của 29 đài phát thanh. Đài phát thanh Veritas và TV Maria do Tổng giáo phận Manila điều hành có giấy phép riêng và đã được gia hạn trong chính quyền trước đây.

Đức cha Mylo Hubert Vergara, Chủ tịch Ủy ban Giám mục Truyền thông Xã hội của Hội đồng Giám mục, đã cho biết sự chậm trễ này không liên quan gì đến mối quan hệ căng thẳng giữa Giáo hội và Duterte. Thay vào đó, lý do là do một số dự luật đang chờ xử lý với sự tham dự của Quốc hội.